[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

TÌNH HÌNH NGƯỜI VIỆT VÀ QUAN HỆ VIỆT- NHẬT

Đỗ Thông Minh

 Những người Việt đầu tiên tới Nhật Bản

     Người Việt đầu tiên tới Nhật là một vị sư đi tham dự lễ lạc thành (khai mạc) tượng Phật ở chùa Todaiji (Đông Đại Tự) ở cố đô Nara (Nại Lương) vào năm 752.

     Năm 1695, có 9 người Việt ở Hội An đi làm phu dịch ở Gia Định, thuyền gặp bão và sóng gió trôi dạt sang tận miền nam Nhật Bản. Họ được người Nhật giúp đỡ và gởi theo thuyền Trung Hoa về nước.

     Tuy nhiên, có lẽ công chúa người Việt đầu tiên đến định cư ở Nhật Bản. Bà đã được chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả cho một thương nhân Nhật Bản tên Shotairo Araki (Hoang Mộc Tôn Thái Lang) đến Việt Nam vào năm 1620, để buôn bán tại Phố Hiến, Hội An, tỉnh Quảng Nam. Sau đó bà theo chồng về Nagasaki (Trường Kỳ) sinh sống, với tên Nhật là Anio. Không có ghi nhận về cuộc sống của bà, nhưng khi chết năm 1643, nghe nói mộ được cất quay về phương Nam để hướng về cố quốc. 

Du học sinh và người Việt ở Nhật

     Có nhiều đợt người Việt đến Nhật, nhưng đáng kể nhất là các đợt du học sinh. Có thể chia làm ba đợt như sau :

     - Du học sinh Việt Nam thế hệ thứ 1 khoảng 200 người, do cụ Phan Bội Châu... đưa đi năm 1905-1909. Nên đối với người Việt thì tháng 4-2005 sẽ có ý nghĩa rất lớn, vì đó là thời điểm đánh dấu 100 năm cụ Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính... là các nhà cách mạng lừng danh Việt Nam tới Nhật. Các cụ là những người Việt đầu tiên tự lặn lội tới Nhật vào hạ tuần tháng 4-1905. Tiếp tục là các cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để qua năm 1906, cụ Nguyễn Thượng Hiền qua Nhật năm 1907... Những người qua Nhật đợt này phải trốn lánh Pháp đi lén, có một số người còn rất nhỏ, mới khoảng 13, 14 tuổị Sau đó năm 1909, cụ Phan Bội Châu, Cường Để và các sinh viên bị trục xuất, chỉ có một số ít trốn ở lại. Cụ Phan Bội Châu là nhà cách mạng bôn ba cả đời cho đến khi bị Pháp bắt cóc ở Hàng Châu đưa về Việt Nam năm 1925, bị kết án tử hình tại Hà Nội, nhưng trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận đồng bào, nhà cầm quyền Pháp chỉ đem về Huế an trí và cụ mất tại đây năm 1940. Dự trù một số tổ chức Việt và Nhật sẽ có những sinh hoạt đặc biệt vào dịp này trong năm 2005.

     - Du học sinh thế hệ thứ 2 là những người đi từ khoảng thập niên 1940 đến 1975, tổng cộng có khoảng 850 người, là thế hệ chúng tôi đang hiện diện ở đây, đa số đi tự túc với chuyển ngân, khoảng non 100 người được lãnh học bổng. Hiện ở Nhật còn khoảng 140 người, có khoảng 15 người đã về Việt Nam luôn và 15 người về làm việc thường xuyên, còn đa số đi nước thứ 3. Với các cựu sinh viên, chúng tôi thường hay gọi nhau là "ex-ryu", một từ nửa Anh, nửa Nhật ("ex" là cựu và "ryu" là viết tắt của "ryugakusei" tức Yuf­u, lưu học sinh).

     - Du học sinh thế hệ thứ 3 từ khoảng đầu thập niên 1990, cho tới năm 2004 có khoảng 1.000 người, đã có khoảng 100 người về nước. Đa số được học bổng của chính phủ Nhật Bản hoặc Việt Nam, nhưng cũng có khoảng 100 người đi tự túc do gia đình bảo lãnh chứ không có chuyển ngân, tất cả đều phải đi làm thêm để trang trải các chi phí, phần lớn là tại các tiệm ăn Việt Nam hay đôi khi làm thông dịch, phiên dịch... Tuy nhiên, nếu sau năm học Nhật ngữ, sinh viên đậu vào Đại Học hay Cao Học thì được học bổng của chính phủ Nhật hay các tài đoàn khoảng từ 50.000 đến 100.000 Yen. Đặc biệt, ngày nay, sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể ở lại thực tập hay đi làm, sau khi ở Nhật 10 năm và đi làm 5 năm thì có thể xin định cư ở Nhật.

     Hiện nay có khoảng 20.000 người Việt ở Nhật, gồm khoảng 6.000 người tỵ nạn, 4.000 người đi đoàn tụ, 1.000 sinh viên... và từ năm 1991 có nhiều người đi diện lao động, đươc gọi là "nghiên cứu sinh" trong từ 1 đến 3 năm, nay con số đó khoảng 7.000-8.000 người, nhưng có hơn 40% đã bỏ hãng đầu tiên trốn đi làm hãng khác và trở thành người sống bất hợp pháp... 

Thương mại, tiệm ăn và tạp hóa

     Nói chung, người Nhật cảm thấy dễ gần gũi với người Việt, họ thích món ăn Việt, thích tính cởi mở, vui tươi của người Việt. Còn người Việt thích tinh thần làm việc nghiêm chỉnh của người Nhật, hàng hóa Nhật. Năm 2003 có khoảng 270.000 người Nhật tới Việt Nam (từ 1-1-2004 miễn chiếu khán cho người Nhật du lịch trong hai tuần), trong khi đó, có khoảng vài trăm người Việt tới Nhật. Ngoại thương giữa hai nước mỗi năm tổng cộng khoảng 5 tỷ đô la. Mỗi năm Nhật Bản viện trợ Việt Nam khoảng 900 triệu tới 1 tỷ đô la.

     Trước năm 1975, hầu như chỉ có 2 tiệm ăn của bà Vương Tuyết Định ở Okubo (nay đã đóng cửa) và Sài Gòn Café của ông Nguyễn Văn Ngân (qua năm 1943) ở Yurakucho. Năm 2004, số tiệm ăn thuần túy Việt Nam trên toàn quốc, từ Hokkaido tới Okinawa ước khoảng 100 tiệm, nếu kể cả các tiệm ăn Á Châu và tiệm cà phê có bán thức ăn Việt Nam thì lên khoảng 300 tiệm. Đó là chưa kể các hệ thống tiệm ăn như Shiraki với khoảng hơn 700 tiệm hay các Đề-pa-tô... thỉnh thoảng cũng có món ăn Việt Nam. Đặc biệt là có khoảng hơn 80% những tiệm ăn Việt nhưng do người Nhật làm chủ. Người Nhật rất thích món ăn Việt Nam, phụ nữ Nhật còn thích cả áo dài, tạp hóa... có thể nói phụ nữ Nhật mặc áo dài nhiều nhất sau phụ nữ Việt. Ở Nhật cũng có khoảng 20 tiệm chuyên về tạp hóa, thủ công nghệ Việt Nam, nếu kể cả các tiệm tạp hóa Á Châu có bán hàng Việt Nam thì lên tới khoảng 150 tiệm. Đa số cũng do người Nhật làm chủ.

     Nay người Nhật đã mở khoảng 100 tiệm ăn, tiệm tạp hóa... ở Việt Nam. Đường Lê Thánh Tôn ở Sài Gòn tập trung khoảng 20 tiệm Nhật, được coi là "Little Tokyo".

Đỗ Thông Minh (Tokyo

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]