|
Cộng
đồng người Việt ở Nga là một cộng đồng được hình thành muộn so với những
cộng đồng người Việt hải ngoại khác trên thế giới. Người Việt Nam đầu tiên
đặt chân lên đất nước Nga theo hiệp định hợp tác lao động là vào năm 1981,
con số này tăng dần lên trong suốt thập kỉ 1990, cho đến năm 1991, thì kết
thúc cùng với sự sụp đổ của Liên Xô.
Những
người đến Liên Xô thời đó (bao gồm Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ như :
Ukraina, Bielorussia…) đa số xuất thân từ những gia đình cán bộ, có công với
cách mạng, con em của những gia đình thương binh, liệt sĩ, bộ đội phục viên…
Một
thời kỉ niệm
Chúng
tôi đến Nga vào một ngày mùa đông. Cái cảm giác đầu tiên của chúng tôi khi
đặt chân đến nước Nga là sự bỡ ngỡ, nó giống như anh nhà quê ra tỉnh, cái gì
cũng đều mới mẻ và xa lạ. Chúng tôi được người của nhà máy lên Mátxcơva đón
và đưa về thành phố tiếp nhận. Trên đường về tôi có cảm giác nước Nga thật
là rộng, đi mãi vẫn chưa thấy hết ! Xe đưa chúng tôi đi qua những cánh đồng
tuyết phủ trắng xóa, thỉnh thoảng gặp một vài ngôi nhà nóc phủ một lớp tuyết
dày, ống khói nhả ra từng làn khói mỏng. Lúc đó chúng tôi có cảm giác như
đang lạc vào xứ sở của những chuyện thần tiên hay cổ tích. Nhưng khi vừa vào
đến thành phố những cảm giác đó liền biến mất, thay vào là sự ảm đạm với
những ngôi nhà cao tầng lạnh lẽo, u tối, đứng sừng sửng giữa cảnh vật im lìm
và trần trụi. Đường phố vắng vẻ không người qua lại, cây cối đều rụng hết lá
chỉ còn trơ trụi những cành cây khẳng khiu, xám xịt… Dường như không có sự
sống trong thành phố.
Chúng
tôi bắt đầu cuộc sống mới với tâm trạng nhớ nhà, cô đơn, buồn tủi, xa lạ…
Thế rồi sau ba tháng học tiếng Nga chúng tôi bắt tay vào công việc, thật ra
là lao động chân tay. Vì làm theo dây chuyền nên công việc cũng khá nhẹ
nhàng và đơn giản. Người Việt vốn thông minh và học nhanh nên chẳng bao lâu
đã thành thạo. Chỉ có các công nhân xây dựng là hơi vất vả vì phải "dầm mưa
(tuyết), dãi nắng" suốt ngày ở ngoài trời.
Chúng
tôi sống trong các kí túc xá, bốn người một phòng, đi làm cùng giờ, về cùng
giờ, trang phục bảo hộ, áo khoác, giầy dép giống hệt nhau, cứ như là trong
quân trại của những người lính. Ăn uống thì hồi đầu ở nhà ăn, sau khi đi làm
thì ăn ở nhà máy, vì ở Liên Xô không có lệ nghỉ trưa lâu để có thể về nhà ăn
trưa và nghỉ ngơi như ở Việt Nam. Sau này, do thức ăn của nhà máy không hợp
khẩu vị với nhiều người, chúng tôi quyết định tự đi chợ và nấu ăn lấy.
Liên
Xô là một đất nước rộng lớn bao gồm rất nhiều thành phố, người lao động Việt
Nam sống rải rác trên hầu hết các thành phố lớn nhỏ. Thời đó những người phụ
trách phân phối dân cư lao động Việt Nam thường sắp xếp theo phái tính, do
đó có nhiều thành phố tập trung hàng nghìn công nhân nữ mà không hề có một
nam nhân trai nào, và ngược lại. Chúng tôi vô cùng thiếu thốn tình cảm và
rồi những người con xa xứ, cô đơn thường tìm đến nhau để chia sẻ nỗi buồn xa
xứ. Cứ mỗi cuối tuần là cùng rủ nhau đi thành phố khác chơi, nếu là con trai
thì tìm đến các thành phố có đông con gái, và con gái thì tìm đến những
thành phố có đông con trai. Không biết bao nhiêu kỉ niệm vui buồn đã để lại
những dấu ấn không bao giờ quên trong tâm trí mỗi người. Thường thì kỉ niệm
vui nhiều hơn kỉ niệm buồn, những ngày ấy mỗi lần cánh đàn ông chúng tôi làm
khách đến thăm các kí túc xá nữ thì không có gì hạnh phúc và sung sướng cho
bằng. Cho dù bạn và tôi có xấu xí hay khó nhìn đến đâu đi nữa thì đến đó
cũng sẽ được các cô đón tiếp như những ông vua thật sự. Những nữ công nhân
son trẻ sẽ bằng mọi cách kéo đến xem mặt bạn và lân la bắt chuyện ; nếu bạn
bước chân vào nhà nào đó chơi thì đó là một vinh hạnh cho gia chủ. Đến bữa
ăn, bạn chỉ cần nếm qua mỗi món một miếng thôi là cũng đủ no rồi, hình như
đây là những dịp để các cô gái trổ tài nội trợ khéo léo của mình nên đã làm
không biết cơ man nào món ăn, mà chính họ cũng thừa hiểu là Thánh cũng không
thể ăn hết.
Và chỉ
độ đôi tiếng sau là lại phải ăn bữa nữa. Cảm giác tuyệt vời của thời đó đó
đến giờ vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Thời đó chúng tôi cảm thấy sống thật
là đẹp, thật là tình cảm và trong sáng, bây giờ có mơ cũng không thể tìm lại
những ngày hạnh phúc như thế. Cuộc sống của chúng tôi rất là giản dị, chưa
biết làm ăn, buôn bán là gì. Kinh tế thị trường vẫn còn quá xa lạ với người
Nga và chúng tôi cũng vậy. Đi làm về là chỉ biết tìm đến nhau để vui chơi
thôi.
Rồi
ngày tháng thoi đưa, chúng tôi đã biết góp nhặt và tiết kiệm từng đồng lương
ít ỏi của mình để mua đủ thứ bà rằng : xoong nồi, ấm điện, bàn là, tủ lạnh,
xe máy Minxcơ (Minsk)… để đóng thùng gửi về Việt Nam. Về chuyện này đa số
chúng tôi đều rất buồn phiền bởi nhiều lý do : gia đình và người Nga. Gia
đình chúng tôi đã không những không hiểu hoàn cảnh khó khăn của chúng tôi,
phải tiết kiệm từng đồng để mua quà gửi về nhà và không phải ai trong chúng
tôi cũng biết buôn bán, mà còn mong đợi chúng tôi gửi hàng về nhiều hơn nữa.
Lúc đó Liên Xô đang còn là một quốc gia xã hội chủ nghĩa nên buôn bán là một
việc làm tội lỗi và cũng là một sự nhục nhã, người ta cho rằng buôn bán là
lừa đảo, ngồi mát ăn bát vàng, không chịu lao động, lười biếng… Vì vậy những
thùng hàng ít ỏi mà chúng tôi gửi về thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, và cả sự ê
chề nữa, mỗi khi phải nghe những lời cạnh khóe, mỉa mai của những dân Nga
địa phương. Thế nhưng người ở nhà đã không biết cách sử dụng đồng tiền cho
có hiệu quả để thoát ra khỏi cảnh nghèo đói, hoặc giữ lại ít vốn cho con
cháu sau này, mỗi khi túng thiếu họ chỉ biết mang hàng hóa nhận được ra bán
để lấy tiền tiêu xài, rồi trông đợi chúng tôi tiếp tục gửi hàng về trong
tháng sau... để tiêu xài. Có lẽ người nông dân Việt Nam ta không thích nghi
với đổi mới nên có lẽ sẽ còn khổ dài dài.
Sau
khi Liên Xô sụp đổ, các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh lần lượt bị đóng cửa,
cộng đồng người Việt Nam tại Liên Xô mất việc làm. Về hay ở lại ? Đó là một
câu hỏi khó. Sau một thời gian suy nghĩ, khoảng 2/3 lao động Việt Nam chọn
trở về nước vì ở lại cũng sẽ không tìm được việc làm, và không có việc làm
thì rất khó sống… Hơn nữa ở lại chưa hẳn là thức thời vì nhà máy không có
tiền trả lương sẽ đành đem con bỏ chợ, sống chết mặc bây. Những người về
nước liền thất vọng nhanh chóng, tiền của họ gửi về cho gia đình đã tan theo
mây khói như chưa từng hiện hữu trên cõi đời này. Các Cụ nói không sai "tiền
vào nhà khó như gió vào nhà trống" nghèo vẫn hoàn nghèo.
Cộng
đồng người Việt tại Nga
Cộng
đồng người Việt tại Nga chỉ chính thức định hình từø sau những năm 1990, khi
Liên Xô sụp đổ, nhiều người quyết tâm ở lại bám trụ, một phần do không có
tiền mua vé máy bay để về nước, một phần thì do biết rằng tương lai không
lấy gì làm tốt đẹp đang chờ họ ở Việt Nam.
Cộng
đồng người Việt ly hương tại cựu Liên Bang Xô Viết này tiếp tục được bổ sung
và tăng lên theo thời gian. Đó là những người đã từng sinh sống tại Liên Xô
cũ sau khi trở về nước đã bằng mọi cách trở lại đây vì thất vọng. Họ đã về
nước với rất nhiều háo hức được gặp lại người thân sau một thời gian dài xa
cách, rồi cảm giác mừng tủi thương yêu đó nhanh chóng qua đi để trở về với
cuộc sống bình thường. Họ đã cố gắng để hòa nhập với cuộc sống mới, nhưng
đời lắm nỗi trái ngang, họ không thể tìm cho mình được một công việc nào cho
thích hợp, cho nên đành phải liên lạc với bạn bè cũ còn bên Nga để tìm cách
sang lại. Thành phần thứ hai là những người có thân nhân như anh, em, cô bác…
bên này, nên khi được bảo lãnh, hay chạy chọt giấy tờ, sang Nga họ có ngay
việc làm để không phải bơ vơ, đầu đường xó chợ. Dòng người này cho đến bây
giờ vẫn không ngừng chảy đến nước Nga. Thành phần thứ ba là những người sinh
sống ở nông thôn, muốn đổi đời. Cuộc sống tại Việt Nam quá ư cơ cực và không
có tương lai, nếu ở lại Việt Nam thì cả cuộc đời cũng không kiếm đủ tiền để
mua một chiếc xe gắn máy rẻ tiền của Trung Quốc. Họ muốn ra đi đến những
miền đất hứa với tâm niệm kiếm một ít vốn rồi về Việt Nam làm ăn.
Với
những ước mơ cháy bỏng và chính đáng đó, rất nhiều người Việt tại Nga đã bị
lừa, bởi người dưng và bởi chính họ. Trong số những người ở Nga về cũng có
một số người có tiền, họ xây nhà cao tầng, cho anh em bà con tiền và mua sắm…
Nhưng phần lớn là không có tiền, tay trắng trở về. Cũng vì ảo tưởng quá lớn,
những người muốn đổi đời chỉ nhìn vào những người thành đạt và cố quên đi
những người thất bại, tay trắng trở về. Nếu có ai đó nhắc nhở họ thì họ cũng
tự đánh lừa mình rằng : chắc là do những người này không chịu chí thú làm ăn,
mải mê cờ bạc, rượu chè… mới thế ! Và cũng chính vì những ảo tưởng đó nhiều
người trong số họ khi đặt chân đến Nga đã nhanh chóng vỡ mộng và thất vọng…
Vì
trong thực tế, nước Nga không phải là một thiên đường mà là một địa ngục thì
đúng hơn. Sau 1990, những người thi hành pháp luật đã lơ là để cho bọn tội
phạm mặc sức hoành hành và người Việt là những nạn nhân đầu tiên được đưa
vào tầm ngắm. Có thể nói đây là giai đoạn đen tối nhất của người Việt tại
Liên Xô. Không biết bao nhiêu người đã bỏ mạng trên đất này…
Nước
Nga thời xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế tự cung tự cấp, cho nên hầu như cái
gì cũng thiếu… Có lẽ nước Nga dưới thời cộng sản là một đất nước kì quặc
nhất trong lịch sử loài người vì người dân có tiền nhưng không biết để làm
gì, không biết mua gì ? Vì bao nhiêu năm vẫn đôi dày đấy, vẫn kiểu áo đấy,
tất cả vẫn như vậy, nhà cửa xe cộ đều bán phân phối. Tất cả xí nghiệp, nhà
máy đều là quốc doanh cho nên những việc làm cơ bản nhất của một nền kinh tế
thị trường như : cạnh tranh, đổi mới công nghệ, tạo ra một sản phẩm mới, đẹp,
bền rẻ, theo nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng… là điều không hề có
trong suy nghĩ của các giám đốc. Nhiều người Nga bây giờ vẫn thường than
rằng : cuộc đời thật là vô lí và bất công, ngày xưa khi có tiền thì không có
gì để mua còn ngày nay thì cái gì cũng có chỉ có điều không có tiền để mua.
Người
Việt bám trụ tại Nga đã nhanh chóng lấp vào khoảng trống này, công việc duy
nhất của họ là buôn bán ở các chợ trời để tồn tại. Họ đã biết đánh hàng từ
Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kì… vào để bán. Đầu mối tập kết là Matxcơva và sau đấy
tỏa đi khắp nơi, ngoài giờ đi làm nhà máy người Việt tranh thủ ra chợ bán
hàng. Đây cũng là thời kì vàng son của những người đi bán hàng, vì người dân
Nga sẵn sàng mua bất cứ hàng gì, từ thượng vàng đến hạ cám đều bán được và
với giá rất cao.
Nhiều
người trở nên giàu có một cách nhanh chóng, nhưng vì chưa có luật dành cho
những người buôn bán nên nếu không may gặp công an là coi như mất sạch. Nổi
tiếng nhất là các vụ Đôm 5 và Đôm 11. Đây là hai khu nhà cao tầng được người
Việt thuê lại để ở, sau đó biến thành hai trung tâm bán sỉ lớn nhất của
người Việt tại Liên Xô cũ, khu này được mệnh danh là thủ đô của người Việt
tại Nga. Các đội cảnh sát kinh tế Moskva đã nhiều lần tấn công và mang đi
tất cả hàng hóa, tiền nong của người Việt tại đây với tội danh... trốn thuế.
Nhiều người đang là ông chủ giàu có trong phút chốc trở thành trắng tay, tứ
cố vô thân…
Sau vụ
những vụ càn quét này, người Việt tiếp tục làm lại từ đầu. Nhưng lần này có
sự giúp đỡ tận tình của những người nghiên cứu sinh, sinh viên, Việt kiều…
sau khi học xong đã ở lại Nga làm ăn. Nhờ thông thạo ngôn ngữ và biết cách
dàn xếp với các cấp chính quyền… họ đã dần dần tạo cho người Việt tại Nga
một chỗ đứng danh dự hơn.
Nhưng
có một vấn đề là hầu như tất cả người Việt tại Nga đều có một tâm lí chung
là xem nước Nga như một sân ga, một mảnh đất giúp họ kiếm ít tiền mang về
bến Việt Nam. Ít ai nghĩ đến chuyện hội nhập vào xã hội Nga để cùng thăng
tiến cho nên mỗi khi gặp hoạn nạn, họ chỉ biết cắn răng than thân trách phận
chứ không dám làm gì hơn. Do đó, giữa lúc tình hình an ninh tại Nga đang còn
lộn xộn, người Việt luôn là đối tượng để bọn tội phạm tấn công và để công an
làm tiền, vì thân phận của người Việt tại Nga rất bọt bèo, thấp cổ bé họng
chẳng biết kêu ai…. Tòa đại sứ Việt Nam tại Nga cũng tỏ ra bất lực, thế mà
không hiểu tại sao ông Nguyễn Mạnh Cầm lúc đó là đại sứ lại được rút về nước
để làm phó thủ tướng ?
Với
bọn tội phạm, cướp của người Việt là dễ nhất : chỉ cần một chiếc xe ôtô giả
làm taxi chờ trước cổng chợ đợi người Việt đón xe về nhà là chở thẳng lên
đồi Lênin cướp sạch tài sản và thủ tiêu luôn người. Với công an cũng vậy,
trấn lột người Việt là dễ nhất bởi vì đa số người Việt tại Nga đều thể hiện
ít nhiều tính bất hợp pháp trong việc cư ngụ hay sinh hoạt buôn bán. Chỉ cần
chặn xét bất cứ người Việt nào ra vào hay đi lại trên đất Nga đều mang lại
lợi lộc (tiền hoặc của hối lộ để được yên hay do bỏ của chạy lấy thân vì
đang sinh hoạt bất hợp pháp).
Người
Việt tại Nga rất sợ bị cướp cho nên bao nhiêu tiền kiếm được họ đều tìm cách
chuyển về Việt Nam. Còn bên này họ sống tạm bợ trong những kí túc xá chật
chội và bẩn thỉu… và nhiều khi họ cũng chẳng thèm để í đến thể diện quốc gia
hay là danh dự của bản thân họ nữa. Họ chỉ như cái máy kiếm tiền và kiếm
tiền mà thôi.
Thời
gian rồi sẽ đổi thay, đến một lúc nào đó nước Nga sẽ ổn định. Người Việt sẽ
được nhìn nhận như là một bộ phận dân cư, họ sẽ có nhiều quyền lợi hơn và
tâm lí tạm bợ kiểu sân ga sẽ không còn nữa. Các doanh nghiệp Việt Nam trong
nước cũng sẽ không bị lãng quên một cách phí phạm như bây giờ nữa vì người
Việt có mặt ở hầu hết các thành phố lớn nhỏ trên toàn lãnh thổ cựu Liên Bang
Nga, công việc của họ chủ yếu là buôn bán, họ sẽ giúp tiêu thụ hàng hóa sản
xuất tại Việt Nam thay vì làm đại lí và bán hàng cho người Trung Quốc và
người Thổ… Nhà nước Việt Nam phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nước có mặt trong thị trường Nga, tuy đầy rủi ro nhưng rất hứa hẹn này.
Về tư
duy, cộng đồng người Việt tại Nga hiện nay không quan tâm mấy đến chính trị
và thời cuộc, kể cả người và Việt Nam, bận tâm hàng đầu của họ là kiếm cho
được nhiều tiền để lo cho gia đình, vợ con, những người thân ở Việt Nam… Có
lẽ vì đã mất lòng tin vào Đảng vào Nhà nước, phản ứng của họ là lấy mũ ni
che tai… Châm ngôn của mọi người là ta phải cứu lấy thân ta thôi, của người
làm gì thì mặc xác các người... Vấn đề của cộng đồng người Việt tại Nga là
tuy mang số phận bọt bèo, nhưng họ không hiểu rằng nước có nổi thì bèo mới
trôi, số phận của mỗi người gắn liền với số phận chung của cả đất nước và
dân tộc, cả nơi sinh trưởng lẫn nơi cưu mang. Họ không thể sống sung sướng
trong khi bên cạnh còn rất nhiều mảnh đời rách nát…
Chúng
tôi tin rằng tư duy của những người Việt sống ở Nga, hiện nay khoảng 200.000
người, sẽ thay đổi theo thời gian để thật sự trở thành một cộng đồng Người
Việt tại hải ngoại có kiến thức, đầy khả năng và năng động, có thể đóng góp
nhiều hơn nữa cho quê hương, cho đất nước như họ đã từng làm, đang làm và
còn sẽ làm mãi mãi cho gia đình và vòng đai thân thuộc.
Uông
Toàn Phong (Moskva) |