[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  
Xuất khẩu lao động:

Giải quyết nạn thất nghiệp hay buôn bán nô lệ ?

Nguyễn Văn Huy

     Xuất khẩu lao động hiện nay là một chính sách lớn của đảng và nhà nước Việt Nam. Từ tháng 9 đến cuối năm 2000, Việt Nam đã xuất khẩu được 46.468 lao động ra nước ngoài. Năm 2001, số lao động xuất khẩu giảm xuống còn 36.168 người ; năm 2002 tăng lên 46.122 người và đến cuối năm 2003 thì đạt con số kỷ lục 75.000 người, vượt chỉ tiêu kế hoạch 134% (dự trù là 60.000 người).

     Hồ hởi trước thành quả này, chính quyền cộng sản giữ nguyên chỉ tiêu xuất khẩu lao động ra nước ngoài trong năm 2004 : 60.000 người nhưng trong thực tế có thể sẽ lên tới 100.000 người. Hà Nội cũng đang hoàn tất kế hoạch tuyển mộ và đào tạo hơn 150.000 người, dụ trù sẽ đưa sang nước ngoài lao động trong năm 2005.

     Thấy gì qua hiện tượng này ?

 Một nguồn lợi mới cho đảng và nhà nước ?

      Một sự kiện bất hạnh cho Việt Nam là kể từ 1999 đến nay không một tập đoàn tư bản lớn nước ngoài nào muốn vào đầu tư nữa. Lý do đưa ra là hệ thống hạ tầng cơ sở của Việt Nam chưa phát triển, trình độ kỹ thuật và tay nghề của công nhân Việt Nam còn quá kém, luật pháp không rõ ràng và được giải thích hay áp dụng một cách tùy tiện. Thêm vào đó là tệ quan liêu bàn giấy làm mất thì giờ và gây phiền phức cho những nhà đầu tư, nạn tham nhũng hoành hành mạnh ở khắp mọi nơi và trong mọi cấp...

     Vì các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đều thất bại, để cứu vãn tình thế, chính quyền cộng sản đã vận dụng mọi sáng kiến để "phát huy nội lực", kêu gọi người trong nước xuất vốn đầu tư. Hà Nội cũng mời mọc cộng đồng người Việt hải ngoại về nước đầu tư. Nhưng kết quả đã không như  mong muốn. Ở thành thị, người có tiền trong nước chỉ thành lập những công ty nhỏ có tính gia đình và tập trung vào dịch vụ ăn uống và giải trí. Thành phần Việt kiều về nước cũng chỉ thành lập những công ty nhỏ và đầu tư chủ yếu vào một số ngành như tin học, truyền thông và áo quần thời trang. Nạn thất nghiệp trong nước chính vì thế đã không những không suy giảm mà còn có phần tăng lên, mỗi năm có khoảng một triệu học sinh tốt nghiệp cấp 3 gia nhập thị trường lao động.

     Nhận thấy sự yếu kém của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc điều hành quốc gia, thay vì bỏ vốn vào Việt Nam đầu tư để sử dụng trực tiếp nguồn nhân công rẻ tiền, những tập đoàn tư bản lớn trong vùng chủ trương tuyển dụng nhân công Việt Nam đưa sang làm việc tại những quốc gia mà họ đã có cơ sở. Sự kiện này đáng lẽ phải là một bất hạnh cho đất nước nhưng đối với đảng cộng sản, đó là một cái may vì vừa giúp giải quyết được nạn thất nghiệp vừa có thêm lợi tức. Chưa bao giờ người ta thấy toàn bộ các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước hăng say tình nguyện làm trung gian tuyển mộ và xuất khẩu lao động Việt Nam sang nước ngoài để ăn hoa hồng và bòn rút tiền của những thành phần nghèo khổ nông thôn.

     Đúng, xuất khẩu lao động là một nguồn lợi mới cho những người sinh sống trong guồng máy của chế độ !

     Cũng nên biết trung bình mỗi đầu người xuất khẩu, nhà nước thu vào 2.000 USD/năm. Năm 2002 chính quyền cộng sản đã thu được 1,3 tỷ USD do xuất khẩu lao động mang lại, năm 2003 số tiền đó tăng lên gần 2 tỷ. Đó là chưa kể những số tiền dành dụm mà những lao động xuất khẩu này gởi về cho thân nhân trong nước : năm 2002 số tiền đã gởi về 1,5 tỷ, năm 2003  tăng lên 3,5 tỷ USD. Đây là những nguồn ngoại tệ độc lập với số tiền do Việt kiều từ các quốc gia phương Tây và Đông Âu gởi về hàng năm.

     Về mặt chính quyền, cơ quan chịu trách nhiệm xuất khẩu lao động là Bộ lao động, thương binh và xã hội. Bộ này đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của một phó thủ tướng, được thành lập riêng để chuyên lo dịch vụ xuất khẩu lao động. Cơ quan quản lý lao động xuất khẩu là "Cục quản lý lao động với nước ngoài", trực thuộc bộ lao động, thương binh và xã hội. Cục này có toàn quyền đối với các cơ quan và doanh nghiệp có liên hệ gần xa với người lao động xuất khẩu, kể cả các tòa đại sứ nơi có người lao động xuất khẩu làm việc.

     Nghiệp vụ xuất khẩu lao động của quân đội cũng rất quan trọng nhưng không nằm trong đường dây này, nó trực thuộc quân ủy trung ương đảng và bộ quốc phòng.

     Khi nghị định số 152-/999/NĐ-CP, ban hành ngày 20-9-1999, chính thức cho phép xuất khẩu lao động ra nước ngoài, các ban ngành trực thuộc các bộ, các cấp chính quyền địa phương, các hội đoàn thanh niên và phụ nữ thi nhau thành lập doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động để kiếm lời, không phải với những đối tác nước ngoài mà là trên đầu những người bị đưa đi lao động xuất khẩu.

     Từ sau ngày đó, chưa bao giờ tại Việt Nam xảy ra một phong trào qui mô săn lùng người thất nghiệp để đưa đi xuất khẩu lao động như hiện nay. Toàn bộ hệ thống tuyên truyền và tài chánh của chính quyền được huy động để vận động báo chí và các cơ quan tín dụng khuyến khích dân chúng Việt Nam vay tiền để làm thủ tục đi lao động nước ngoài. Công đoàn nhà nước trên nguyên tắc là cơ quan bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng đang vận động xin thành lập những công ty xuất khẩu lao động để kiếm lời. Cho đến nay trên toàn quốc đã có 154 doanh nghiệp nhà nước chuyên làm dịch vụ xuất khẩu lao động, với gần một ngàn chi nhánh hoạt động trên khắp 45 tỉnh và thành phố lớn. Sự cạnh tranh giữa các công ty này với nhau, để lấy lòng đối tác nước ngoài và người lao động trong nước, rất là hung bạo : gian lận, tố cáo, hứa hẹn ẩu, cướp hồ sơ, nói xấu, mua chuộc xảy ra hàng ngày. Báo chí trong nước đã phanh phui nhiều vụ lừa đảo và thanh toán lẫn nhau bởi những người làm việc trong các công ty dịch vụ này, rất là tàn nhẫn.

     Một vài thí dụ. Ngày 7-4-2001, các báo Công An Nhân DânThanh Niên cho biết đã bắt giữ hai chánh và phó phòng tuyển dụng lao động xuất khẩu của CIEPICO (công ty đầu tư xuất khẩu trung ương) Nguyễn Văn Tự (33 tuổi) và Đàm Văn Mạnh (24 tuổi), về tội chiếm đoạt 800.000 USD của 580 người "có nhu cầu đi lao động ở nước ngoài" trong thời gian từ tháng 10-2000 đến 3-2-2001. Những vụ đưa người ra nước ngoài giả dạng khách du lịch, hoặc du học sinh để ở lại lao động chui bị đổ bể không biết bao nhiêu mà kể.

 Một lối thoát mới cho người thất nghiệp ?

      Tổng số lao động và chuyên gia Việt Nam hiện nay đang làm việc ở nước ngoài khoảng 340.000 người, trong đó hơn 200.000 người được đưa đi theo đường dây xuất khẩu lao động, đa số là thành phần thanh niên nam nữ tuổi từ 18 đến 35, bộ đội xuất ngũ ở nông thôn đang thất nghiệp.

     Từ tháng 9-1999 đến nay, đã có gần 100.000 người được đưa đi làm việc tại Mã Lai, khoảng 50.000 người tại Đài Loan, trên 20.000 người tại Nam Hàn, trên 10.000 tại Libya, khoảng 9.000 người tại Nhật và Lào.

     Quân đội cũng đã cho "thuê dài hạn" trên 16.000 sĩ quan và thuyền viên cho các chủ tàu buôn, tàu dầu và tàu đánh cá đăng ký tại Nhật Bản, Nam Hàn, Na Uy, Hy Lạp, Đài Loan… và cũng đã gởi khoảng một ngàn "chuyên viên nông nghiệp" bảo vệ một số chính quyền độc tài tại châu Phi như Congo Brazaville.

     Theo những số liệu đăng trên các báo trong nước, trong những năm sắp tới Mã Lai có khả năng tiếp nhận 200.000 người, Đài Loan 70.000 người, Nam Hàn 50.000 người, các quốc gia Trung Đông 20.000 người, Nhật 15.000 người, các quốc gia châu Phi da đen 10.000 người… Do đó trong những ngày sắp tới, Hà Nội dự trù sẽ tăng lên gấp nhiều lần nguồn lao động xuất khẩu. Nhiều thị trường lao động lớn khác đã và đang được  khảo sát như Liên Bang Nga, Cộng Hòa Chech, các quốc gia Trung Đông, các nước châu Phi da đen…

     Về trình độ kỹ thuật, chỉ Nhật, Nam Hàn và Đài Loan đòi hỏi người lao động phải có tay nghề cao, những quốc gia nhập khẩu lao động còn lại chấp nhận trình độ lao động  giản đơn và tay chân. Cũng nên biết hiện nay chỉ 1/3 (35,5%) lao động xuất khẩu có tay nghề (bậc thợ hạng 2 và hạng 3), Hà Nội dự trù sẽ nâng trình độ kỹ thuật của người lao động xuất khẩu lên 45% vào năm 2005.

     Về lợi tức, lương gộp trung bình của một người lao động tại Mã Lai là 216 USD/tháng, sau khi trừ hết mọi chi phí còn lại 130 USD (khoảng 2 triệu VND), nếu trừ đi các chi phí ăn uống, nhà ở họ chỉ còn từ 80 đến 90 USD. Cũng nên biết, các công ty nước ngoài thuê mướn lao động xuất khẩu Việt Nam phải trích 40% tiền lương gộp để nộp cho nhà nước Việt Nam (30%) và công ty môi giới (10%). Lương gộp của một lao động xuất khẩu tại Nam Hàn từ 500 đến 600 USD/tháng (sau khi trừ mọi chi phí còn lại khoảng từ 300 đến 350 USD/tháng). Tại Anh, Pháp, Đức và Hoa Kỳ mức lương gộp này sẽ từ 1.500 đến 2.000 USD/tháng, nhưng chưa ai được trúng tuyển.

     Nói chung, đối với thành phần thất nghiệp khu vực nông thôn, được đưa đi lao động xuất khẩu là một lối thoát khỏi cảnh nghèo đói. Nơi nào trả lương trên một triệu đồng Việt Nam, từ 80 đến 90 USD/tháng, là họ sẵn sàng vay tiền đăng ký ra đi. Thống kê hiện nay cho thấy 80% lao động xuất khẩu xuất phát từ những vùng nông thôn miền Bắc, đa số là tại các tỉnh Phú Thọ, Hải Dương, Hưng Yên, Hòa Bình, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội…

     Thành phần thất nghiệp thành thị, 6% dân số, khoảng 5 triệu người hiện còn rất dè dặt trước những khuyến dụ làm việc tại nước ngoài, nhất là tại miền Nam. Chính quyền cộng sản đang lập kế hoạch xuất khẩu mỗi năm 200.000 người thất nghiệp khu vực Sài Gòn và 100.000 người thất nghiệp khác tại 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra nước ngoài trong thời gian sắp tới. Thật ra số người thất nghiệp thành thị cũng đã sẵn sàng ra nước ngoài làm việc, nhưng chỉ chịu đi làm tại quốc gia nào trả lương cao, từ 500 USD trở lên, như Nam Hàn, Nhật Bản và Đài Loan.

Một hình thức buôn bán nô lệ ?

      Sử dụng cụm từ "buôn bán nô lệ" vào đầu thế kỷ 21 này là một xúc phạm lớn đối với người có liên hệ và quốc gia chủ xướng, nhưng tại Việt Nam, với những điều kiện xuất khẩu người lao động như hiện nay, đó là một hình thức buôn bán nô lệ.

     Thứ nhất, sự bóc lột những người lao động xuất khẩu rất là dã man, từ khâu làm thủ tục đến khi được đưa đi làm việc tại nước ngoài. Mỗi tháng, 40% lợi tức do họ làm ra phải nộp cho nhà nước và công ty dịch vụ môi giới. Khi làm thủ tục, mỗi người phải đóng ít nhất 8 loại lệ phí : phí đặt cọc (tối đa là một lượt vé máy bay và ba tháng lương theo hợp đồng), phí dịch vụ xuất khẩu lao động (350 USD cho lao động nhà máy, 400 USD cho lao động xây dựng…), phí học ngoại ngữ, phí đào tạo và giáo dục định hướng, chi phí khám sức khỏe, chi phí làm hồ sơ, thủ tục xuất nhập cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Trung bình người lao động xuất khẩu phải chi từ 1.500 USD đến 4.000 USD, tức từ 20 đến 50 triệu VND trở lên, để lập hồ sơ, giá cả tùy theo quốc gia muốn vào làm việc. Những người không đủ điều kiện để được chính thức đi lao động nước ngoài phải chi nhiều hơn (có khi lên tới 10.000 USD) để được đưa đi qua những đường dây khác như du lịch, du học, đám cưới giả, hội tụ gia đình. Chưa hết, tại nhiều nơi, các chính quyền địa phương còn khuyến khích người nghèo thất nghiệp vay ngân hàng để đóng cho các công ty dịch vụ làm thủ tục xuất khẩu. Trung bình một người nghèo đi lao động xuất khẩu phải làm việc ít nhất 2 năm mới trả được hết nợ vay lúc ban đầu, năm thứ ba mới có lợi nhưng hợp đồng lại hết hạn.

     Thứ hai, điều kiện làm việc rất là khắt khe và nhân phẩm người lao động bị chà đạp. Trong hội nghị tổng kết công tác xuất khẩu lao động tổ chức tại Hà Nội ngày 18-12-2003, đại sứ Việt Nam tại Mã Lai Nguyễn Quốc Dũng cho biết : "Năm 2002 có 5 trường hợp chết tại chỗ do bệnh tim mạch, năm 2003 con số này lên đến 85 trường hợp". Ngày 4-9-2002, Cục quản lý lao động với nước ngoài cho biết "60% số lao động từ Mã Lai về nước vì lý do sức khỏe". Cũng nên biết, vì không có tay nghề và thiếu kiến thức kỹ thuật, những người lao động xuất khẩu khỏe mạnh (tuổi trừ 18 đến 35) thường đảm nhiệm những công việc mà người bản xứ không muốn làm. Nam Hàn chỉ tuyển dụng nhân công Việt Nam vào làm việc trong những ngành công nghiệp độc hại mà người bản xứ không dám làm, gọi là 3 D (dangerous, difficult, dirty-nguy hiểm, khó nhọc, bẩn thỉu). Phụ nữ Việt Nam thường được mướn để làm những nghề phục dịch, được gọi một cách văn minh bằng tiếng Nga là "ôsin" (thật ra đó là nghề "ở đợ"), trong các gia đình giàu có. Cực khổ và nhục nhã nhất là nghề phu tàu đánh cá : "Phải làm việc quần quật từ 24 đến 36 giờ liên tục và chỉ được nghỉ từ 4 đến 5 giờ, nếu làm liên tục 48 giờ thì được nghỉ 6 giờ ; nặng nhọc nhất là làm việc từ 13 đến 16 giờ ở hầm đá (nhiệt độ -60 độ C), có người bị sặc máu mũi, máu họng ngay tại hầm đá ; các cai tàu và phó cai dữ dằn như gấu, lúc nào cũng lăm lăm gậy gỗ hoặc gậy sắt sẵn sàng đánh vào những ai không tuân lệnh chúng" (Lao Động, ngày 11-7-2001).

     Thứ ba, tình trạng xuất khẩu lao động tại Việt Nam hiện nay giống tại lục địa châu Phi da đen trong những thế kỷ 18 và 19. Việc truy lùng, phân loại và tồn trữ nguồn lao động do chính người bản địa thực hiện, sau đó mới giao cho khách hàng. Trả lời ký giả Xuân Quang, báo Lao Động ngày 11-10-2002, phó cục trưởng Cục quản lý lao động với nước ngoài, Đào Công Hải, hãnh diện cho biết : "Phía Hàn Quốc có yêu cầu tuyển 10.000 người để chọn ra chỉ 1.000 người. Sau lần tuyển đó, chúng tôi đã kiến nghị và phía bạn đã thấy được vấn đề, rằng cách tuyển 10 lấy 1 không phù hợp với điều kiện của chúng ta. Phía bạn hiện đã đồng ý cách thức tuyển chọn 3 lấy 1 mà thôi, đồng thời bạn cũng giao quyền chủ động tuyển chọn, đào tạo cho 8 doanh nghiệp Việt Nam mà bạn đã chỉ định". Phía Nhật Bản còn khó hơn, 30 lấy 1.

     Thứ tư, hình phạt dành cho những người vi phạm kỷ luật rất là tàn nhẫn. Do điều kiện làm việc khắt nghiệt và đồng lương thấp, số lao động xuất khẩu bỏ nhà máy trốn ra ngoài làm việc rất là phổ biến : gần 60% tại Nam Hàn, 27% tại Nhật, 7% tại Đài Loan. Lý do rất giản dị là nếu được ra ngoài làm việc thì lợi tức của họ sẽ cao hơn vì không phải nộp tiền cho những "cai thầu". Để ngăn chặn tình trạng lao động bỏ trốn này, Cục quản lý lao động với nước ngoài yêu cầu những công ty chủ quản người lao động làm áp lực với gia đình người bỏ trốn,  kêu gọi người đó về nước để bị kỷ luật. Bản án dành cho người bỏ trốn thường rất nặng : ngoài việc phải bồi hoàn mọi chi phí khác, người vi phạm bị phạt tiền ít nhất bằng 2 năm lương gộp và án tù nếu nghiêm trọng. Có khi người lao động xuất khẩu bỏ trốn ra ngoài làm việc bị tịch thu nhà đất nếu đã đóng tiền thế chân bằng giấy tờ nhà, đất. Ngoài điều khoản ghi trong hợp đồng buộc thân nhân đền tiền thay khi người lao động xuất khẩu bỏ trốn, công ty TCL-Transico còn tuyên bố sẽ thưởng từ 1 đến 3.000 tiền Đài Loan (90 USD) cho bất cứ ai (công dân Đài Loan) bắt được một lao động (Việt Nam) thuộc quyền sở hữu của Transico bỏ trốn. 

Thấy gì qua chính sách xuất khẩu lao động ?

      Đây là một hình thức buôn bán nô lệ của chính quyền cộng sản Việt Nam. Trong Hội nghị tổng kết công tác xuất khẩu lao động ngày 18-12-2003 tại Hà Nội, phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm nói  : "Việt Nam có 3 triệu học sinh cấp 3, số dự thi đại học, cao đẳng dao động từ 1,1 đến 1,5 triệu, và chỉ 10% trong số đó đạt nguyện vọng. Số học sinh còn lại phải được khai thác, đào tạo các ngành công nghệ cao như tin học, y tế để đưa đi xuất khẩu lao động". Như vậy bắt đầu từ nay, bất cứ ai không có việc làm, tại thành thị hay nông thôn, đều "phải được khai thác" để đưa đi xuất khẩu. Trong thực tế tình trạng này đang xảy ra, việc khảo sát nguồn lao động thất nghiệp tại 12 tỉnh vùng châu thổ sông Cửu Long, các quận huyện chung quanh thành phố Sài Gòn và các tỉnh duyên hải miền Trung đã hoàn tất và đang được lập kế hoạch để đưa đi xuất khẩu.

     Đối với một chính quyền có tự trọng, tổ chức xuất khẩu người lao động ra nước ngoài là một xúc phạm lớn đến thể diện quốc gia, vì nó chứng tỏ sự bất lực của chính quyền trong việc đào tạo công ăn việc làm cho người trong nước. Nhưng đối với chính quyền cộng sản Việt Nam, sự tự trọng này không có. Thay vì khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, vừa nâng cao tổng sản lượng nội địa quốc gia vừa tạo ra công ăn việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, chính quyền cộng sản đã hành xử như những người nghiện ma túy : bán tất cả những gì có thể bán được trong nhà để lấy tiền, bất kể đó là tài sản chung của tổ tiên để lại. Các quan chức hữu quyền chỉ nghĩ có thể bỏ bao nhiêu tiền vào túi khi xúi dục dân nghèo vay tiền để làm thủ tục đi lao động xuất khẩu. Không những các cấp lãnh đạo chính quyền chấp nhận đối tác ngang hàng với các công ty nhập khẩu lao động, mà còn nhận chỉ thị từ những tập đoàn này để làm trung gian tuyển chọn nhân công.

     Chính quyền cộng sản đã nhượng đất và biển cho Trung Quốc, bây giờ đang bán cả con người Việt Nam cho người nước ngoài để trục lợi. Mà có bán được giá cao nào đâu? Người lao động Việt Nam tại nước ngoài đang làm những công việc nặng nhọc và mất danh dự, với đồng lương rẻ mạt, mà người bản xứ chê.

     Chính quyền cộng sản Việt Nam đang đóng vai "cai thầu đồn điền ác ôn", bóc lột và đối xử tàn tệ với chính công dân của họ - những người nghèo khó không có công ăn việc làm trong nước. Chỉ riêng trong năm 2003, các quan chức cộng sản  đã bỏ vào túi riêng ít nhất trên 150 triệu USD do dịch vụ xuất khẩu lao động mang lại (75.000 người * 2.000 USD/đầu người tiền làm thủ tục).

     Lao động là nguồn tài nguyên quí báu còn lại của đất nước. Chính quyền cộng sản đã không những bán rẻ sức lao động cho người nước ngoài, để trốn tránh trách nhiệm vì không tạo ra công ăn việc làm trong nước, mà còn khai thác và bóc lột mồ hôi nước mắt của những người cùng khổ muốn được sống trong danh dự, để trục lợi riêng.

     Hãy tố cáo chính sách chà đạp nhân phẩm con người này trước dư luận quốc tế.

Nguyễn Văn Huy

  [an error occurred while processing this directive]