[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Có phải đúng là dân nào chính quyền đấy ?

                                                                                  Nguyễn Gia Thưởng

Chúng ta thường hay nghe nói dân nào thì chính quyền ấy. Người dân thế nào thì xứng đáng lãnh nhận một chính phủ thế ấy. Câu này có vẻ quá rõ rệt và không ai tìm hiểu ý nghĩa đích thực của nó. Xét cho kỹ, nó không đơn giản như vậy. Nhiệm vụ của chính quyền là quản lý những vấn đề thường nhật của người dân , dĩ nhiên việc này không phải đơn giản, và trong một chừng mực nào đó chính quyền quy định tương lai của người dân và của cả nước. Chính quyền ở đây được xét trong mối tương quan giữa kẻ cai trị và kẻ bị trị. Vì vậy chúng ta cần biết thế nào là chính quyền, nhiệm vụ của nó trong các xã hội và chúng ta tìm kiếm mối tương quan của nó với người dân đang được dìu dắt để biết nó xứng đáng thế nào với người dân. Câu này đem áp dụng cho các xã hội dân chủ Tây Phương hiện nay trên thế giới có thể đúng, nhưng đem áp dụng vào các thể chế xã hội khác, không chắc gì nó đúng.

Chính quyền là gì ?

Chính quyền là một lọai tổ chức được thành lập nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của tập thể, và nhờ đó có trật tự trong lề lối sinh hoạt của người dân. Xét cho cùng mục đích của chính quyền là bảo đảm sự hài hòa giữa các thành tố của một cộng đồng, để cộng đồng không rơi vào cảnh hỗn loạn. Nghệ thuật xây dựng chính quyền đại diện cho tập thể được gọi nôm na là nghệ thuật chính trị, chính trị với tất cả ý nghĩa nguyên thủy của nó, nghĩa là xây dựng những nguyên tắc tạo nên nền móng của sự ổn định và tổ chức của một xã hội. Có lẽ những vị đã sáng chế ra bộ môn chính trị có nhu cầu bức thiết tạo dựng nên một quyền lực để điều hòa xã hội, có khả năng ngăn cản con người chém giết lẫn nhau trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, phát xuất từ dục vọng cá nhân không cương hãm. Chính quyền ngày nay chính là đại diện cho quyền lực chính trị đứng ra để điều khiển và thi hành luật pháp để giữ trật tự cho xã hội. Chính quyền này quản lý các công việc của Nhà Nước và chính quyền chính là vị chủ tàu cầm lái định hướng con tàu, kiểm soát và ấn định phong cách sinh hoạt của người dân bằng luật pháp. Hiểu theo nghĩa hẹp, danh từ chính quyền chỉ định một nhóm bao gồm những người nắm giữ hành pháp trong đó có vị nguyên thủ quốc gia và các bộ trưởng. Nhưng chính quyền hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả cơ cấu tổ chức chính trị và các cơ quan của Nhà Nước (với hiến pháp, chế độ, các cơ chế của nó). Như vậy chúng ta có thể hình dung chính quyền là « toàn bộ các cơ cấu chính trị nhờ đó quyền lực được thực hành trong một Quốc Gia có định chế ».

Tương quan giữa chính quyền với thành quả.

Thường các thành quả luôn được gắn liền với ý niệm cố gắng để đạt một mục tiêu nào đó, chẳng hạn như thành quả của một lực sĩ tại Thế Vận Hội, thành quả của một sinh viên ưu tú được học bổng ; thành quả của một khoa học gia được giả thưởng Nobel sau bao nhiêu năm cố gắng tìm tòi... Khi nói đến thành quả chúng ta nghĩ đến công sức của một cá nhân mong đạt được kết quả nào đó và xứng đáng với kết quả đó. Nói về thành quả trong trường hợp này chúng ta đưa ra một nhận định khách quan, chúng ta nói lên một sự kiện. Chúng ta không đánh giá theo một tiêu chuẩn đạo đức hay chính trị nào cả. Thành quả ở đây được đo lường theo sức cố gắng của một cá nhân trong nỗ lực thực hiện ước vọng của mình. Và chúng ta tỏ lòng khâm phục khi nói đến thành quả này. Nhưng sự kiện là công dân của một nước có liên quan gì đến thành quả ? Phải chăng các dân tộc, giống như anh lực sĩ hoặc anh sinh viên, mong đạt được một thành quả nào đó trong dự án chung. Trong chiều hướng này chính quyền đóng vài trò của một anh nài ngừa có trách nhiệm giúp cộng đồng đạt mục tiêu, thực hiện được dự án của cộng đồng. Như vậy một dân tộc được đánh giá theo con ngựa mà họ đã chọn lựa cho cuộc đua. Nếu con ngựa tồi, con ngựa thất bại, người ta sẽ nói dân tộc này tồi. Nhưng việc đánh giá không chỉ ngưng ở đây, người ta sẽ tiếp tục tự hỏi : Làm thế nào lại có thể đưa con ngựa ấy ra để tranh đua với thiên hạ ? Tại sao chủ nhân lại chọn một con ngựa tồi như vây ? Người ta đặt vấn đề chủ nhân. Người ta kết luận những thành quả tồi dở của con ngựa do chủ nhân không biết khéo léo lựa chọn. Trên thực tế, một dân tộc khao khát thực hiện những ước vọng của mình và chính quyền đại diện cho dân tộc đó tồi dở khiến cho dân tộc ấy không thực hiện được hoài bão của mình, như vậy đối với một quan sát viên, dân tộc này chịu trách nhiệm về sự thất bại này. Trong một cuộc đua ngựa người ta tuyên bố một cách khách quan không một tiêu chuẩn đạo đức nào cả, còn khi nói đến một chính quyền tồi dở người ta không những đưa ra một nhận xét khách quan nhưng còn có giá trị đạo đức nữa. Khi nói một dân tộc nào xứng đáng với chính quyền đấy, và chính quyền đấy tồi dở, người ta cho dân tộc này đáng kiếp bị như vậy, vì phong cách tồi dở của dân tộc này nó xứng đáng lãnh nhận một chính quyền như vậy. Chính quyền này hiện hữu vì tập thể đã hành xử như thế nào để nó không còn một lựa chọn nào khác ngoài chính quyền này.

Tại quốc gia dân chủ, câu « nhân dân làm sao thì chính quyền như vậy » rất chính xác ; vì lý do đơn giản, trong các thể chế dân chủ, người lãnh đạo thường phải trả lời trước nhân dân và được đánh gia theo một chu kỳ nhất định (mỗi 3, 4 hoặc 5 năm) để nhân dân ban cho tính cách chính thống quyền lãnh đạo hay không. Việc bầu cử theo phổ thông đầu phiếu là một phương cách để ngăn ngừa tính độc đoán của các cấp lãnh đạo. Trong nhiệm kỳ của minh, một chính quyền thực hiển được những mục tiêu đã được đề ra trong chương trình làm việc của mình (dựa trên dự án này mà nhân dân bầu cho), đường hướng phù hợp với trách vụ mà người dân ủy nhiệm cho. Như vậy, giữa người dân và chính quyền có một loại khế ước xã hội (mượn danh từ của J.J.Rousseau) quy định mối dây ràng buộc giữa hai phía. Nhưng chúng ta nhận thấy - đây là mấu chốt của vấn đề - trong các nền dân chủ hiện đại có một sự sai biệt và hụt hẫng rất lớn giữa giấy phép ủy quyền của người dân (bằng lá phiếu) với phương cách hành xử của người được tín nhiệm một khi đã đắc cử và có quyền lực trong tay. Tuy nhiên, người dân không có một phản ứng nào trước hiện tượng này. Một phần có lẽ vì con người quá vị kỷ, chỉ biết đến lợi ích của cá nhân mình nên để mặc các chính quyền tự tung tự tác, để rồi cuối cùng các nước dân chủ chỉ còn là « một đàn vật sợ hãi và chăm chỉ mà chính quyền là người chăn nuôi ». Trong tình huống này, các vị dân cử lợi dụng sự ù lì của cử tri đoàn để không tuân thủ những gì đã hứa với cử tri và người công dân xứng đáng nhận lãnh một chính phủ như vậy, vì cả hai bên đều mặc nhiên phản bội khế ước xã hội. Để khế ước xã hội được trọn vẹn thi hành, chính quyền phải phát xuất từ một đồng thuận chung nhất và đặt nền tảng trên nguyện vọng chung của tất cả công dân : chính phủ chỉ là công cụ do nhân dân lựa chọn để thực hiện ý nguyện của mình. Một khi chính phủ lạm dụng lòng tín nhiệm của người dân và dùng quyền lực mà người dân trao cho để thực hiện ý đồ riêng tư bất chấp ý nguyện chung, khế ước xã hội coi như bị huy bỏ. Khế ước xã hội không còn hiệu lực nhưng người dân vẫn tiếp tục ủng hộ họ - mặc dù họ có quyền phản kháng . Trong trường hợp này chúng ta dám quả quyết nhân dân này xứng đáng với chính phủ đấy, vì nhân dân lầm lẫn, nhân dân bị lừa hoặc nhân dân chấp nhận chính quyền đánh lừa mình khi họ thờ ơ với tình trạng quản lý của đất nước. Khi người dân ủng hộ một đảng đã quyến rũ họ với những lời hứa bịp bợm, đương nhiên đảng này khi lên cầm quyền cũng sẽ hành xử y như trong cuộc tranh cử, nghĩa là tiếp tục lừa dối. Mặt khác, khi người dân thờ ơ chấp nhận để cho chính quyền  tiếp tục đánh lừa mình vì đã mạc nhiên từ bỏ quyền xét đoán cách quản lý của chính quyền, tiếp tục im lặng để cho chính quyền tự tung tự tác, người dân đã phản bội tinh thần dân chủ, vì tinh thần dân chủ đòi hỏi óc phán đoán thường xuyên của lý trí và thảo luận của đôi bên. Khê ước xã hội đã được các hai bên khai tử. Trong cả hai trường hợp, người dân xứng đáng với chính quyền của họ.

Trường hợp Việt Nam và các nước chuyên chế.

Trường hợp những chính quyền áp đặt lên đầu nhân dân thì sao ? Không những các chính quyền này không phải do người dân bầu lên và quyền hành của chính quyền này không có một cơ sơ pháp lý nào để giới hạn nó cả. Trong trường hợp này có phải dân nào chính quyền đấy không ? Có lẽ khế ước xã hội gắn liền chính quyền với người dân đã bị huy bỏ từ lâu và một cách có hệ thống nên người dân sinh đẻ và sống trong chế độ đó không biết chế độ nào khác hơn, và không cảm thấy có nhu cầu tự do, và ý niệm đánh đổi chính quyền này không hề phát sinh trong trí não của người dân này. Tinh thần quị lụy phục tùng của người dân đã kéo dài quá lâu và mầm móng phản kháng đã bị tiêu hủy từ lâu và số phần dân tộc quả đáng nhận lãnh chính quyền này vì họ không muốn có một thể chế khác. Không lẽ dân tộc Việt Nam nằm trong trường hợp này ?  Đối với triết gia Immanuel Kant « tội lười biếng và tội hèn nhát » là căn nguyên đưa đến việc chính quyền độc đoán suy nghĩ và hành động thay cho con dân. Con dân chấp nhận sống dưới sự áp bức và từ chối thoát ra khỏi sự ức chế này. Một dân tộc như vậy đáng lãnh nhận một chính quyền độc đoán. Chính quyền đúng là phản ảnh của người dân, vì chính quyền từ dân mà ra ; và nếu chính quyền tồi dở chính vì do lỗi người dân tồi dở.

Trường hợp người dân phải tuân thủ vì bị cuỡng ép bằng bạo lực, có thể nào nói dân nào chính quyền đấy không ? Mối dây ràng buộc người dân với chính quyền chỉ tồn tại bằng bạo lực của chính quyền : giao ước xã hội không còn ý nghĩa gì nữa. Nhượng bộ, thoái lui trước sự đàn áp của chính quyền là một thái độ cẩn trọng va không ngoan. Vẻ chịu lụy bề ngoài của người dân không do một hành động có ý thức mà do một nhu cầu bắt buộc của tình thế. Chính quyền chỉ có tính cách chính thống khi nó biểu hiện qua một đồng thuận rõ rệt của người dân. Trường hợp người dân bị khóa miệng bằng bạo lực và người dân thầm lặng chống đối chính quyền, chúng ta không thể nói người dân xứng đáng với chính quyền đấy. Những trường hợp điển hình tại Phi Châu, người dân Congo dưới chế độ của Mobutu Sese Seko, người dân Miến Điện dưới chế độ quân phiệt của tướng lãnh Miến Điện. Tại Việt Nam, chính quyền do Đảng Cộng Sản Việt Nam điều động hiện nay chẳng đại diện cho ai cả, ngoài một thiểu số đảng viên cao cấp hám danh hám lợi và đoàn tùy tùng, vì người dân bị đàn áp bằng bạo lực và khủng bố nên phải tuân lệnh một chính quyền độc đoán. Người dân dưới một chế độ như vậy được xem như là con. Không phải ngâu nhiên các cấp lãnh đạo như ông Hồ Chí Minh tự nhân mình là « cha già dân tộc ». Họ đã cố tình xóa bỏ mối giao ước xã hội của chính quyền với người dân và biến mối tương quan này thanh mối tương quan hiếu đạo giữa con cái và cha mẹ. Và theo truyền thống Á Đông, đã là cha mẹ thì nói gì, làm gì, con cái phải nghe và cúi đầu tuân phục mà thôi, dù có sai đi nữa. Cộng thêm vào đó ở một mức độ khác họ biến mối tương quan giữa chính quyền và người dân thành tương quan giữa vua và bầy tôi. « Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung », theo nhãn quan này việc bắt bớ và bỏ tù người dân đối với đảng CSVN là một chuyện bình thường vì ý niệm giao ước xã hội hoàn toàn vắng bóng. Về mặt lý thuyết đảng là công cụ của dân, nhưng trên thực tế đảng đã trở thành điểm tụ để người dân phải phục vụ. Phương tiện đã trở thành cứu cánh.

Việc kêu gọi hy sinh tranh đấu đã khó, việc xét đoán hành động của mỗi cá nhân trong cách xử thế càng khó hơn. Trên thực tế cá nhân không dễ dàng chấp nhận hy sinh cho một lý tưởng, cho dù nó cao đẹp đến mấy đi nữa. Lòng thân thương gắn bó với thân nhân cũng khiến người ta phải tuân phục để không bị mất đi một người thân trong gia đình. Tương tự như vậy, con người phải chịu lụy vì sợ cảnh đánh phá và đàn áp gia đình và những người thân thương. Việc bảo toàn sự sống chung quy là bổn phận của con người. Vì vậy việc phán xét các dân tộc chịu lụy một chính quyền vì bạo lực không phải dễ dàng.

Vả lại bạo lực không phải phương thức duy nhất để chính quyền khống chế người dân. Một tôn giáo nếu được dùng làm căn bản cho một chế độ cũng khiến người dân phải tuân phục tuyệt đối chính quyền vì chính quyền trong các chế độ thần quyền được coi là phát xuất từ thiên ý của Đấng Tối Cao. Đối với một chủ thuyết cũng vậy, chính quyền nhân danh chủ thuyết để tùy tiện xử lý con người, trường hợp Pol Pot và Khmer Đỏ tàn sát dân Kampuchea nằm trong chiều hướng này. Theo nhãn quan định mệnh tính của những lãnh tụ tôn giáo và các lãnh tụ chủ thuyết, người dân bắt buộc phải có một chính quyền độc đoán vì sự việc phải diễn tiến như vậy và không thể nào khác hơn.

Có lẽ trong một vài trường hợp, dân tộc nào chính quyền đấy. Nhưng phán quyết này có phần hơi hợt vì việc đánh giá một dân tộc dựa trên hình ảnh của một chính quyền gây nên nhiều lấn cấn. Việc đánh giá tùy thuộc quan điểm của người đặt câu hỏi, tùy thuộc cách tiếp cận vấn đề, tùy thuộc vào sự hiểu biết, vào định kiến, vào tín ngưỡng, vào văn hóa và ngay cả vào quan điểm chính trị của mỗi một cá nhân. Khi chúng ta thấy rõ  tiến trình đi đến quyết định và tự do hành động của một cá nhân, lúc đó chúng ta mới có thể đánh giá mức độ trách nhiệm của mỗi một người. Các thể chế dân chủ hiện đại, mặc dù có những khuyết điểm, tạo điều kiện cho phép chúng ta đánh giá dân tộc nào định chế và chính quyền đấy. Ngoài các thể chế dân chủ thực sự này, bàn về trách nhiệm của một dân tộc đối với một thể chế cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Các cá nhân ý thức được trách nhiệm của mình đối với dân tộc hiện nay không có bao nhiêu. Con người bây giờ đã trở nên quá khôn ngoan để hy sinh cho một lý tưởng. Tổ quốc chẳng đem lại điều gì hay ho cho cá nhân nên phần đông an phận thủ thường và đành cam chịu số phận. Chính vì vậy những cá nhân anh dũng như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyền Vũ Bình cần được kính trọng và tôn vinh hơn nữa. Tên của họ sẽ đi vào lịch sử trong cuộc đấu tranh giành dân chủ cho đất nướcViệt Nam, trong một cuộc chiến đánh đổ một chế độ độc tài đảng phiệt cuối cùng, để chứng tỏ cho thế giới biết  người Việt từ chối không lãnh nhận một chính phủ độc đoán và tồi tệ như hiện nay.

Nguyễn Gia Thưởng

 

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]