|
Hàng năm cứ
đến ngày 8 tháng 3 chính quyền cộng sản phát động rầm rộ cả nước chiến dịch
nâng cao vai trò của người phụ nữ. Cứ như thế, gần 30 năm qua kể từ sau
30-4-1975, nội dung của các chiến dịch này trở thành rỗng nghĩa, không ai
còn chú ý. Mỗi ngày không biết bao nhiêu vụ bạo hành và buôn bán phụ nữ diễn
ra ngay giữa đường phố. Người phụ nữ Việt Nam vẫn tiếp tục chịu đựng những
bất công do nền văn hóa cổ lỗ và một xã hội không còn đạo đức gây ra, nhất
là ở thôn quê.
Cũng nên
biết phụ nữ Việt Nam chiếm 51% dân số (41 triệu người), hơn 2/3 sinh sống ở
nông thôn. Do làm viêc nặng nhọc, phần lớn phụ nữ ở nông thôn bị tiêu hao
sức lực, không còn thời gian để nghỉ ngơi, hưởng thụ cuộc sống, làm đẹp cho
mình, nâng cao kiến thức, do đó dẫn đến thua thiệt. Sự thua thiệt này là đã
tiền đề của những bạo hành và phong trào gái quê ra tỉnh làm gái mại dâm hay
lấy chồng ngoại quốc để đổi đời.
Nạn
nhân của những bạo hành
Theo
thống kê ủy ban dân số về các vấn đề xã hội năm 2003, 30% phụ nữ trên toàn
quốc bị bạo hành, lạm dụng và cưỡng bức dưới nhiều hình thức, phần lớn do
những người quen biết, chồng và người thân trong gia đình. Trong đó 15% các
bà vợ bị chồng đánh đập, gần 80% bị chồng mắng chửi, hơn 70% bị chồng bỏ
mặc, gần 10% bị chồng cấm đoán các quan hệ xã hội, gần 20% bị chồng cưỡng ép
quan hệ tình dục.
Trong
thực tế không một phụ nữ nào thoát khỏi bạo hành, nó vượt mọi lằn ranh văn
hóa, địa vị xã hội, trình độ giáo dục, thu nhập và tuổi tác. Bình dân thì
chửi bới, đấm đá gây thương tích trên thể xác ; trí thức thì dùng ngôn ngữ,
thái độ khinh bỉ để hành hạ tinh thần.
Bạo hành
có nhiều hình thức : trong gia đình người phụ nữ bị đánh đập, cưỡng bức tình
dục, hà hiếp tinh thần, đe dọa tài chánh, hạ nhục công khai ; ngoài xã hội
thì bị cưỡng bức mại dâm, hãm hiếp tập thể, quấy rối tình dục, xâm phạm tiết
trinh, nạn nhân của những vụ buôn bán phụ nữ.
Vì chưa
có bộ luật chống bạo hành gia đình, khi xảy ra bạo hành nhiều người chung
quanh, kể cả cảnh sát khu vực, cán bộ thực thi pháp luật coi đó là chuyện cá
nhân, nội bộ của mỗi gia đình.
Theo số
liệu của Tòa án Nhân dân Hà Nội, 70-80% phụ nữ đứng đơn xin ly dị hay ly hôn
do bạo hành. Tại Sài Gòn, năm 1997-1998 có từ 65 đến 70% vụ ly hôn do bạo
hành, năm 2001-2002 con số này lên đến 85-90%.
Để thoát
cảnh bạo hành và kiếp sống nghèo khó, rất nhiều thiếu nữ trong các khu lao động
và ở thôn quê chấp nhận làm bất cứ nghề gì, kể cả lấy chồng ngoại quốc, hay
bán thân, để được sống.
Lấy
chồng người nước ngoài
Lập gia
đình là một nghĩa cử thiêng liêng của loài người, một quyết định chia sẻ một
tương lai chung, do tình yêu mang lại. Nhưng tại Việt Nam từ 1997 trở lại đây,
một phong trào lấy chồng Đài Loan đang rất thịnh hành. Đối với một số đông
phụ nữ xuất thân từ các khu lao động và đồng bằng sông Cửu Long, lấy chồng
người nước ngoài là một lối thoát khỏi cảnh nghèo khó.
Số liệu
của Sở Tư Pháp thành phố Hồ Chí Minh từ 1993 đến tháng 6-2003 cho thấy :
- Lý do
của 90% thiếu nữ Việt Nam lập gia đình với người Đài Loan là (để được đùm
bọc về) kinh tế. Chỉ có từ 15 đến 18% trường hợp kết hôn tan vỡ.
- 85% phụ
nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan qua các tổ chức môi giới hôn nhân.
- Thời
gian trung bình một cô dâu Việt Nam gặp chú rể Đài Loan đến khi cưới là một
tuần (67% trường hợp), lâu nhất là ba tháng.
- Tuổi
của các cô dâu Việt Nam rất trẻ : 14,59% dưới 20 tuổi ; 71,27% từ 20 đến 30
tuổi.
- Về
trình độ học vấn : 40% cô dâu Việt Nam chỉ mới học hết lớp 1 ; 8% mù chữ ;
số còn học hết cấp II và rất ít học hết cấp III.
- Phần
lớn các chú rể Đài Loan là dân lao động ở nông thôn, thu nhập thấp, trình độ
học vấn không cao, ngoại ngữ kém, mù tiếng Việt, một số có tuổi cao và tật
nguyền (bại xụi, kinh phong và tâm thần). Tất cả đều không đủ khả năng cưới
vợ Đài Loan hay các nước khác.
- Lý do
để đàn ông Đài Loan kết hôn với phụ nữ Việt Nam cũng rất kinh tế : chi phí
cưới một cô vợ Việt Nam thấp nhất so với các nước trong khu vực.
- Tuổi
của các chú rể Đài Loan rất cao : 14,36% dưới 30 tuổi, 83,28% từ 30 đến 60
tuổi và 2,36% trên 60 tuổi.
Báo chí
trong nước (Lao Động, Tuổi Trẻ, Thanh Niên) cho biết thêm hiện có khoảng
80.000 cô dâu Việt Nam tại Đài Loan, trong số này hơn 45.000 lấy chồng chính
thức, số còn lại lấy chồng "chui" (mại dâm) bằng đường du lịch hoặc nhập cảnh
lậu.
Đường dây
mai mối rất là qui mô, mang tính mafia : các bà mai về miền Tây săn lùng gái
quê, thuyết phục gia đình đưa lên Sài Gòn ; nhóm chủ chứa đưa các cô gái về
các khách sạn nhỏ để "làm đẹp" và chờ đợi ; nhóm thứ ba chuyên lo các thủ
tục giấy tờ hôn thú ; nhóm thứ tư cấu kết với những người môi giới bên Đài
Loan tìm các chú rể.
Giá chú
rể bỏ ra để "mua" một cô dâu Việt Nam từ 5.000 đến 10.000 USD, nhưng sau khi
trừ chi phí làm thủ tục với các cơ quan chính quyền (khoảng 35%) và qua tất
cả các khâu trung gian vừa kể (45%), gia đình của mỗi cô chỉ nhận được khoảng
10% số tiền đó, từ 5 đến 10 triệu đồng (300 đến 400 USD), gọi là tiền cưới,
tiền theo chồng.
Cũng nên
biết năm 1997 một gia đình có con gái gả cho đàn ông Đài Loan được tặng khoảng
3.000 USD, cuối năm 2003 chỉ còn từ 100 đến 200 USD.
Lễ cưới
thường được tổ chức tập thể, trung bình từ 10 đến 15 cặp, gia đình nhà gái
chỉ được mời từ 10 đến 20 người, tức hai bàn với 4-5 món ăn rẻ tiền, chắc
bụng. Một con heo quay, một ổ bánh cưới và mâm quả được dùng làm cảnh để mọi
người xếp hàng chụp hình.
Số phụ nữ
Việt Nam muốn lấy chồng Đài Loan rất đông, nhưng chỉ từ 5 đến 10% được "trúng
tuyển". Theo lời kể của một cán bộ công an, khu vực chung cư Lãnh Binh Thăng,
Phường 8, Quận 11 : "Chỉ cần một vài người đàn ông Đài Loan xuất hiện
trong một khách sạn nhỏ cạnh công viên gần đó, liền có từ 200 đến 300 cô gái
cùng đội quân mối lái chen nhau ra mắt" (Lao Động, ngày 15-6-2003).
Thật ra
đằng sau những vụ mua bán cô dâu này là một hình thức mại dâm trá hình. Một
số đàn ông Đài Loan sau khi thỏa mãn dục tính với cô dâu trong những ngày
sống chung tại Việt Nam, đã về lại nước rồi biến mất. Lâm vào hoàn cảnh đó
nhiều cô không dám về lại quê nhà, phải sống lang thang rồi sa vào các động
mại dâm.
Bị đưa vào
chốn lầu xanh
Đối với
chính quyền cộng sản, mại dâm là một tệ nạn xã hội nhưng đối với những cán
bộ thừa hành cấp thấp thể xác của những phụ nữ này là một nguồn lợi tức.
Nghề mại dâm sở dĩ tồn tại được và phát triển mạnh nhờ có sự bao che của các
cấp chính quyền địa phương. Hiện nay trong nước có khoảng 500.000 chị em phụ
nữ hành nghề mại dâm, hơn phân nửa hoạt động tại Sài Gòn và Hà Nội.
Lợi dụng
sự nghèo khó của thiếu nữ Việt Nam, nhiều đường dây buôn bán phụ nữ ra nước
ngoài đang rất thịnh hành. Theo điều tra của Cục cảnh sát hình sự, hiện có
khoảng 10.000 phụ nữ và bé gái Việt Nam được các tổ chức buôn người bán sang
Trung Quốc. Trong số này chỉ 4% làm vợ đàn ông Trung Quốc, số còn lại hành
nghề mại dâm. Giá bán một phụ nữ Việt Nam cho người Trung Quốc từ 3 đến 5
triệu đồng (khoảng 200 đến 450 USD).
Số phụ nữ
và bé gái Việt Nam được đưa sang Campuchia làm việc trong các động mại dâm
rất đông, không dưới 100.000. Thêm vào đó, do không cần visa nhập cảnh,
nhiều thiếu nữ trẻ đẹp khác đã được những đường dây buôn người tuyển mộ đưa
sang Thái Lan, Singapore và Mã Lai hành nghề mại dâm qua ngã du lịch.
Vì sao
nông nỗi ?
Sau gần
30 năm thống nhất đất nước, chính quyền cộng sản đã không làm gì để nâng cao
mức sống người dân. Những tệ nạn ngày hôm nay là kết quả của sự đào nhiệm
chính quyền. Không thể đổ lỗi cho chiến tranh hay âm mưu của các thế lực thù
địch, những phụ nữ đáng thương này là những đứa con được sinh ra và lớn lên
trong lòng chế độ. Không tìm được công ăn việc làm, lối thoát duy nhất của
những thiếu nữ nghèo hèn và mộc mạc này là đem bán thân. Họ là nạn nhân của
chế độ. Chính quyền cộng sản phải chịu trách nhiệm về sự tha hóa này.
Nguyễn Văn
Huy |