Xin chào bạn đến với e-ThongLuan
Tìm   trong  

 Đăng ký thân hữuTrang nhất | PDF | Lưu Trữ | Thăm dò | Đề Mục | Liên Lạc  

Trị Sự
· Trang nhất
· Bài Đã Đăng
(xếp theo thời gian)

· Cổ động Thông Luận
· Gửi bài
· Tìm kiếm
· Tủ Sách ThôngLuận
· Trang Nối kết
· Đề tài

Đề mục
· Tất cả các đề mục
· Ý Kiến
· Chính Trị
· Giáo Dục - Xã Hội
· Kinh Tế
· Những Vấn Đề Dân Chủ
· Những Vấn Đề Lịch Sử
· Phiếm Luận
· Quan Điểm
· Thế Giới Quanh Ta
· Thời sự
· Tuỳ bút
· Vì Đất Nước Ngày Mai
· Việt Nam Hải Ngoại
· Việt Nam-Đất & Người
· Văn Hoá-Nghệ Thuật
· Văn hoá-Tư Tưởng
· Xã Hội Dân Sự

Góc của tác giả

Photobucket - Video and Image Hosting Một vài quy ước về bài vở trên Thông Luận

THƯ ĐI TIN LẠI
26/08/2010:
Phạm Đỉnh: Thư Toà Soạn

19/06/2010:
Thư Toà Soạn: Vẫn son sắt một lòng

01/05/2010:
Thông Luận: Thư gởi các bạn “tin tặc”

24/04/2010:
Thanh: Chữ trên trang Thông Luận nhỏ như con kiến

18/04/2010:
Trần Bình Nam: Về một lời phát biểu của linh mục Nguyễn Văn Lý

15/04/2010:
Đỗ Anh Thơ: Lạm bàn về bài “Giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ"

12/02/2010:
Thông Luận: Thư Toà Soạn

03/09/2009: Trần Thị Hồng Sương: TTHS trả lời về câu chuyện Khmer đòi đất…

31/05/2009:
Trần Thị Hồng Sương: Tiếng nói của kẻ sĩ trong cuộc chiến đấu cho dân chủ nhân quyền hiện nay

11/02/2009:
Trần Thị Hồng Sương: Trả lời ông Nguyễn Biên Cương

20/01/2008:
Hoàng Liên Sơn: Làm sao vượt tường lửa?

15/4/2007:
Đỗ Như Điền: Bài trên Thông Luận hơi khác với bài đăng nơi khác !

24/11/2006:
Thanh: Thông Luận là một môi trường thông tin quái gở nhất thế giới!

Xem tiếp thư tín trước đó

Bài đăng gần đây
30/08/2010
· Thảo luận về thế cờ Biển Đông: [1] Hiểm nguy ngay trước mắt! (Bùi Tín)
· Nơi nào triết học im tiếng thì minh triết cất lời (Trần Mạnh Hảo)
· Gặp lại hai cụ “cựu chán binh” tiến bộ cực kì (Tô Hải)
· Ý kiến nhỏ nhân ngày lễ lớn (về lý luận và thực tiễn) (Hà Sĩ Phu)
29/08/2010
· Không thể đi ngược lại xu thế của thời đại (Song Chi)
· Những bài thơ viết từ đồng hoang (Nguyễn Chính)
· Cả nước thích đùa (Lê Thị Thanh Chung)
· Trung Quốc – một cường quốc sau chiến tranh lạnh (Đoàn Hưng Quốc)
28/08/2010
· Tấn công những trang web này đồng nghĩa với tấn công tất cả chúng ta (Dân Làm Báo)
· Vụ án mạng trên xe Lexus đến hồi gay cấn khi Vũ Hải Triều vào cuộc (Đinh Tấn Lực)
· Ai gây nên “Vinashin”? (Nguyễn Thanh Giang)
· Ba đầu, sáu tay, và một chủ đích bất khả thành toàn (K. D.)
· Độc lập hay độc tài? (Phạm Trần)
27/08/2010
· Việt Nam giữa cuộc xung đột Mỹ-Hoa (Ngô Nhân Dụng)
· Chuyện thật ở xứ C còng [8] (Vi Đức Hồi)
· Nhà văn nào, đại hội ấy (Phạm Đình Trọng)
· Trở về đây (Trí Luận)
26/08/2010
· Hãy vững tay lái khi bẻ ngoặt (Bùi Tín)
· Lê Trung Thành - Vinashin: Chuyện bây giờ mới kể [3] (Lê Trung Thành)
· Một khuôn mặt khác của Lưu Á Châu (Dương Danh Dy trích dịch)
· Bây giờ tháng mấy...? (Nguyễn Thượng Long)
· Kỳ thị hay bao dung? (Ngô Nhân Dụng)
· Uất ức biển ta ơi! (Lê Thị Công Nhân)
· Nghịch lí Trung Hoa (Lê Duy Nhân)
19/08/2010
· 65 năm dân chủ hay làm chủ dân? (Phạm Trần)
· Bắt đầu một giai đoạn thay đổi dồn dập (Nguyễn Gia Kiểng)
18/08/2010
· Bẻ lái chiến lược thật chăng? (Bùi Tín)
· Tổ quốc đang lâm nguy (Hương Trà)
· Báo Nhân Dân tả cảnh cộng sản thoát hình thành tư bản (Ngô Nhân Dụng)
17/08/2010
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [11] (Tân Tử Lăng)
· Tính chính danh của Đại lễ Ngàn Năm (Nguyễn Phương Anh)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [10] (Tân Tử Lăng)
· Chuyện thật ở xứ C còng [7] (Vi Đức Hồi)
16/08/2010
· Coi chừng! Cuộc đảo chính không tiếng súng! (Bùi Tín)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [9] (Tân Tử Lăng)
· Tướng Cộng sản Trung Quốc dám nói rõ sự thật (Bùi Tín)
15/08/2010
· Hoa Kỳ trước thái độ cứng cỏi của TQ về Biển Đông (Carl Thayer)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [8] (Tân Tử Lăng)
· Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ (B. Raman)
· Họ đã trở lại (The Economist)
· Trung Quốc táo bạo từ bỏ chính sách đối ngoại của Đặng (Wu Zhong)
· Những đòi hỏi của một chọn lựa đúng (Báo Tổ Quốc)
14/08/2010
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [7] (Tân Tử Lăng)
· Đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa? (Đinh Tấn Lực)
· Chuyện làm ăn của Mỹ (Lữ Giang)
· Bàn tay bè bạn chìa ra đúng lúc (Bùi Tín)
13/08/2010
· Phải thay đổi kỷ cương (Ngô Nhân Dụng)
· Mao Trạch Đông - ngàn năm công tội [6] (Tân Tử Lăng)
· Việt Nam cần có vũ khí nguyên tử (Nguyễn Thanh Giang)
· Thư tâm tình với nhà văn Trần Mạnh Hảo (Bằng Phong Đặng Văn Âu)

Bài viết trước đó

BÀI MỚI !
(Hiện không có bài cho mục này.)

  
Giáo Dục - Xã Hội: Tri thức và tâm thức của nho gia-trí thức Việt Nam (Trần Thị Hồng Sương)
Đăng ngày 07/02/2010 lúc 04:15:55 EST
Đề tài: Nhìn Lại Mình
Nhìn Lại MìnhPhotobucket - Video and Image Hosting

Tri thức và tâm thức
của nho gia-trí thức Việt Nam
Trần Thị Hồng Sương

“…Không lúc nào mà con người cần có sự cân bằng giữa tri thức và tâm thức như thế giới hiện nay trong thập niên đầu thế kỷ XXI!…”

Dễ nhận thấy là có nhiều khác biệt trong từng quốc gia trên khắp các mặt của sinh hoạt tri thức. Có khác biệt vì dân chúng và nhất là giới trí thức tinh hoa nơi đó, trong các lãnh vực văn hoá, có khối lượng tri thức khác nhau hình thành trên những tâm thức khác nhau, khiến hành động phản ứng khác nhau, hướng phấn đấu, niềm vui nỗi buồn và mong ước khác nhau.

Tâm thức khác nhau đó, không chỉ từ hiện tại mà còn từ những nỗi niềm hãnh diện hay tủi cực trong phạm vi gia đình, đến đau thương lịch sử như chiến tranh, thất trận, bị xâm lược, bị đô hộ, bị bạc đãi rẽ khinh, hay truyền thống quốc gia và còn có cả lòng hối tiếc những sai lầm lịch sử. Lịch sử là di chỉ của ký ức, cái chết bảo vệ đất nước của Hai Bà Trưng, oan khiên tru di tam tộc Nguyễn Trãi, tuẫn tiết như Phan Thanh Giản, bị hành hình vì chống Pháp, sai lầm Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm... mang thông điệp bi thảm của cổ nhân luôn làm lay động tâm hồn dân tộc Việt Nam...

Từ nhận thức là nước bại trận, tài nguyên ít ỏi, sự cạnh tranh khắc nghiệt của thương trường, nước Nhật đã dựa hẳn vào óc sáng tạo của người dân, tìm con đường chế tạo hàng gia dụng, chất lượng cao từ robot lau sàn nhà, đến miếng vải lau rửa chén áp dụng công nghệ nano không bám chất bẩn, mẫu mã đẹp, màu trang nhã, giá hợp lý, khiến cả thế giới từ quan quyền đến bà nội trợ phải ao ước được sở hữu! Dần dần chế tạo nhiều thiết bị công nghệ hàm lượng trí tuệ cao như máy siêu âm, thiết bị y tế tinh vi và chính xác... kết quả Nhật vươn lên nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Tính hiếu học của người Nhật còn cao hơn người VN gấp bội và khối lượng chất lượng kiến thức cũng khác nhau không chỉ thiên về văn học triết học mà có nội hàm mang kiến thức khoa học công nghệ nhiều và cập nhật thành tựu sớm sủa.

Trước thế chiến thứ hai, khi nho gia trí thức Châu Á tâm hồn còn bàng bạc nỗi buồn nhược tiểu, ca thán thân phận da vàng trong câu thơ điệu nhạc, thì, thắng trận dễ dàng của Nhật đánh vào các nước lớn nhất như Nga, Trung Quốc, một mặt gây chiến tranh đau thương cho dân tộc nhiều nước, nhưng mặt khác đã là một động viên, gây sự phản tỉnh về trí tuệ, năng lực da vàng.

Lao động cần mẫn có kỷ luật của từng cá nhân được nhận thức sâu sắc và đã thành trách nhiệm kế hoạch sống, không chỉ ở góc độ cá nhân gia đình mà còn là lòng tự hào dân tộc tức chuyện... quốc gia đại sự.

Không như phụ nữ Trung Quốc chỉ học chuyện bếp núc gia đình, phụ nữ Nhật có học như nam giới, có đủ khả năng tự lực, nhưng, khi quyết định có con thường bỏ việc làm, ở nhà để chu toàn bổn phận lo cho con ăn học thành đạt. Nhìn góc độ nữ quyền có vẻ thiệt thòi, song điều này góp phần căn bản để một nước Nhật nhỏ, ít tài nguyên, mà đạt nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Nhưng gần đây người ta bỗng thảng thốt vì bên trong sự thừa thãi kinh tế và tri thức khoa học cao đó có một bộ phận người Nhật cảm thấy rất cô đơn, không phải sự cô đơn trong tự tin vào sức mạnh của con đại bàng ở đỉnh núi cao, như Totem biểu tượng của người Mỹ, mà là sự trống rỗng khi lòng tự hào bị xúc phạm vì thất trận, không tìm ra ý nghĩa cao cả của cuộc sống là gì để xứng hợp với những phấn đấu quá nhọc nhằn của mình. Trong hoàn cảnh chung như thế, nhiều khi chỉ vì mối quan hệ con người-con người trong chốn công sở không suôn sẻ, hay mối quan hệ hôn nhân chốn riêng tư đổ vỡ, người Nhật có thể thất vọng buông xuôi, thậm chí tự tử! Giáo phái Aum ra đời trong giai đoạn phấn đấu kiệt sức của người Nhật, đã quy tập những con người không thiếu tài năng nhưng bất mãn muốn chối bỏ cuộc sống, tiến hành kế hoạch “trả thù cuộc đời”, muốn huỷ diệt con người hàng loạt qua việc chế tạo chất độc Sarine và đánh bom độc sát hại dân chúng vô tội của nhiều người đang tận hưởng niềm vui cuộc sống bình dị.

Không lúc nào mà con người cần có sự cân bằng giữa tri thức và tâm thức như thế giới hiện nay trong thập niên đầu thế kỷ XXI!

Khác với Nhật, Trung Đông giàu tài nguyên thiên nhiên là dầu hoả, đã xem đó như quà tặng của thánh Allah cho một dân tộc cao cả, không hề quan tâm đến học vấn, nghề nghiệp. Nhiệm vụ công dân trọng tâm của họ trong nền chính trị thần quyền là học kinh Coran và thờ thánh Allah. Việc kinh doanh phục vụ khách hàng như làm quản lý khách sạn du lịch để kiếm tiền là việc làm thấp hèn không dành cho dân tộc họ, họ thuê mướn nhân công từ các nước “thấp hèn” khác. Họ đã lạc bước vào thế giới ảo của thần linh ngay đời thường ở hạ giới.

Một số nước thần quyền chịu ảnh hưởng thần linh Hồi Giáo, nhưng ít tài nguyên tìm đường kinh doanh cái chết trắng như Afganistan kinh doanh ma tuý.

Ở nhiều nước trong khu vực Châu Á, mang 100gam ma tuý có thể nhận án tử hình, nhưng Afganistan kinh doanh hàng trăm tấn! Một số nước kinh doanh đen là tiền giả, vũ khí. Khi bị ngăn chận thì sinh ra khủng bố để bảo vệ quyền “chống lại loài người” của họ!
Phe trục Phát xít Đức Ý Nhật chấm dứt năm 1945, thì -theo Richard Pearl nhà tư tưởng của cuộc chiến tranh Iraq và là một trong những tác giả của quan điểm "trục ác"- đầu thế kỷ XXI xuất hiện trục ác Iraq, Iran và CHDCND Triều Tiên. Các nước như Iran, CHDCND Triều Tiên, Cuba, Myanmar, Zimbabwe và Belarus bị ngoại trưởng Condoleezza Rice xem là “tiền đồn chuyên chế”.

Có sự va chạm mạnh ở mức khủng bố và chiến tranh đáp trả, thư hùng sống chết. Đây là cuộc chiến tranh ngăn chận trục ác và các tiền đồn chuyên chế,

Có học giả nhìn sự khác biệt giữa các quốc gia, cộng với đặc thù của nền kinh tế và sắc thái riêng như văn minh lúa nước phương Đông, Văn minh Tây Á... hay nước đã công nghiệp hoá, với đặc thù tôn giáo Phật giáo phương Đông hay Thiên Chúa giáo Phương Tây, Hồi giáo, Ấn giáo... với chế độ chính trị khác nhau đã cho rằng có nhiều nền văn minh khác nhau.

Nhưng nhìn vấn đề ở góc độ vĩ mô thì chỉ có một nền văn minh với nhiều tầng nấc và sắc thái khác nhau.... Con đường khoa học cho thấy những định luật của tự thiên cần khám phá để hiểu biết và ứng dụng chỉ có một, vấn đề khác nhau là cá nhân quốc gia nào khám phá và sở hữu tri thức đó để trở nên mạnh mẻ giàu có: bom nguyên tử, công nghệ nano, thu bắt điện năng mặt trời, sức gió, nhân bản...

Các xung đột chính trị cũng vậy, nếu lột hết mặt nạ chủ nghĩa Quân Chủ-Dân Chủ-Cộng Sản-Phát Xít… đi thì chỉ còn lại vấn đề kẻ dốt, chống lại hiện đại hoá, kẻ tham chống lại xoá bỏ đặc quyền. Ông Nguyễn Khắc Viện nhận ra điều đó khi phát biểu: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học!

Một trong những thành quả hiển nhiên của Việt Nam Công Hoà (1954-1975) là: năm 1973, để nâng cao chất lương con người, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 người so với chỉ 2.900 người vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000. Học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Điều quan trọng là đại học Sài Gòn của VNCH bám vào mục tiêu nâng dần khối lượng kiến thức, cập nhật kiến thức, để hoà nhập vào hệ thống đánh giá thế giới, để được công nhận tương đương!

Tuy nhiên không phải vì thế mà trí thức có học thức cao đều là đáng kính trọng cả! Con người không có giai cấp song cần phân biệt ba phạm trù trong tính cách của một cá thể là lợi thế, đẳng cấp và giá trị. Sinh ra làm con nhà giàu, nhà nghèo, tình trạng sinh học như sức khỏe tốt xấu, có chỉ số IQ cao thấp khiến một người có lợi thế hay không có lợi thế. Đó là những điều thuộc vận mệnh, ngoài ý chí bản thân. Đẳng cấp có được do học tập thu thập kiến thức rèn luyện kỷ năng. Giá trị có được khi ứng dụng các kỷ năng có được phục vụ con người. Giàu, giỏi mà chỉ hoạt động cho cá nhân hay phe nhóm thì không có giá trị. Vì thế đảng CS được đánh giá không có giá trị với cộng đồng dân tộc VN khi chỉ biết lo quyền lực cá nhân và phe nhóm trong đảng!

Tiến sĩ Ifzal Ali, kinh tế gia trưởng của ADB (Ngân hàng Phát triển châu Á), đã phát biểu rất cụ thể: “Nhất thiết phải tách biệt bất bình đẳng trong các cơ hội khỏi bất bình đẳng thuộc vận mệnh của mỗi người”. Nhưng không đơn giản vậy, nhiều người đâu chấp nhận thua thiệt dù là thua thiệt lãnh vực vận mệnh, một bất công nội tại. Giới trẻ các nước vừa là con nhà nghèo vừa ý thức được mình không có khả năng tiếp thu học vấn không có hy vọng tương lai sáng sủa đã sa vào băng đảng và sát thủ trường học.

Lập băng đảng cướp bóc, giết người, để có tiền ăn chơi, làm sát thủ trường học để trả mối... hận đời! Đó là vấn nạn thế giới văn minh phải đối mặt cho dù không còn bóc lột bất công xã hội.

Chính phủ các nước tìm cách bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người dân giữa môt xã hội còn chưa phẳng. Vì con người không có những khả năng giống nhau, đưa đến giàu nghèo khác nhau và không có một hành vi hay ý thức bóc lột nào!

Thật ra, có một sự công bằng còn gần như tuyệt đối trong lợi thế. Đó là người có IQ cao dù sinh ra đâu đó trên ngàn hay dưới đồng bằng, từ các khu ổ chuột đến lâu đài dinh thự không theo một hạn chế nào về không gian và điều kiện vật chất. Dù nghèo mà IQ cao cộng với những đảm bảo xã hội tối thiểu, cũng đủ giúp con người thành công không điều gì phải bất mãn. Giàu mà IQ thấp chỉ là cậu ấm hưởng thừa kế chứ khó có danh phận gì dù không nghèo!

Do đó Âu Mỹ quan niệm sinh con là quyết định quan trọng nhất của con người nếu không cân nhắc khả năng nuôi con giúp con ăn học thành tài, thì sẽ thành: “Cha mẹ của tội ác tương lai!”(John Major cựu thủ tướng Anh 1990-1997).

Không thể cứ sanh con không kế hoạch không giúp nổi con thành đạt sống trong nghèo khổ, rồi dạy con óc tùng phục vô điều kiện: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”. Phía sau câu nói có vẻ đạo lý đó là những mảnh đời... bất hạnh.

Trong nhãn quan chính trị và dòng chảy văn minh tinh thần, Âu Mỹ trải nghiệm qua các thời kỳ lịch sử tư tưởng vô cùng phong phú, từ phong trào Khai sáng được ví như ra khỏi tình trạng “vị thành niên” hết kinh sợ các giáo điều chính trị của vua chúa, giáo điều tôn giáo, hủ tục, khuôn thước văn học... Tiếp đến là phong trào ủng hộ chủ nghĩa duy lý (lý tính). Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Cộng Sản...

Nhờ khối lượng tư duy triết học đồ sộ làm nền tảng, nền văn hoá cũng phong phú theo, học thuật xây dựng hệ thống lý luận nhằm giải quyết một vấn đề xã hội đạt mức sâu sắc ít sai lầm, chính trị quốc gia cũng chuyển biến theo và đúng hướng hơn. Tư tưởng của thời kỳ Khai sáng, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị giúp các chính phủ hình thành Pháp lệnh về các Quyền (Bill of rights) của Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp.

Về trình độ tư duy trí thức Âu Mỹ được học để am hiểu hùng biện và ngụy biện, phân biệt được các lý lẽ và ngụy biện, phát hiện các nghịch lý cuộc sống để góp phần dùng văn học điều chỉnh xã hội. Logic là sử dụng lý tính để rút ra một kết luận đúng từ các tiền đề nhất định bằng cách sử dụng một phương pháp luận như tam đoạn luận (“Con người không bất tử. Socrate là con người. Socrate không bất tử”), quy nạp (“Mặt trời luôn mọc ở đàng Đông, vậy ngày mai mặt trời sẽ mọc ở đàng Đông”), loại suy hay suy luận (ủng hộ một kết luận bằng cách chứng minh rằng các lời giải thích khác là sai)...

Chủ nghĩa duy lý là một học thuyết trong lĩnh vực nhận thức luận, dùng mô tả cách tư duy, nhất là tư duy trừu tượng để tìm ra chân lý khoa học, nhân văn mà chỉ có động vật cấp cao là con người mới có. Duy lý là con đường gần với sự duy nhất để phát hiện định luật thiên nhiên và là phần quan trọng nhất để có chân lý xã hội. Chân lý không đạt được chỉ bằng giác quan, mọi người cùng quan sát và thấy giống nhau. Tuy thấy giống nhau nhưng không phải nhận thức giống nhau và có biện pháp giống nhau do trình độ khác nhau.

Người ta nhìn trái táo rơi nhiều nghìn năm nhưng không ai có khả năng trí tuệ và suy diễn logic để thấy có lực hấp dẫn vũ trụ, nhưng Newton thì thấy, và ông còn thí nghiệm để tìm ra định luật gọi là định luật vạn vật hấp dẫn.

Con người thường tin vào mắt mình và điều diễn ra trước mắt. Nhưng phải dùng trí tuệ và suy diễn logic để tìm ra chân lý hay là sự minh giải. Từ sự minh giải mới có giải pháp đúng hay tìm ra các định luật của giới tự nhiên!

Giác quan chúng ta nhìn thấy mặt trời mọc lên từ đàng Đông rồi di chuyển về phương Tây, qua đó kết luận theo giác quan là ‘Mặt trời quay chung quanh trái đất’, làm nên thuyết “Địa tâm”. Giống khi đi trên xe đang chạy thấy hai hàng cây bên đường chạy lùi ngược chiều! Bằng trí tuệ và suy diễn logic các nhà bác học cho thấy ‘Trái đất quay chung quanh mặt trời’ làm nên thuyết “Nhật tâm”. Nhà thờ giành quyền của khoa học nên phán quyết thiêu sống Bruno vì tội dị giáo ủng hộ thuyết Copernic, dám nói khác nhà thờ. Nhà thờ buộc Galileo Galile từ bỏ thuyết nhật tâm! Để bảo toàn tánh mạng Galileo Galile phải chấp nhận nhưng ra khỏi phiên toà ông nói: “Dù sao trái đất vẫn quay!

Schiller cho không thể hoàn toàn duy lý và muốn chú ý việc "rèn luyện cảm xúc", đưa chúng đến chỗ hoà hợp với lý tính, một trạng thái của sự trưởng thành, hoàn thiện thành con người có kiến thức cao và tâm hồn đẹp. Schiller giải thoát văn chương khỏi những niêm luật cũ kỹ, không hoàn toàn duy lý và chống những gò bó của xã hội. Văn học xem con người là mục tiêu chính, khai thác nét đẹp thiên nhiên tìm cảm hứng ở văn chương bình dân và đã canh tân cả nền văn chương và xã hội lúc bấy giờ.

Giống Schiller, học thuyết "Triết học siêu nghiệm" (Transzendental philosophie) của Immanuel Kant đã đưa triết học Đức vào một kỷ nguyên mới. "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau" -như nhận xét của triết sử gia J. Hirschberger. Ông không chống chủ nghĩa Duy lý nhưng nói: "Tôi đã phải gác tri thức qua một bên để có chỗ cho niềm tin".

Heine có môt câu mô tả về tư tưởng Immanuel Kant cân bằng giữa đời sống lý trí và tâm linh thiên tôn giáo: “Ông lão Lampe phải có một Thượng đế, vì nếu không thì con người đáng thương này không thể hạnh phúc được – lí tính thực tiễn nói như vậy. Và theo tôi, lí tính thực tiễn có thể đảm bảo sự tồn tại của Thượng đế qua cách đó. Vì luận cứ này mà Kant phân biệt giữa lí tính lí thuyết và lí tính thực tiễn. Và với lí tính thực tiễn này, như thể với một cây đũa thần, ông đã hồi sinh cái xác của Thần giáo mà lí tính lí thuyết đã hạ sát".

Chủ nghĩa duy lý trong khoa học có thể gần như tuyệt đối, nhưng trong cuộc sống con người có đan xen phần tâm linh thì không thể tuyệt đối! Và biết đâu trong tương lai một ngày nào đó con người chứng minh có hồn ma để chứng thực có thế giới siêu nhiên. Tuy vậy có hồn Ma chưa phải là có Chúa Trời. Vậy, tuy chưa tin là có song cũng không bác bỏ!

Albert Einstein là một người có cả óc khoa học duy lý và cảm xúc tâm linh phong phú, nói: "Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng".

Immanual Kant cũng là người phân tích về điều kiện xây dựng một nền Hoà Bình vĩnh cửu cho Thế giới! Albert Einstein đã thêm vào điều kiện để đi đến “Hoà Bình vĩnh cửu” của Immanuel Kant là phải “có đường biên giới rõ ràng” giữa các quốc gia không được xâm phạm nhau.

Karl Marx cho rằng "Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước đến nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp". Sự thật là con người luôn đấu tranh nội tại, và qua giáo dục để ngày một tốt hơn cao hơn. Xã hội Bà La Môn Ấn là xã hội giai cấp cực kỳ gay gắt và hoang đường gây ra sai lầm bất công đau khổ. Phật giáo cho rằng: “Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ”.

Thời phong kiến Châu Á, vua quan của VN chịu ảnh hưởng Phật giáo tuy thường nói là giai cấp theo nghĩa dân gian, nhưng thật ra chỉ là giới nhóm... phân theo nghề nghiệp “ Sĩ Nông Công Thương”. Trong văn học dân gian, Trần Minh khố chuối thành Trạng Nguyên chính là một hình mẫu khuyến khích các nho sinh nghèo một ngày nào đó thành Trạng Nguyên tài đức.

Tư tưởng tự do có ý nghĩa không ràng buộc, nhưng tự do theo quan điểm triết học là không chịu ràng buộc tinh thần của các học thuyết chính trị tôn giáo truyền thống...Tư tưởng tự do khẳng định rằng niềm tin cần nên được hình thành trên cơ sở khoa học và lôgic và không nên bị ảnh hưởng bởi tình cảm, quyền lực, truyền thống, hay giáo điều.

Niềm tin phải được xây dựng dựa trên dựa trên cơ sở của các dữ kiện qua truy vấn khoa học, qua xem xét yếu tố phù hợp nguyên lý lôgic, bóc dỡ, bác bỏ các ngụy biện, tránh chịu ảnh hưởng của quyền lực, sự thiên vị trong nhận thức, kiến thức truyền thống, văn hoá đại chúng, định kiến, chủ nghĩa bè phái, truyền thống, lời đồn đại, và các nguyên tắc giáo điều hay sai lầm khác.

Triết lý tư tưởng tự do cho rằng, với các dữ kiện hiện có, các lý thuyết khoa học đã được chấp nhận rộng rãi, và các nguyên tắc lôgic, không đủ bằng chứng cho sự tồn tại của các hiện tượng siêu nhiên, theo khẳng định của tôn giáo!

Do niềm tin đại chúng được dựa trên các giáo điều chính trị, tôn giáo nên quan điểm của những người tự do tư tưởng thường khác với các quan điểm được chấp nhận rộng rãi. Tại Tokyo, có đền thờ triết gia treo một bức tranh mang tên "Bốn người minh triết trên thế gian", trên đó thể hiện hình ảnh Phật, Khổng Phu Tử, Socrates và Kant.

Lịch sử tư tưởng Âu Mỹ xâu chuỗi các tri thức đó dẫn đến một chân trời văn học rộng mở với bao nhiêu đề tài từ cuộc sống chưa đạt đỉnh cao ngang tầm tư duy mà nhà văn tiếp cận được. Triết học rộng mở giúp nhà văn thấy rõ vai trò nhiệm vụ xã hội nâng cao tâm hồn độc giả của mình và sự hữu dụng hiệu quả của văn chương một cách hào hứng và đầy tự hào!

Trong nhãn quan chính trị, triết học giúp trí thức Âu Mỹ hình thành các giấc mơ xã hội như “Giấc mơ Mỹ” chẳng hạn, về xã hội mọi người được tiếp cận điều kiện học vấn để thành công. Ai cũng có thể có giấc mơ làm Tổng thống! Triết học giúp xây dựng hiến pháp công dân hoàn chỉnh và xây dựng trách nhiệm của nhà cầm quyền.

Như chúng ta thấy trí thức Âu Mỹ trong dòng tư duy triết học phong phú kéo theo đời sống văn học, ý tưởng văn chương phong phú. Triết học và văn chưng được trọng đãi, bên cạnh các chính khách bao giờ cũng có các nhà tư tưởng. Một thời gần như “Triết học dẫn đường cho chính sách!”. Các nhà văn kiêm triết gia không phải là hiếm!

Những thành tựu khoa học thực nghiệm và phục vụ nhân sinh rộng rãi đã làm đão lộn phần nào trật tự, đánh đổ tháp ngà chữ nghĩa văn chương dành riêng cho giới học giả văn nhân. Những nhà kỹ thuật chiếm các vị trí danh giá trong lòng xã hội ngày một áp đão vai trò các lý thuyết gia, triết gia!

Ngày nay Tổng Thống Obama phải tuyên bố trước quốc dân quan điểm của môt Tổng thống và ông nói: “Khoa học dẫn đường chính sách!”, đừng hiểu ông chỉ có khuynh hướng thiên về khoa học thực nghiệm mà do ngày nay, ngay cả kiến thức chính trị cũng khoa học hoá thành môt môn khoa học xã hội với các nghiên cứu, lượng giá qua các phương pháp khoa học như khảo sát, thăm dò ý kiến, đánh giá hiệu quả!

Chân dung nho gia và trí thức Việt Nam

Óc hiếu học của dân VN khác hơn Nhật ở chỗ chỉ do tính tự nguyện trong dân và trí thức ngoài chính quyền. Một xã hội bị hạn chế học vấn của thời phong kiến chỉ có con vua, cháu chúa, ít nữa là thân tộc quan quyền mới được học ở Văn Miếu chốn kinh kỳ. Thời đô hộ có thêm trường Quốc học Huế học chữ quốc ngữ thay cho chữ nôm nhưng cũng hiếm người được theo học.

Tuy vậy, từ xa xưa nhờ các nhà nho có tấm lòng thương dân lo mở trường dạy học cho dân tại nhà thầy. Có khi rất nhếch nhác nghèo nàn:
Nhà trống ba gian môt thầy, một cô, một chó cái,
Học trò dăm đứa, nửa Người, nửa Ngợm, nửa Đười ươi!
Đó là lý do vì sao mà dân thương thầy giáo nhiều đến vậy.

Vua ngày xưa tuy không chăm lo việc học cho dân song luôn biết chuộng nhân tài, các khoa thi được chấm điểm công bằng và nhiều Trạng nguyên là người ngoài hoàng tộc từ mọi miền đất nước và đều được vua trọng dụng. Lịch sử giáo dục văn học VN kéo dài hằng ngàn năm chỉ với giáo điều căn bản của hai nền triết học Phật giáo và Khổng giáo tận đến giữa thế kỷ XX không có chuyển biến đáng kể trong tư tưởng giới nho gia trí thức.

Trọng học thức là nét văn hoá tinh thần có liên quan đến nỗi niềm lịch sử bị nô lệ, đô hộ nhục nhằn và cố gắng để thoát ra chứ chưa phải lo danh phận. Chắc chắn từ thời lập Văn Miếu đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, Bình dân học vụ có ảnh hưởng sâu đậm đến đến thanh niên thập niên 40 của thế kỷ XX đến nay.

Đến thời Pháp thuộc, dù chống Tây nhưng đã làm được một chuyển biến đúng là thay chữ nho bằng chữ quốc ngữ dễ học, và rời xa ảnh hưởng của Trung Quốc, bắt đầu từ ngôi trường Quốc Học mà cụ Ngô Đình Khả thân sinh Tổng Thống Ngô Đình Diệm làm giám học đầu tiên.
Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học chín người thôi!
Cụ Tú Xương chỉ nói về việc bỏ học chữ nho, học chữ quốc ngữ: “Vất bút lông đi dắt bút chì” chứ không nói đến khiếm khuyết khác về nội hàm thiếu tính khoa học và công nghệ của nền giáo dục nho gia.

Thời nho học VN có thi hào tài hoa xuất chúng trong kỹ năng sử dụng tiếng Việt, làm nên án văn chương tuyệt tác là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Các thi sĩ của thời đại giao thoa giữa chữ nôm và chữ quốc ngữ còn để lại lòng khâm phục tận đến ngày nay. Tuy nhiên nội dung còn đóng khung thường chỉ là tiếng thở dài về thân phận, ca tụng lòng trung trinh trong trẻo hay giận kẻ gian tham u ám của một thế giới lưỡng cực rạch ròi đơn giản thiện ác của con người... theo mô típ biểu tượng âm dương, với chút niềm hy vọng mong manh là trong âm có dương như trong hoạ có phúc!

Đáng kinh sợ là sức mạnh mông muội của hủ tục, nhất là khi được văn học mang tính xu nịnh hỗ trợ. Các nhà văn VN, do không trải qua suy nghiệm triết học, chủ nghĩa duy lý nên có nhiều nhận thức khá thiên lệch. Trong nền triết học Khổng Mạnh mối quan hệ vua dân được đẩy lên thành kính sợ chỉ đứng sau Thần Thánh một cách không đúng thực chất và nuôi dưỡng đặc quyền. Văn học xu phụ của Trung Quốc đã làm ngơ trước những hủ tục như tục bó chân của phụ nữ Trung Quốc, hiện tượng duy nhất trên thế giới cũng quái dị như hiện tượng “cà răng căng tai “ của các bộ tộc người còn xa lạ với ánh sáng văn minh. Bước chân “tàn tật” phụ nữ được văn nhân Trung Quốc chọn lựa và đẩy lên thành một biểu tượng mỹ học để thẩm định... nhan sắc mỹ nhân! Chỉ vỉ vua yêu bàn chân nhỏ, gót sen ca nữ mà phụ nữ cả một dân tộc của đất nước rộng lớn nhất nhì và đông dân nhất... thành tàn tật!

Văn học Việt Nam bám thực tiễn cuộc sống hơn:
Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa!
Tuy nhiên cũng không thoát khỏi sự đóng khung tư tưởng trong tam cương ngũ thường.

Hình ảnh người vợ cam phận làm vợ làm con dâu bị bạc đãi trong gia đình, hình ảnh người mẹ nghèo chắt chiu như chị gà mái cần mẫn bới tìm thức ăn cho đàn con đông đúc vẫn được coi là những tượng đài văn học bất khả đổi thay:
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi,
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng!”
Lại còn thứ túi khôn kiểu như: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”. Sao con người phải diễn dịch mọi thứ từ tính cách của loài thú vật, học đòi tính cách chó như thế chứ!

Bóng dáng người phụ nữ thời hiện đại tài năng và quyết đoán làm chủ cuộc đời mình đến nay còn mờ nhạt trong văn học VN. Khi tri thức chưa khai sáng hay triết học chưa tự do thì văn học... không có đề tài lớn.

Việt Nam có một khoảng thời gian ngắn sản sinh tiểu thuyết văn xuôi của Hồ Biểu Chính của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, văn học tiền chiến bắt đầu tiếp cận triết học Âu Mỹ, đã để lại các tác phẩm có giá trị, nhưng sau đó sớm rơi ngay vào nền chính trị Cộng Sản và bị tiêu diệt qua vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm mà sát thủ tay sai chính là Tố Hữu. Bắt đầu là một tài năng thật sự, thiếu bản lĩnh chính trị bị biến thành tay sai, Tố Hữu đã mang thép vào thơ và mang thêm máu và nước mắt vào xã hội.
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin … bất diệt”
Văn học bị chính trị sử dụng vào tuyên truyền cho chính sách của nhà nước, che giấu nền chính trị phi nhân bản.

Bị thu hút bởi chiếc bánh vẻ tương lai và danh phận cao hơn khả năng cần thiết, nhà báo tầm thường Trần Huy Liệu dẫn đầu giới trí thức văn nghệ sĩ vào công cuộc vẽ mặt diễn tuồng để “chính trị dẫn đường văn học”, tích cực biến cái không thành có, vu cáo đối phương, biến cái giả thành thật (như là vẽ ra một anh hùng nhỏ tuổi Lê văn Tám!).

Tận hôm nay thay cho việc “hủ tục dẫn đường văn học” ở Trung Quốc, VN ngày càng mở rộng quan điểm“chính trị dẫn đường văn học” trong cố gắng ngăn cấm sách báo nước ngoài, gò ép giới báo chí và mở các cuộc thi văn chương ca tụng chủ nghĩa xã hội, học tập gương Bác Hồ! Tất nhiên trong môi trường đó thứ văn học Khai sáng và Tự do phải thui chột vì bị bóp chết từ trong trứng nước bởi nền chính trị giáo điều và tri thức giáo điều dẫn đến mụ mị của chính giới trí thức của nhà nước CSVN!

Có vẻ chưa bao giờ trí thức Việt Nam cảm thấy đất nước đi đúng đường hướng phục vụ được nhân sinh cho nên vua nào cũng có xung đột với môt bộ phận trí thức không phải công thần! Trong nhãn quan chính trị quân chủ độc tài VN xa xưa, trí thức cầu tiến phê phán thì vua dùng khủng bố, tru di.

Qua thế kỷ XX, thời kỳ Việt Nam tiếp xúc chủ nghĩa Cộng Sản trong nhãn quan hạn hẹp và tri thức triết học ngoài Khổng giáo và Phật giáo thì không có gì. Không có một tri thức một cách có hệ thống để biết tranh luận logic từ triết lý đến tôn giáo nên dễ coi Karl Marx như một phát hiện mới mẻ. Cộng với nhãn quan thiển cận của người Cộng Sản Nga Tàu hầu hết là quân nhân hiếu chiến cho nên VN dấn sâu vào sai lầm của chủ nghĩa Mao. Vì phi nhân nên Mao Trạch Đông đối kháng với trí thức. Mao chỉ biết dùng bạo quyền cai trị, khinh bạc gọi trí thức là “cục phân”, là tiểu tư sản lập trường không kiên định. Cách mạng văn hoá vừa thảm khốc hãi hùng cho dân Trung Quốc vừa nhạo báng nền văn minh nhân loại khi đã bước vào kỷ nguyên nhân bản hoà bình và nhân đạo... Còn ở VN là vụ án đau thương Nhân Văn-Giai Phẩm, kể cả CCRĐ cũng mang thêm mục tiêu đánh sập giới chính trị tiên tiến chỉ vì không Cộng Sản!

Sau 1975 miền Nam bỗng nhận ra sự xuất hiện dàn trí thức XHCN đông đảo chỉ được học các giáo điều chính trị CS, có bằng cấp chính trị và chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền cho chế độ, giống như các giáo sĩ học kinh Coran, các nhà sư học kinh Phật, hay các linh mục tu sĩ Thiên Chúa giáo có bằng cấp thần học! Không có giới trí thức có tinh thần triết học rộng mở và biết tư duy logic tránh sa vào ngụy biện. Nhà nước CSVN từ nhận thức giáo điều sai lầm đó thiết kế ra thứ luật pháp dành đặc quyền cho thiểu số.

Albert Einstein từng tranh luận với thầy học: “Bởi vì không một ai đã từng quan sát tiến trình tiến hoá có thực sự xảy ra hay không, và lại càng không chứng minh được tiến trình này có điều gì đó đang cố gắng hình thành. Như vậy không phải là Thầy chỉ dạy ý kiến của mình thôi sao ? Và do vậy Thầy không phải là nhà khoa học, mà chỉ là người giảng giáo điều mà thôi!”

Chúng ta thấy óc giáo điều đưa đến sai lầm thậm chí tội ác như thế nào trong giới có học thức, bởi vì những thứ họ học chỉ là tín điều và giáo điều trong khi điều trí thức phải học là suy luận logic trong triết học!

Việt Nam hiện có cả môt dàn trí thức với nhũng tri thức được liệt vào giáo điều lạc hậu. Bởi vì không ai đủ tri thức hay lương tri để hiểu rằng “Không một ai trong chúng ta từng quan sát mô hình chủ nghĩa Cộng Sản thành công và tiến trình đó có cố gắng và hình thành được một xã hội hoà bình tốt đẹp hơn, tạo ra cho con người phẩm giá cao hơn, cuộc sống hạnh phúc hơn, giàu có hơn, khoa học cao hơn...”. Trái lại thực tế cho thấy CS dùng bạo lực và sự vô học cướp chính quyền, gây ra chiến tranh, thảm sát, con người bị sử dụng như công cụ và cuối cùng là sự sụp đổ chối bỏ của nước đi đầu là Liên Xô. Như vậy những gì được giảng dạy về chủ nghĩa CS tốt đẹp là ý kiến của vài cá nhân nhà cầm quyền và là những giáo điều mà thôi!

Tố chất quan trọng nhất của nền tảng tri thức là không được để rơi vào giáo điều! Triết lý chuyên chở thông điệp và là chân trời đón nhận tư duy rộng mở. Chính trị chọn một số thông điệp làm cương lĩnh. Tôn giáo chọn một số làm giáo lý làm nền tảng. Cá nhân con người chọn làm nhân sinh quan thế giới quan của mình! Những người bảo thủ trong chính trị tôn giáo và cá nhân đã biến các thông điệp này thành bất di bất dịch, bất khả xâm phạm, không ai được quyền sửa đổi nữa. Tình trạng đó gọi là giáo điều.

Triết lý là các nẻo tư duy phong phú rộng mở có đúng có sai, song không nguy hiểm nếu không biến tư tưởng triết học thành giáo điều bất chấp thực tế chứng minh sự không hiệu quả. Vậy trong lãnh vực tư duy đáng quan ngại nhất là óc giáo điều.

Giáo điều chính là tín điều trong tôn giáo và chính trị, và hủ tục trong dân rất dễ bị hiểu lầm đó là chân lý, nó giam nhốt con người kín bưng trong điều sai, lạc hậu trong “nhân dáng cúi đầu và tâm thức thụ động”!

Giới luật trong tôn giáo, hủ tục trong dân gian, cương lĩnh trong chính trị CSVN là các phạm vi thường khi sa vào giáo điều. Khi giáo điều sai lầm sẽ trở thành hủ tục trong dân gian, mê tín trong tôn giáo và tính huỷ diệt thảm khốc trong chính trị. Duy lý là tri giác của tâm thức chủ động, niềm tin là tri giác của tâm thức thụ động.

Tư cách người trí thức thời nay

Trí thức theo nghiệp văn chương dường như còn ít hiểu về trí thức, nhất là thiếu vắng trí thức các ngành khoa học. Trong số những người minh nhiên đặt lại vấn đề người trí thức VN thời hiện đại là nhà văn Phạm Thị Hoài trong bài diễn thuyết về đề tài “Tư cách của người trí thức Việt Nam” cách nay đã mười năm. Trong bài diễn thuyết kia, nhà văn có nêu ra một vài ý kiến dưới đây như là những nan đề cho người trí thức thời nay:

• …tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.

• Trong cái số phận (đội sổ) dường như là vĩnh viễn hẩm hiu đó của dân tộc ta thì người trí thức tham dự như thế nào?

• …“Văn học ấy (của Việt Kiều) cũng không khá gì hơn, cũng trì trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác”. Vậy lời đáp nằm ở đâu?

Trước hết, yêu địa vị và trọng quyền lực có thể là ý hướng chính đáng khi đã có một thang giá trị xã hội công bằng không phải là vấn đề để phê phán. Kẻ bất tài bám địa vị quyền lực làm hại dân hại nước mới đáng nói! Và thang giá trị xã hội công bằng là đòi hỏi hàng đầu để thiết kế ra xã hội công bằng. Giàu có không xấu, giàu có do tham nhũng mới xấu!

Hiện nay CSVN chỉ trọng dụng kẻ xu phụ ít học song truyền thống hiếu học vẫn y nguyên nếu không muốn nói là mạnh mẽ hơn!

Nhà nho xưa dù là mệnh quan triều đình rất nhiều người thất vọng cáo quan về quê mở trường dạy học để khai dân trí khi gặp thời vua không hiền. Có kẻ ương ngạnh bị tru di tam tộc như Cao Bá Quát hay tự tử như lúc vận nước bế tắc như Phan Thanh Giản... Rất nhiều người trí thức trong đảng CS Trung Quốc muốn vào Đảng để mong “thay máu cho Đảng”, song khác hơn Liên Xô họ đã thất bại vì thành phần dốt nát còn áp đảo.

Còn ở VN hôm nay, câu nói của người mẹ Nguyễn Tiến Trung rằng lòng cầu mong điều tốt đẹp cho đất nước của con mình lại bị kết tội và “ở nước VN thì phải chịu vậy thôi!” có khác nào câu thơ phẫn hận tương truyền là của Cao Bá Quát ngày xưa?
Ba hồi trống giục...đù cha kiếp!
Một nhát gươm đưa...đéo mẹ đời!
hay câu nói của Galilé khi ra khỏi toá án dị giáo La Mã:”Dù sao thì trái đất vẫn quay!

Người ra lệnh giết và tru di tam tộc thần thi Cao Bá Quát là vua Tự Đức, người từng khâm phục ông:
“Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường!”
Người ra lệnh bỏ tù Lê Công Định, NguyễnTiến Trung, Trần Hùynh Duy Thức, Lê Thăng Long và nhiều trí thức khác cũng từng mong sử dụng họ. Ai cũng muốn kẻ tài năng làm thuộc hạ, song ai có tài năng cũng không bao giờ chấp nhận thân phận thuộc hạ!

Nguyễn Văn Siêu là người năm 1865 huy động công đức, bỏ công sức và tài trí tôn tạo quần thể chùa Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, Đài Nghiên Tháp Bút, nằm bên hồ Hoàn Kiếm Quần thể kiến trúc này hiện vẫn giữ được nguyên vẹn dáng vẻ 150 năm trước đó.

Gần 200 năm trước, Nguyễn Trường Tộ (1828 -1871) dù ở ẩn nơi quê nhà, ông đã gởi lên triều đình bản điều trần giá trị, đề nghị chính quyền cải cách chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, giáo dục... Ông còn giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Kế Viêm đào kênh Sắt, là con kênh xưa Hồ Quý Ly dự định làm nhưng không thể. Ông cũng đưa ra đề nghị đào kinh thông thương Hà Nội Huế vì từng biết về kinh đào Suez 1854 mà cho đến nay các thầy giáo XHCNVN thế kỷ XXI còn ra đáp án rằng đó là một đề nghị mang tính hoang tưởng. Cho nên cuộc đời ông đến chết còn ân hận cơ nghiệp chẳng ra gì:
Nhất thất túc, thành thiên cổ hận
Tái hồi đầu, thị bách niên cơ...

(Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận
Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm...)
Cuộc đời các danh nho VN trong nền quân chủ lạc hậu hay đô hộ cho thấy rằng làm quan chưa hẳn là do tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực mà chính ra muốn nhờ địa vị quyền lực, thực hiện nhiều công trình dân sinh lớn lao! “Hoà nhập để cải sửa”, giống như trí thức Trung Quốc vào “đảng để thay máu cho đảng”.

Dễ dàng nhận thấy nho gia trí thức có phương thức khác hoàn toàn với tư tưởng xây dựng lực lượng trong cấp thấp không có tư tưởng, dùng bạo lực cướp chính quyền để thực hiện cải sửa xã hội theo quan điểm giai cấp công nhân của Cộng Sản.

Không ai không phấn đấu địa để có địa vị, quyền lực, kể cả tiền tài nữa. Kẻ bất tài còn phấn đấu gấp bội như Cộng Sản bằng tất cả thủ đoạn như dựa vào thế lực nước ngoài bằng con đường chết chóc chiến tranh tranh đoạt địa vị quyền lực và tiền tài. Sự phấn đấu của kẻ ác và bất tài yêu địa vị quyền lực là tai hoạ cho đất nước, khiến chúng ta đang phải gánh chịu!

Trí thức khi đạt danh phận bằng tài năng học thức vẫn tốt hơn ngàn vạn lần dùng thủ đoạn chính trị.

Vua Chúa ngày xưa dành quyền hưởng điều tuyệt đỉnh nhưng luôn dạy dân chúng phải biết điều tự hạn chế chấp nhận những gì được vua ban làm nên thân phận “thần dân”, qua lời giáo huấn nhuốm mùi đạo Lão xui con người phải biết “tự hạn chế”!
“Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc?
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn!”

(Biết thế nào là đủ thì sẽ thấy đủ nếu tìm mải cái đủ thì bao giờ mới đủ. Biết thế nào là nhàn sẽ thấy nhàn tìm mãi cái nhàn thì bao giờ mới nhàn!)
Vì tinh thần này mà người Châu Á khó có thành công ở tuyệt đỉnh vinh quang!

Bill Gates là người có tài sản lớn nhất thế giới, từng nói: “Làm người nổi tiếng giàu có đã khó, làm người tốt còn khó hơn. Nhưng tôi sẽ trở thành cả hai trước khi chết!” Cái nhàn làm thoả mãn cá nhân nhưng không có hiệu quả xã hội, cho nên Bill Gates tài danh và tiền bạc đã thành “tượng đài” của con người đương đại mà quốc gia nào cũng muốn sỡ hữu một người công dân như thế! Ở xứ mình cũng có những người giàu mới nổi là các doanh nhân, nhưng họ chưa có phẩm hạnh như Bill Gates mà hầu như chỉ mới có một “hiểu biết”: sự liên kết quyền lực xấu xa để làm giàu.

Ở Mỹ có môt khoảnh khắc thời Tổng thống Roossevelt các nhà tư bản làm mưa làm gió, giống như các đại gia Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc, Nga hiện nay. “Trong đầu họ chẳng có gì khác hơn là những lề thói của một thế hệ chỉ biết mưu cầu tư lợi cho bản thân. Họ không hề có tầm nhìn, mà khi lãnh đạo không có tầm nhìn thì đất nước suy vi. Những kẻ đó đã rời bỏ chỗ ngồi cao trọng trong ngôi đền văn minh của dân tộc chúng ta. Bây giờ chúng ta có thể cùng nhau đem đền thờ thiêng liêng này trở về với chân lý bất di bất dịch của dân tộc. Biện pháp thích đáng cho chúng ta là cùng nhau thực thi các giá trị cao đẹp của tính công bằng xã hội thay vì mù quáng chạy theo đồng tiền. (Tổng thống Franlin D.Roosevelt).

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho bỏ tù trí thức phản biện, thì lại nói rằng đối với giới doanh nhân ông không những tin mà còn hãnh diện vì họ! Doanh nhân Việt Nam có gì để hãnh diện, khi giá thuốc nhập cao hơn giá bán ở nước ngoài nhiều lần, chất lượng thực phẩm không an toàn?... Một số có lợi thế nhờ hợp tác với nhà nước làm chủ công ty sân sáu cua quan chức hay kinh doanh địa ốc bằng vốn vay ODA còn ân hạn tức chưa đến hạn trả nợ! Họ không cần biết đến giá trị dân chủ tự do công bình nhân quyền, tức không làm khó một nhà nước CSVN vi phạm nhân quyền...

Xét về tâm thức “hướng đỉnh cao” thì thứ nhất là người Nhật, người Mỹ kế đến người Anh người Đức, Singapore... Riêng Châu Á nếu xếp hạng thì người Campuchia ít quan tâm về sự nghiệp nhất, kế đến là Lào rồi Thái Lan. Trí thức Trung Quốc và Việt Nam có thể ngang nhau!

Không riêng gì nhà văn Phạm Thị Hoài, nhiều trí thức xưa nay vẫn nhìn óc hiếu học của người VN một cách không tích cực. Chính Cao Bá Quát cũng từng bỉ thử: “Nhai văn nhá chữ, buồn ta, Con giun nào biết đâu là cao sâu!”. Nhưng thiết nghĩ có lẽ nhà văn và trí thức thường méo mó nghề nghiệp, thích mô típ nhà văn không màng danh lợi mới là... cao quý, giống nhà nho cáo quan về dạy học để đỡ vướng bụi trần chăng?

Có lẽ một phát biểu của nhà văn Phạm Thị Hoài rằng cô là nhà văn “có con mắt u ám” về xã hội có nhiều phần đúng! Còn tôi thì cảm nhận cô là nhà văn còn “trinh bạch” của khuôn mẫu XHCN và dưới mái trường học XHCN, chưa trải nghiệm qua dòng tư duy của chủ nghĩa duy lý hay tự do. Ở cô đã bớt nhiều lắm rồi những tín điều Khổng giáo, Phật giáo xa xưa, thêm một chút phản kháng nhà nước khiến cô có vẻ khang khác nho gia VN xưa! Nhà văn cũng có vẻ không cho trí thức luôn là giới quyết định tiến bộ xã hội chứ không ai không giới nào khác. Con đường làm kinh tế quốc tế mà không có doanh nhân có tri thức khoa học sáng tạo, có ước mơ hướng thiện có nhà nước có trách nhiệm thì vốn vay ODA tăng cao cho đến khi... suy thoái phá sản là khó tránh được.

Hiện nay ở Trung Hoa đã có một xu hướng nổi lên trong giới trí thức: nghiên cứu, nhìn lại mình để tìm nguyên nhân và phê phán những những khiếm khuyết trong tố chất của người Trung Quốc trong gần 100 năm qua để có được một hệ thống xã hội tốt đẹp, điều cần thiết nhất là phải xây dựng được tố chất công dân thế giới như tự giác bồi dưỡng tinh thần tự do dân chủ,bình đẳng, tăng cường tu dưỡng đạo đức, pháp luật, khoa học... (Theo Thế kỷ công dân. Nxb Công An Nhân Dân, 2007).

Học giả Hà Tông Tư bắt đầu quyển sách bằng tư tưởng sau đây:
Sự phồn vinh của một quốc gia không quyết định bởi quốc khố giàu có, không quyết định bởi thành quách phòng thủ kiên cố, cũng không quyết định bởi sự tráng lệ của những công trình công cộng...mà quyết định bởi tố chất giáo dưỡng quốc dân tức là nền giáo dục mà mọi người tiếp thu được, ở kiến thức sâu rộng và nhân cách của mọi người. Đây mới chính là sức mạnh thật sự,là nguyên khí thật sự của đất nước” (Martin Lude, người Mỹ)
Ông duyệt xét lịch sử: Nền cộng hoà mà Tôn Trung Sơn lập ra sau cách mạng Tân Hợi vấp phải nhiều gian truân, sự phản động của cách mạng văn hoá khi hô hào: “ Trí thức càng nhiều thì phản động càng nhiều!”... Hà Tông Tư viết:
“Đại hoạ cách mạng văn hoá “ xảy ra suốt mười năm ở nửa sau thế kỷ XX là lấy sự ngu dốt để chống lại khoa học, lấy dã man chống lại văn minh, lấy chủ nghĩa chuyên chế để chống lại dân chủ, lấy sự thụt lùi của lịch sử chống lại sự tiến lên của lịch sử!”
Ông đưa ra câu hỏi: vì sao những thứ phản khoa học phản dân chủ của “Đại cách mạng văn hoá” lại được hầu hết số đông người chấp nhận như vậy? Ông cho nguyên nhân là do nhân cách người Trung Quốc. Ông viết:
“Nhân cách là tiêu chuẩn để đo nền văn minh của một quốc gia, đầu tiên là tiêu chí để đo sự văn minh chính trị.”

“Một quốc gia nếu không có văn minh chính trị thì văn minh vật chất của nó cũng chẳng được bao nhiêu tiến bộ và đảm bảo lúc nào cũng có thể bị phá hoại và huỷ diệt, văn minh tinh thần càng không thể bàn tới! (Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách, Nxb. CAND, 2007, tr. 8-10)
Theo Hà Tông Tư, nhân cách người Trung Quốc chồng chập giữa chủ nô và nô lệ đối nghịch nhưng lại nhất thống trên một con người nên hoàn cảnh khác nhau con người đó khác hoàn toàn!

Chủ nô với bản chất như: làm ra vẻ thần thánh, xưng hùng xưng bá, ngang ngược tàn bạo, tự cao tự đại, đội trên đạp dưới, ngoan cố không thay đổi. Nô lệ với tính cách: nhẫn nhịn phục tùng, già dối xão trá, dựa dẫm, lười biếng trốn việc, tự hạ thấp mình, nhẹ dạ mê tín, đóng kín bảo thủ.

Đầu tiên là hài lòng với cung cách “nô lệ” ngoan ngoãn, giới thiệu vào Đảng và khi có vai trò chức quyền thì cá tính “chủ nô” lộ diện lập tức thành kẻ cường quyền và tham nhũng!

Tại Việt Nam đang có một ngộ nhận lớn về quan niệm về phát triển: khi nghe nói kinh tế Trung Quốc vươn lên hàng thứ ba đã tưởng rằng đó là kết quả của nền chính trị XHCN mà VN ta đang cố bám vào và chỉ cần cải cách kinh tế là đủ! Tuy nhiên một phát biểu của Tổng Thống Obama làm kinh ngạc nhiều người.
“Trong buổi lễ ra mắt quỹ cải cách giáo dục “Race to the Top” của Mỹ, Tổng thống nước này Barack Obama đã khuyến khích các trường học ở Mỹ phát triển các tiêu chuẩn cạnh tranh quốc tế để các các sinh viên Mỹ có thể đuổi kịp “sinh viên ở Bắc Kinh và Bangalore”. Tổng thống Obama đã đúng khi tăng đầu tư cho giáo dục, nhưng nếu xem hệ thống giáo dục của Ấn Độ thuộc hàng đẳng cấp quốc tế thì có lẽ chưa thực sự chuẩn xác.

Ở Ấn Độ, việc đặt chân vào những trường đại học đẳng cấp cao ở Ấn Độ như Viện Công nghệ Ấn Độ và Viện Quản lý Ấn Độ còn khó khăn hơn cả vào những trường danh tiếng hàng đầu của Mỹ như Havard.” (Theo Business Week)
Vậy là Bắc Kinh đã có chuyển hướng có kế hoạch nhân lực mũi nhọn không thua Mỹ Nhật và trên Ấn Độ một bậc! Việt Nam chưa hề nghĩ đến vậy thì trách nhiệm nhà nước CSVN vào việc hình thành trí thức ra sao?

Không có tiếp cận thông tin thì trí thức XHCN chỉ là một thứ robot chỉ lập lại điều đã lập trình! Cứ nghe giáo sư Tương Lai trả lời phỏng vấn nhân ngày 3/2/2010 thì biết về bi kịch trí thức “đương đại”!

Làm nhà văn đương thời song sáng tạo ra được sắc thái văn chương đương đại hay không còn rất mơ hồ và cam go! Bước vào đó sẽ có ngay cảm giác không đủ thời gian sống hoc tập và hiểu hết các ngóc ngách của tư tưởng, cần có thời gian tiêu hoá mới có thể để sáng tạo ra các giá trị đương đại thì biết!

Có hai hiện tượng có thể dùng suy ngẫm để có một tư duy rộng mở và nhân bản hơn nhiều tính xây dựng hơn đạp đổ của CSVN. Cùng môt hành động bạo hành “ném giày” vào diễn giả là cấp cao nhà nước, ở Iraq, kẻ ném giày vào Tổng Thống Bush được cho là anh hùng, nhưng ở Anh kẻ ném giày vào quan chức Trung Quốc là Thủ tướng Ôn Gia Bảo được cho là hành vi đáng xấu hổ, chứng tỏ cá nhân đó không có trí tuệ để tranh luận, không biết cách giải quyết bất đồng! Riêng Trung Quốc lúng túng và đưa ra hai bình luận khác nhau cho cùng một sự việc có tính chất giống nhau, chứng tỏ khi chính mình bị xúc phạm thì lập tức có thiên kiến, đó là xấu!

Thứ hai là Hà Nội không thành công làm đường hoa như Sài Gòn làm từ nhiều năm nay. Có lẻ cần 20 năm nửa và một nền giáo dục chống lại bạo lực và phá hoại thì Hà Nội mới có các công trình công cộng nghệ thuật được chính người dân có óc công dân cao bảo vệ.

Chưa trải nghiệm các nẻo tư duy khó có nhân cách biết kềm giữ cảm xúc bản năng và ứng xử tầm cao, càng không thể có giấc mơ cho nền chính trị như “Giấc mơ Mỹ”.

Đáng lo là tâm thức Trung Quốc và Việt Nam còn mang dấu tích bái vật giáo cổ đại nên chọn và gửi gấm ước ao vào vật tổ làm biểu tượng là “Totem Rồng”, còn nhà văn Trung Quốc gửi tâm sự mơ tưởng vào “Totem Sói “như tác giả Khương Nhung gửi gấm tâm tư! Óc tưởng tượng hay bản năng hoang dã còn lưu dấu mả người Trung Quốc và Việt Nam khiến Việt Nam luôn mơ cái bánh vẻ XHCN, còn Trung Quốc thành nước xài luật rừng với lân bang và đe doạ hoà bình thế giới bởi óc hiếu chiến như loài Sói!

Nghèo rất đáng sợ và nếu “ văn chương hạ giới rẻ như bèo!” chính vì chỉ có văn chương không thì không có tác dụng vực dậy cuộc sống đói nghèo của một dân tộc cũng như lăng mộ tượng đài lễ bái cúng kiến không đưa đến tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước hay cá nhân! Phải thay vào đó phải là trường học phòng thí nghiệm xưởng sản xuất chứ! Lăng mộ đền đài nào hoành tráng đến ngạc nhiên như Angkor nhưng chính do đổ hết công sức vào đó mà Campuchia mất hơn 2/3 đất nước!

Trần Thị Hồng Sương
(5.2.2010)

© Thông Luận 2010

 
Trang liên hệ
· Đọc thêm về Nhìn Lại Mình


Bài được đọc nhiều nhất trong Nhìn Lại Mình:
Góp ý về vấn đề biểu tượng cho cuộc vận động dân chủ hoá đất nước (Phạm Đỉnh)


Lựa chọn

 Trang in Trang in

 Gởi đến cho bạn bè Gởi đến cho bạn bè


"Đăng Nhập" | Log vào/Đăng ký độc giả | 0 Ý kiến
Là một diễn đàn tự do, Thông Luận không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả.

Bạn đọc ẩn danh không thể đăng ý kiến của mình, xin đăng ký ở đây trước


Copyright © 1988-2010 Thông Luận
Chủ nhiệm: Phạm Đỉnh

Thongluan - Address: 7 Allée Bouleau Carreau, 77600 Bussy-Saint Georges, France
ISSN 1145-9557, năm thứ 22.
Liên lạc:
hopthu@thongluan.org



PHP-Nuke Copyright © 2004 by Francisco Burzi