 “…Nếu Việt Nam rơi vào khủng hoảng, tài phiệt quốc tế rút tiền ào ạt thì Trung Quốc gần kề trong khu vực lại lại giàu tiền mặt nên có điều kiện giúp đỡ, dĩ nhiên kèm theo các điều kiện thuận lợi cho họ về đất đai, an ninh, chính trị, kinh doanh và khai thác khoáng sản…”
Kinh tế Việt Nam và khủng hoảng Đoàn Hưng QuốcViệt Nam là một nước dễ bị giới tài phiệt quốc tế tấn công vì nhiều lý do: dân chúng không tin tưởng nhà cầm quyền; nợ công tăng nhanh; trữ lượng ngoại tệ ít; thiếu chuyên gia quản lý kinh tế và kỹ thuật.
Thị trường nội địa đã nhiều lần bị lũng đoạn qua các cơn “sốt” giá gạo xăng tăng nhảy vọt bất ngờ, kế đó những tin đồn đổi tiền, phá giá đồng bạc khiến vàng và đô-la trở nên khan hiếm, một nguyên do chính vì dân chúng không tin tưởng nhà cầm quyền. Tâm lý quần chúng vẫn còn bị ám ảnh bởi quá khứ 30 năm trước với các lần đổi tiền “đánh tư sản” khiến cả nước bị sạt nghiệp. Gần đây hơn người ta vẫn còn nhớ khi Thứ trưởng Kinh tế vừa bảo đảm sẽ không tăng giá xăng dầu thì chỉ hai tuần sau đó giá cả lại nhảy vọt, nên những dân chúng chẳng những không tin và còn diễn giải ngược lại các lời tuyên bố công khai.
Khả năng lãnh đạo kinh tế cũng bị nghi ngờ vì nhiều cán bộ ở cấp tỉnh quận hay cả thành phố không được đào tạo chuyên môn về kinh tế, luật pháp và quản trị! Nhưng dù khả năng kém, một số không ít quan chức lại trở nên giàu có nhờ tham nhũng, hối lộ; các tin tức sì-căng-đan nổi lên đều đều khiến dư luận không thể tin là giới chức chú tâm quan tâm đến an sinh xã hội hơn là cho bản thân và gia đình, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy tự lo. Vì vậy thị trường nội địa trở nên mảnh đất màu mỡ cho các tin đồn thiệt hay giả do các gian thương tung ra nhằm lũng đoạn giá cả.
Trên phương diện vĩ mô thì số nợ của Việt Nam nếu được chuẩn chi theo các đề nghị của nhà cầm quyền tiến nhanh lên con số khổng lồ. Theo vài con số mà người viết thu thập được, hệ thống cảng biển 5 tỉ USD, điện hạt nhân 10 tỉ USD, sân bay Long Thành 12 tỉ USD, đường sắt cao tốc 56 tỉ USD, xây dựng thủ đô Hà Nội 60 tỉ; tàu ngầm và máy bay Nga gần 3 tỉ USD. Ngoài ra còn những khoản nợ lớn không biết có được nhà nước bảo lãnh hay không, như chiếc máy bay chở hành khách Boeing 787 giá 2 tỉ USD, Airbus 380 2 tỉ USD.
Nếu tinh sơ thì số nợ lớn này lên đến 150 tỉ USD. GDP của Việt Nam năm 2009 là 60 tỉ, nếu tăng trưởng đều ở 6% mỗi năm sẽ ở khoảng 75 tỉ năm 2013. Nói cách khác là nếu mất 3 năm để bàn bạc nghiên cứu rồi chuẩn chi các ngân khoản này thì nợ công tư sẽ vẫn là 200% GDP vào năm 2013 – chưa kể các công trình mới chưa được đề ra.
Trữ lượng ngoại tệ của Việt Nam năm 2008 là khoảng 25 tỉ, theo đà nợ và thâm thủng ngoại thương (nhất là với Trung Quốc) thì dù có tăng nhưng trong 3 năm tới cũng không thể nhảy vọt lên con số đáng kể.
Kết luận là cho dù chỉ lạm chi phân nửa con số được đề nghị thì Việt Nam vẫn sẽ nợ rất nhiều và có thể trở thành mục tiêu để giới tài phiệt tấn công trong vài năm tới đây.
Trường hợp của Việt Nam gần giống Thái Lan năm 1997 hơn là Hy Lạp năm 2010, vì cùng là hai nền kinh tế đang phát triển. Nhà nước, quan chức và tư nhân trong nước hồ hởi dẫn đến tình trạng bong bóng trong khi nợ nần tăng nhanh. Đến khi bong bóng căng phồng thì giới đầu tư quốc tế sẽ e ngại rút ngân khoản hoặc tăng lãi suất cho vay. Việt Nam giống như Thái Lan kềm trị giá hối đối và vay mượn theo đồng đô-la. Khi ngoại tệ bị thâm thụt đến mức nhà nước bắt buộc phải thả nổi hối đoái thì giá trị tiền Đồng sẽ sụp, cả chính phủ lẫn tư nhân không còn khả năng trả nợ dẫn đến khủng hoảng nghiệt nghèo.
Những chuyên gia tài chánh nào đã đánh giá cao khả năng trả nợ của Việt Nam vẫn có thể thay đổi ý kiến trong khoảnh khắc, như họ đã từng làm khiến Thái Lan, Nam Hàn, Indonesia, Phi Luật Tân điêu đứng năm 1997, và Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi chao đảo năm 2010.
Năm 1997 khối Đông-Á được Hoa Kỳ và IMF trợ giúp kèm theo các điều kiện ngặt nghèo – nhưng trong cái rủi có điều hên. Nam Hàn học bài học đó nên quyết tâm thúc đẩy kinh tế trở thành cường quốc. Dân chúng Indonesia biểu tình chống nhà nước lại lật đổ được chế độ độc tài Suharto bắt đầu cho một thể chế dân chủ.
Năm 2010 các nước Nam Âu được IMF và các nước Tây-Âu trợ giúp, cho dù tình hình đến giờ này vẫn còn ngặt nghèo chưa biết sẽ đi về đâu. Những điều kiện cắt giảm chi tiêu của Đức - Pháp khiến dân Hy Lạp và Tây Ban Nha phẩn uất nhưng không có sự chọn lựa nào khác.
Nếu Việt Nam rơi vào khủng hoảng, tài phiệt quốc tế rút tiền ào ạt thì Trung Quốc gần kề trong khu vực lại lại giàu tiền mặt nên có điều kiện giúp đỡ, dĩ nhiên kèm theo các điều kiện thuận lợi cho họ về đất đai, an ninh, chính trị, kinh doanh và khai thác khoáng sản. Bắc Kinh đang muốn tạo một khu vực tiền tệ độc lập khỏi đồng đô-la nên trong hoàn cảnh này có thể áp đặt các điều kiện tài chánh như trữ lượng ngoại tệ của Việt Nam phải bằng Nhân Dân Tệ nhằm buộc chặt nền kinh tế hai nước.Đoàn Hưng Quốc © Thông Luận 2010
|