 Giáo dục Việt Nam qua cái nhìn của người Mỹ Văn thư nội bộ của một viên chức Hoa Kỳ “…Đối diện với sức kháng cự mãnh liệt này, chính sách của ông là thiết lập những hệ thống song song và trội giỏi hơn để chứng minh sự phá sản của nhóm thủ cựu đang nắm quyền chỉ huy các trường ngày hôm nay…”
Văn Thư Nội Bộ của một viên chức Mỹ về những vấn đề giáo dục mà Việt Nam sẽ yêu cầu Mỹ giúp, khi Thủ Tướng Dũng (và PTT Nhân) gặp TT Bush vào tháng 6/2008Phạm Đỉnh: Thông Luận xin chuyển đến bạn đọc một tài liệu do một viên chức Hoa Kỳ soạn thảo để chuẩn bị cho phiên hội kiến giữa Tổng thống G.W. Bush với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trong chuyến công du Hoa Kỳ Tháng Sáu 2008 vừa qua.
Tài liệu hé mở cho thấy cái nhìn người Mỹ về hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, và từ đó các viên chức giáo dục Mỹ hi vọng là phía Hoa Kỳ có thể dùng vai trò và ảnh hưởng của mối quan hệ hợp tác giáo dục song phương để góp phần thúc đầy tiến trình cải tổ giáo dục Việt Nam mà chính giới lãn hđạo đương quyền cũng khao khát.
Mưu sự của giới chức Hoa Kỳ là thế. Làm được hay không sẽ còn tuỳ vào khả năng của mỗi bên.
Tuy vậy, những ai quan tâm đến tiền đồ giáo dục Việt Nam, cũng là quan tâm đến việc đầu tư tương lai cho đất nước, sẽ nghĩ gì về quá trình chuyển hoá giáo dục như được phác hoạ trong tài liệu này? Tiến trình chuyển đổi giáo dục Việt Nam như được hình dung theo chiều chuyển hoá từ đào tạo cấp cao học trở xuống có phải là đáp án duy nhất đúng chăng? Một tiến trình đầu tư tương lai như thế sẽ vững chãi hay rồi cũng sẽ phí phạm như bao nhiêu đợt cải cách giáo dục trong suốt hơn ba mươi năm nay?
Thông Luận mời gọi các nhà chính trị, nhà kinh tế, và chính những nhà giáo dục Việt Nam cùng xem tài liệu này như một gợi ý phản biện, để cùng nhau tiếp lời thanh nghị với những nhà trí thức đã và đang đau đáu tâm sự trước đêm dài giáo dục Việt Nam hiện nay. Nếu nhìn hiện tình để chẩn đoán tương lai, thì nhà giáo dục Việt Nam thấy gì thấp thoáng ở cánh cửa vào tương lai?
Mong nhận được những ý kiến của thức giả Việt Nam trong và ngoài nước.
1. Tóm Lược: Hệ thống giáo dục của Việt Nam đang gặp khủng hoảng và thiếu nhân lực có khả năng là một một trong những yếu tố kìm hãm quan trọng nhất trong vấn đề phát triển và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Các viên chức cao cấp Việt Nam, kể cả Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, đều thấy thách đố này và đã công khai yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam thay đổi cách giáo dục dân của mình. Không dễ dàng chuyển đổi một hệ thống hỏng hóc hiện tại đang được đội ngũ thư lại thiếu năng lực của ngành bao che kín kẽ, nhưng Hoa Kỳ có một cơ hội tốt để tạo chuyển biến và để lại dấu ấn của mình lên trên hệ thống giáo dục của Việt Nam trong tương lai. Bước đầu, Thủ Tướng Dũng đã chấp nhận chi phí «gạch và hồ» cho một trường Đại Học Hoa Kỳ, còn phía Hoa Kỳ thì bổ nhiệm vị Viện Trưởng, cùng một vài nhân sự hành chính và ban giảng huấn. Ông cũng yêu cầu chúng ta giúp mở chương trình đào tạo Tiến Sĩ tại Hoa Kỳ cho ít nhất 2.500 thanh niên Việt Nam, với điều kiện là những thanh niên thiếu nữ này sẽ trở về làm hạt nhân của thành phần ưu tú chính trị và hàn lâm quốc gia trong những thập niên tới. Phần lớn các sinh viên này sẽ được Việt Nam tài trợ.
2. Tôi tin rằng đáp ứng tích cực những lời yêu cầu này, có lẽ vào đúng dịp hội đàm hè năm nay giữa Tổng Thống Bush và vị Thủ Tướng, sẽ rất phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ. Đáp ứng lời kêu gọi của Viêt Nam, không những hàng chục triệu sinh viên Việt Nam mà còn cả những phụ huynh có tinh thần hiếu học của họ sẽ thấy là Hoa Kỳ là đối tác trọng yếu cho tương lai cá nhân và tập thể của họ. Họ sẽ nhìn Hoa Kỳ như là một mẫu mực «Tiêu Chuẩn Toàn Cầu» mà Việt Nam muốn noi gương. Lúc này mà ta tích cực cộng tác với họ thì sẽ tạo cơ hội để Hoa Kỳ có thể giúp tác động lên thái độ của Việt Nam đồi với Hoa Kỳ và giúp trong nước họ xây dựng dần một nhà nước dân chủ và đa nguyên. Sử dụng nguồn nhân lực hiện có, chúng ta đã tham gia nhiều chương trình và dự án giúp hiện đại hoá hệ thống giáo dục và đào tạo thế hệ lãnh đạo Việt Nam tương lai. Nay lại cộng thêm nguồn tăng viện mới từ bên ngoài và giúp khơi nguồn cho những hợp tác chiến lược giữa nhà nước và tư nhân thì sẽ làm giàu thêm ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với hệ thống giáo dục Việt Nam, và định hướng cho xã hội Việt Nam mai sau. Đoạn 18 dưới đây sẽ liệt kê các yêu cầu cụ thể về những dự án giáo dục cấp nhà nước, USAID, và FCS. Phần Tóm Lược đến đây là hết.
Hiện tình giáo dục Việt Nam
3. Việt Nam đang đối mặt với khủng hoảng giáo dục toàn diện khiến có thể phá hỏng những tiến bộ về kinh tế và hội nhập thế giới. Các viên chức thì không được huấn luyện về quản lí giáo dục, thầy cô giáo thì được đào tạo bết bát và trả lương thấp, và nạn tham nhũng tràn lan khắp mọi cấp trong ngành. Thêm nữa, cơ hội học đại học bị hạn hẹp vì hệ thống giáo dục hiện nay chỉ có thể tuyển sinh một tỉ lệ sinh viên rất bé nhỏ. Năm 2007, các trường đại học Việt Nam chỉ nhận 300.000 trong số 1.8 triệu thí sinh dự thi tuyển sinh. Mặc dù số sinh viên đại học đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990, số giảng viên thì hầu như không đổi, dữ kiện thống kê làm điên đầu các chuyên gia. Mặc dù có gia tăng, Việt Nam đứng hạng chót trong vùng theo tỉ số sinh viên ghi tên vào ngành giáo dục cấp ba, chỉ có 10% ở cấp đại học, dưới con số 15% của Trung Hoa, 41% của Thái Lan và 89% của Nam Triều Tiên, theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới. Ngay cả những sinh viên may mắn được vào đại học cũng phải đụng đầu với một hệ thống trong đó giáo sư được trả lương theo hệ thống đơn vị lớp dạy và không có cơ cấu bảo đảm chất lượng giáo dục. Bằng Tiến Sĩ (Ph.D) được mua và một giáo sư được đề cử qua tiến trình hành chánh, chứ không qua danh giá và công sức của một sự nghiệp giáo dục.
| | | Mớ xà bần giáo dục Việt Nam |
4. Tệ hơn nữa, nạn tham nhũng đã lan tràn như bệnh ung thư vào trong hệ thống. Các nhân viên hành chánh và các giáo sư lương ít lại mua chức và rồi quấy nhiễu các phụ huynh đã trả tiền cho con vào học và phải trả phụ trội thêm để cho giáo sư cho con mình lên lớp. Cho đến gần đây, những vụ gian lận do giáo sư tổ chức trong các kỳ thi sát hạch toàn quốc đã thành thông thường, rõ nét nhất là khi kết quả kém phản ánh một cách tồi tệ lên trên «hệ thống». Có thể tiên đoán Việt Nam thua kém các nước láng giềng trong việc cung cấp hiểu biết và canh tân. Năm 2006, hai đại học lớn nhất Hà Nội – Đại Học Quốc Gia Việt Nam và Đại Học Kỹ Thuật Hà Nội – cho ra đúng 34 tập san khoa học, so với con số 4.556 của Đại Học Quốc Gia Hán Thành và gần 3000 của Đại Học Bắc Kinh. Việt Nam cũng không được điểm cao trong mức độ đo lường khác về khả năng canh tân, tính theo số lượng đơn xin bằng sáng chế của cư dân, họ chỉ nộp có hai đơn năm 2006 so với 40.000 của Trung Hoa.
5. Thất bại trong hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng do các đại học không có khả năng đào tạo con số nhà quản lí điêu luyện và công nhân có kỹ năng Việt Nam cần có để canh tân nền kinh tế. Sự thiếu hụt về nhân sự có kỹ năng này là yếu tố duy nhất và quan trọng nhất giam hãm sự phát triển tương lai và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, một sự kiện đã được thị trưởng thành phố Hồ Chí Minh nhắc nhở trong cuộc hội đàm ngày 17 tháng 4 với Bộ Trưởng Dịch Vụ Y Tế và Nhân Sự (HHS – Health and Human Services) Leavitt đến viếng thăm Việt Nam.
Một ví dụ về sự khan hiếm này, một công ty công nghệ cao của Hoa Kỳ phỏng vấn 2000 sinh viên mới tốt nghiệp, họ được coi là những người «giỏi nhất và sáng giá nhất» của Việt Nam, chỉ tìm thấy 40 thí sinh có trình độ tối thiểu để kết nạp. Tình trạng này không phải do kết quả thiếu ngân sách tài trợ cho ngành giáo dục, đứng vào mức 4,3% trong tổng sản lượng quốc gia, ở Việt Nam cao hơn những nước láng giềng Trung Hoa, Triều Tiên, Phi Luật Tân, hoặc Thái Lan. Tất cả những sự kiện này thật là oái oăm và đau buồn, vì rất nhiều phụ huynh sống trong một xã hội theo Khổng Giáo sẽ cầm cố linh hồn của mình để bảo đảm cho con cái có được một giáo dục tốt. Nếu tính tất cả những chi phí của họ, các phụ huynh đã phải tiêu pha khá rộng rãi để đẩy mạnh giáo dục thăng tiến con cái, nhưng với một hiệu quả không đáng kể và thảm não.
Kế hoạch và mục tiêu của Giáo Dục Việt Nam
6. Các cấp lãnh đạo Việt Nam nhìn nhận những vấn đề này và muốn cải thiện hệ thống giáo dục. Phát ngôn nhân của Thủ Tướng Dũng trong vấn đề cải tổ giáo dục là ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng, kiêm Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo, và từng là môn sinh của chương trình Fulbright. Ông Nhân đã thiết kế một chương trình nhiều tham vọng để thay đổi cơ cấu hệ thống giáo dục Việt nam và phơi bày những khiếm khuyết trầm trọng của nó. Những ưu tiên được dành cho việc hoàn tất phổ cập hóa giáo dục (nâng cao việc tuyển dụng thiếu nữ, các sắc tộc thiểu số và những người kém may mắn, nhiều người vẫn chưa được hội nhập hệ thống), sửa chữa chương trình đào tạo giáo sư, xem xét lại toàn bộ chương trình giảng dạy trên tất cả các chủ đề ở mọi cấp bậc, khai triển chiến luợc chính thức nhất quán về chứng nhận và lượng giá, thiết lập một đại học cao cấp và được thế giới công nhận và cải tiến tiêu chuẩn phẩm chất của các giáo sư qua huấn luyện và thi đua liên tục. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi một ngôn ngữ ngoại quốc – đặc biệt Anh ngữ – cho các học sinh ở lớp tiểu học, cũng như gia tăng kỹ năng trong ngành IT (kỹ thuật thông tin). Để có thể thực hiện được những thay đổi này, ông cũng nhấn mạnh việc đào tạo quản lý cho các hiệu trưởng trung học, đại học và các khoa trưởng đại học và đã yêu cầu chính quyền đầu tư nhiều hơn vào các định chế giáo dục ở mọi cấp độ và lương bổng các giáo sự được tăng một cách đáng kể.
7. Bộ Trưởng Nhân đã bày tỏ sự rộng mở chưa hề có trước đây đối với việc tham gia của Hoa Kỳ trong việc cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục của Việt Nam. Ông đã đề nghị một sổ cải tổ chiếu theo mô hình của Hoa Kỳ, trong đó bao gồm khế ước tuyển dụng, thiết lập những tiêu chuẩn phẩm chất tổi thiểu, chứng thư quốc gia, phát triển chương trình giáo dục, một hệ thống giáo dục ở cấp ba dựa trên tín chỉ. Thêm vào đó, các quản trị viên của Đại Học Việt Nam đã đề ra mục tiêu đào tạo các viên chức và các giáo sư trẻ, đặc biệt trong ngành quản trị giáo dục đại học, dạy phương pháp học, và Anh ngữ. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ấn định những mục tiêu tương tự cho tất cả các cấp lãnh đạo đại học và trường trung học. Các viên chức nói rõ cho chúng tôi biết là họ muốn việc huấn luyện này được thực hiện tại Hoa Kỳ.
| | | Tham nhũng trong giáo dục |
8. Để chứng tỏ sự cởi mở của Việt Nam đối với phương pháp giáo dục của Hoa Kỳ, Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã cho phép mười phân khoa của chín đại học thực hiện toàn bộ chương trình của hệ thống Hoa Kỳ, trong đó có chương trình giáo dục, thiết kế chương trình, môn học và phương pháp dạy hướng về sinh viên, và tất cả những bài vở được dạy bằng tiếng Anh. Ví dụ , Đại Học Cần Thơ đã sao chép chương trình Sinh Hoá và Sinh Học Phân Tử của Đại Học Tiểu Bang Michigan, và Trường Đại Học Kinh tế Việt Nam đã rập theo khuôn mẫu Phân Khoa Tài Chánh theo Chương trình của Đại Học California, Long Beach. Thêm vào đó, một chương trình mới về luật sẽ được dạy tại Đại Học Cần Thơ mùa thu năm nay sẽ là một sự đổi hướng dứt khoát với phương pháp hoàn toàn lý thuyết và từ chương vẫn được áp dụng trong các trường đại học luật của Việt Nam, bằng cách áp dụng phương pháp dựa trên sự nghiên cứu đối tượng và hoàn cảnh cụ thể thường được áp dụng cho hầu hết các trường luật Tây phương.
Việt Nam tìm kiếm trợ giúp của các nước
9. Việt Nam đang phải đương đầu với một thâm thủng có thể lên đến $100 triệu Mỹ Kim hàng năm cho ngân sách tài trợ kế hoạch giáo dục, và đang cố gắng lấp lỗ hổng này bằng cách tìm kiếm tài trợ quốc tế và giúp thực thi cải cách. Trong cuộc hội đàm mới đây với Đại Sứ Michalak, Phó Thủ Tướng Nhân đặc biệt yêu cầu trợ giúp của chính quyền Hoa Kỳ trong hai lãnh vực thiết yếu, mà ông cho là có ảnh hưởng lớn đến mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam:
- Thiết lập một đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam và
- Đào tạo 2500 tiến sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ vào năm 2020.
10. Đại Học Hoa Kỳ sẽ do Hoa Kỳ hoàn toàn đảm nhiệm, với ban quản trị, chương trình giảng dạy, phương pháp giáo khoa và phong cách giáo khoa của Hoa Kỳ. Giáo sư Hoa Kỳ sẽ quyết định những thiết bị nào quan trọng và giám sát tất cả các quyết định khác về giáo khoa và quản trị để bảo đảm đại học hội đủ những tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Viện Trưởng Đại Học sẽ là người Mỹ trong 10 năm đầu và tất cả môn học sẽ được dạy bằng tiếng Anh. Đại học sẽ thu nhận trong khả năng tối đa 5.000 cho đến 10.000 sinh viên hàng năm và sẽ chuyên ngành trong một số lãnh vực (có thể là bảy), trong đó bao gồm quản trị kinh doanh và điều hành công sở, và công nghệ sinh học. Theo kế hoạch này, mỗi ngành hoặc phân khoa được mỗi đại học Hoa Kỳ khác nhau thiết lập. Để thành lập Đại Học Hoa Kỳ, ông Bộ Trưởng nói rằng chính quyền Việt Nam hoạch định mượn 100 triệu Mỹ kim để tài trợ việc mua đất, xây cất cao ốc và trang bị phòng thí nghiệm. Ông trông mong Hoa Kỳ tuyển dụng và tài trợ đại học và các quản trị viên trong 10 năm đầu. Trong kế hoạch của ông, 80% đại học là của Hoa Kỳ khi đại học mở cửa, với tỉ lệ giảm xuống 20% vào cuối 10 năm khi các sinh viên Việt Nam đã kết thúc chương trình huấn luyện. Chi phí sơ khởi tổng quát cho nhân sự Hoa Kỳ lến đến 100 triệu Mỹ Kim trong vòng 10 năm.
11. Đào tạo 2.500 tiến sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ là một phần của chương trình to lớn hơn nhằm đào tạo 20.000 tiến sĩ, một nửa tại Việt Nam và một nửa ở nước ngoài. Hoa Kỳ, qua trung gian của Hiệp Hội Giáo Dục Việt Nam, hiện nay tài trợ học bổng Hoa kỳ cho 70 tiến sĩ hàng năm, nhưng chỉ trong những ngành khoa học thuần túy. Vì vậy Việt Nam đã yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp trong việc xây dựng một hệ thống đồng nhất hóa các trường đại học Hoa Kỳ và ấn định mức giảm chi phí hoặc tìm thêm học bổng cho 160 thí sinh tiến sĩ mỗi năm để thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này. Chương trình của Việt Nam hiện nay là sẽ tài trợ cho một số hoặc toàn bộ chí phí cho những sinh viên này.
Những bước đầu của Công Sứ giáo dục
12. Thời gian đã chín muồi để khai triển chương trình trao đổi giáo dục với Việt Nam. Các cấp lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đồng ý cải tổ giáo dục thiết yếu đố với sự phát triển lâu bền của đất nước, họ nhận thấy hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đứng hàng đầu thế giới, chính phủ sẵn sàng chấp nhận sự trợ giúp của Hoa Kỳ, và những đại học của cả hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam mong muốn thắt chặt tinh thần hợp tác. Thành công sẽ đến trong ngắn hạn cũng như dài hạn trong mối liên hệ song phương, vì chúng ta tái tạo trong môi trường giáo dục ảnh hưởng sâu đậm mà trợ giúp nhắm vào một mục tiêu thu gọn đã gây được trong việc cải tổ hệ thống quản trị kinh tế của Việt Nam.
| | | Bệnh “thành tích”, gọi nôm là bệnh dối trá |
13. Có những chướng ngại cần phải khắc phục. Trong khi các cấp lãnh đạo tán thành mạnh mẽ việc cải tổ toàn diện nền giáo dục, có những người trong chính quyền và đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn lo sợ sự cởi mở và trao đổi tự do tư tưởng, một thành tố bất khả phân của bất cứ một hệ thống giáo dục nào có tầm vóc quốc tế. Tuy nhiên, nếu phải vượt qua những trở ngại, không có phương cách nào hay hơn là bằng con đường giáo dục. Một trở ngại khác, hiện nay đang làm điêu đứng Phó Thủ Tướng Nhân, là vật lộn với những quyền lợi bất di bất dịch của nhà giáo và nhà quản lí ngày nay, người có quyền thế nhất trong nhóm của họ đã mua chức vị để mong hưởng lợi sẽ không dễ gì thuyên chuyển họ đi một cách êm thắm. Thành thật mà nói, đây là lý do chính tại sao ông Thủ tướng kêu gọi đến Đại Học Hoa Kỳ và chính phủ Hoa kỳ để đào tạo các tiến sĩ (Ph.D). Đối diện với sức kháng cự mãnh liệt này, chính sách của ông là thiết lập những hệ thống song song và trội giỏi hơn để chứng minh sự phá sản của nhóm thủ cựu đang nắm quyền chỉ huy các trường ngày hôm nay. Một di sản không mấy tốt đẹp của não trạng kế hoạch trung ương tập quyền là các đại học có khuynh hướng đánh giá thành quả chỉ dựa trên số lượng không theo phẩm chất. Hiện nay, những bài giảng của họ được ghi sổ để trả lương và thăng chức chứ không phải phẩm chất của kinh nghiệm giáo khoa.
14. Thêm vào đó, người ta có thể biện luận mục đích của Thủ Tướng nhằm đào tạo các tiến sĩ là tốt nhưng sai hướng. Một chương trình đào tạo ít tiến sĩ đi nhưng nhiều thạc sĩ văn chương (M.A.) và thạc sĩ khoa học (M.S.) có thể gây ảnh hưởng lớn hơn, với nhiều giáo sư nhằm vào những lãnh vực Việt Nam cần đến hơn. Trong khi Việt Nam cần phải tiến xa hơn trong lãnh vực học tập và nghiên cứu, hệ thống giáo dục ngày nay quá tồi tệ nên chúng tôi nghĩ rằng mục tiêu 10 năm phải là cải tổ hề thống để cho nó có khả năng đào tạo những thí sinh sau này sẽ trở thành giới sáng tạo và canh tân. Bằng cấp thạc sĩ là chuẩn mức để đào luyện kỹ sư, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, kế toán, nông nghiệp và các môn khác. Một thầy giáo có bằng thạc sĩ Hoa Kỹ và hiểu biết tầm quan trọng của tự do tư tưởng và sự dấn thân của sinh viên trong ngành giáo khoa sẽ biểu trưng một tiến bộ lớn đối với phần lớn nhóm giáo sư hiện nay. Một khi Việt Nam có được một đội ngũ sinh viên tốt nghiệp đại học với kỹ năng cao, việc chuyển sang nghiên cứu sẽ có ý nghĩa hơn.
15. Tuy nhiên, những cản trở và những biện luận này có thể khắc phục hoặc thay đổi trong lúc thi hành nếu có được trợ giúp đúng chỗ. Điều quan trọng là chúng ta năm bắt cơ hội ngày hôm nay, và đầu tư vào lời yêu cầu của ông Thủ Tướng và lòng ngưỡng mộ chung của dân Việt Nam đối với phương pháp giáo khoa của Hoa Kỳ. Nếu chúng ta bước qua cánh cửa mở rộng này, chúng ta sẽ năm bắt cơ hội duy nhất, với sự đồng tình công khai của các cấp lãnh đạo, để ảnh hưởng sâu đậm đến hệ thống giáo dục của Việt Nam. Qua các chương trình của chúng ta, và bằng cách tìm phương cách phát triển đối tác tư nhân và nhà nước, chúng ta có thể nhắm đến những mục đích xa hơn bằng cách giúp các viên chức và các cơ sở giáo dục của Việt Nam đạt được những mục tiêu sau đây:
- sáp nhập chương trình giáo dục của Hoa Kỳ trong nhiều lãnh vực;
- áp dụng phương pháp giáo khoa của Hoa Kỳ, chú trọng đến tư duy, giải quyết vấn đề, kỹ năng lãnh đạo thay cho lối học từ chương;
- gia tăng hiểu biết về Hoa Kỳ và các cơ sở của Hoa Kỳ qua các lớp hướng theo chiều hướng quốc tế và các khóa học tập Hoa Kỳ;
- cải tiến huấn luyện ngôn ngữ Anh văn, để cho các sinh viên biết tự tiếp thu thông tin về Hoa Kỳ và thế giới;
- quảng bá học hành tại Hoa Kỳ, để các sinh viên lãnh đạo tương lai có được những kinh nghiệm trực tiếp với xã hội và giá trị của Hoa Kỳ;
- hợp tác sâu rộng với các đại học, các công ty, các cơ quan phi chính phủ Hoa Kỳ ; và
- đạt được thành quả đào tạo cần thiết trong việc quản lý giáo dục.
16. Để hiểu rõ hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho những cố gắng giáo dục tầm vóc của Hoa Kỳ tại Việt Nam, Đại Sứ Michalak triệu tập một Hội Nghị Giáo Dục tại Hà Nội vào những ngày 24-25 tháng Giêng năm 2008. Sự kiện mới mẻ này đã tụ tập gần 200 tham dự viên Hoa Kỳ trong cố gắng cải cách giáo dục tại Việt Nam, trong đó bao gồm hơn 100 đại học, công ty và cơ quan phi chính phủ Hoa Kỳ với những chương trình giáo khoa có chất lượng, để chia sẻ những thông tin về những hoạt động và những thách đố của họ và thảo luận làm thế nào việc hợp tác có thể giúp tất cả mọi bên thực hiện được mục tiêu của mình một cách hữu hiệu hơn. Hội Nghị cũng cho phép Công Sứ (Giáo Dục) hiểu biết thêm chiều sâu của công chúng Hoa Kỳ và nhờ đó thiết lập một chính sách phổ thông và hữu hiệu để gia tăng ảnh hưởng của Hoa Kỳ lên trên lãnh vực thay đổi mau chóng của nền giáo dục Việt Nam. Chúng tôi xác nhận, trong lúc phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ, chúng ta cũng có thể đáp ứng lời yêu cầu của các cấp lãnh đạo Việt Nam trong lãnh vực trợ giúp giáo dục. Một Hội Nghị thứ hai, dự định vào đầu tài khóa 2009, được tổ chức nhằm kết hợp giáo giới Hoa Kỳ và Việt Nam. Sự việc này sẽ trực tiếp hỗ trợ cho dự án của Sở Ngoại Thương nhằm xúc tiến sự liên hợp giữa các chương trình dạy kỹ thuật thông tin của Đại Học Hoa Kỳ và Việt Nam.
17. Sử dụng các nguồn lực sẵn có và các thông tin thu thập thêm trong lần Hội Nghị Giáo Dục thứ nhất, phương sách của Công Sứ Giáo Dục bao gồm những yếu tố sau đây :
- Chương trình Fulbright tại Việt Nam: mỗi năm, chương trình này gởi 25 sinh viên có tiềm năng sang Hoa Kỳ để lấy bằng phó tiến sĩ trong nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm Cao Đảng Quản Trị Giáo Dục, và gởi 10 giáo sư cấp đại học sang Hoa Kỳ nghiên cứu nhằm mục đích cải tiến phẩm chất của bài dạy. Thêm vào đó, nhiều chương trình Fulbright đặt hơn 20 giáo sư và chuyên viên nghiên cứu Hoa Kỳ vào Đại HọcViệt Nam để duyệt xét lại giáo trình, thiết lập các khóa học mới và chương trình tốt nghiệp, đào tạo phân kho và quản trị viên. Để khai triển Chương Trình Fulbright, Công Sứ phải trước tiên được sự hỗ trợ của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, và đang chuẩn bị phát động một chiến dịch để nhận tài trợ của các công ty Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam nhằm mục đích gia tăng nỗ lực đầu tàu này. (Công Sứ làm việc với Văn Phòng Fulbright của chính phủ và các văn phòng khác để bảo đảm họ chấp hành quy luật giải quyết tất cả những vấn đề xung đột quyền lợi.)
- Hiệp Hội Giáo Dục Việt Nam (VEF) : VEF hiện nay tài trợ cho 70 sinh viên tiến sĩ mỗi năm. Công Sứ đang thăm dò phương cách trải rộng tầm hoạt động của chương trình, cả trên phương diện tài trợ và lãnh vực nghiên cứu nguồn trợ giúp.
- Huấn luyện ngôn ngữ Anh cho giáo sư : các giáo sư giỏi sẽ trải rộng nhóm sinh viên có khả năng du học Hoa Kỳ và gia tăng phẩm chất tổng quát của môn sinh ngữ Anh, hiện nay còn thấp. Dựa trên những cố gắng vượt bực hiện nay của Công Sứ trong lãnh vực này qua chương trình Nghiên Cứu Sinh Anh Ngữ (ELF- English Language Fellows) và những chương trình liên quan đến Giám Đốc Anh Ngữ Địa Phương (RELO – Regional English Language Officer) có trụ sở ở Bangkok, Công Sứ đã yêu cầu và nhận được tài trợ của ECA (Export Credit Agencies- Cơ quan Xuất Khẩu Tín Dụng) cho 10 Trợ tá Huấn Luyện Anh Ngữ của chương trình Fulbright (ETA), và sẽ khởi sự làm việc tại mười đại học vào tháng 9 năm 2008, cho mỗi một niên khóa. Công Sứ cũng làm việc với các viên chức Việt Nam ở vị trí then chốt và các giáo sư để khởi sự việc thành lập ViệtTESOL (Teachers of English to Speakers of Other Languages – Hội Nghiên Cứu và Giảng Dạy tiếng Anh) và hội sẽ phụ trách huấn luyện và đào tạo các giáo sư Anh ngữ nguời Việt.
- Một nỗ lực ngoại giao mạnh mẽ : Chúng ta làm việc trên nhiều mặt để khuyến khích một số lượng lớn sinh viên Việt Nam có kỹ năng cao để tiếp nhận hệ thống giáo dục cao đẳng của Hoa Kỳ. Những thống kê liên tục điều tra cho thấy Việt Nam nhìn nhận trường học Hoa Kỳ có một nền giáo dục chất lượng cao, tuy vậy hàng ngàn sinh viên đã, cho đến nay, du học Úc Châu và các nước khác, nghĩ rằng tiêu chuẩn giáo dục Hoa Kỳ quá cao, đặc biệt trong tiến trình xin thông hành. Chúng tôi đang nỗ lực làm việc để điều chỉnh lối nhìn này bằng cách nới rộng tầm tay. Trình bày, đối thoại qua internet và những cố gắng dang tay khác – đôi khi do chính các viên chức sứ quán đảm trách - do đó xem ra cần thiết để bảo đảm con số sinh viên càng ngày càng gia tăng ý thức được chuyện này và bắt nắm cơ hội để du học Hoa Kỳ. Kết quả rất đáng khích lệ với con số sinh viên du học Hoa Kỳ gia tăng theo tỉ lệ lũy thừa.
- Gia tăng trao đổi: Chúng ta sẽ nâng cấp những chương trình đã có sẵn để các viên chức đại học có thể tiến hành những chương trình giáo dục Hoa Kỳ. Các viên chức Đại Học Việt Nam cho chúng tôi biết mục tiêu tối thượng là huấn luyện để dạy phương pháp học, và Anh ngữ, Hoa Kỳ là nơi ưa chuộng để học. Lại nữa, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo có ý định gởi tất cả các viện trưởng đại học và phó viện trưởng , tất cả các hiệu trưởng trung học đi tu luyện nước ngoài. Người được bổ nhiệm sẽ tìm phương cách để hỗ trợ những chương trình đào tạo này, trong đó bao gồm chương trình Khách Quốc Tế Tự Nguyện (International and Voluntary Visitor) và các trường đại học sẵn sàng đón nhận các thí sinh.
- Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ đối tác tư nhân và công cộng: Các viên chức của Công Sứ sẽ họp thường xuyên với các đại diện của các Đại Học Hoa Kỳ quan tâm đến việc hợp tác hoặc khuếch trương hợp tác với các đại học Việt Nam để hướng dẫn và cố vấn và/hoặc tài trợ để tạo điệu kiện thuận lợi cho việc trao đổi. Hiện nay có hơn 60 đại học Hoa Kỳ đã có những chương trình phối hợp với đại học Việt Nam, bao gồm việc trao đổi qua lại giáo sư, khai triển chương trình dạy, chương trình chuyển đổi « 2+2 » ( sinh viên Việt Nam kết thúc hai năm học chưa tốt nghiệp tại Đại Học Hoa Kỳ và nhận được chứng chỉ của Hoa Kỳ) và tu nghiệp sư phạm cho phân khoa những ngành đặc biệt như Anh văn, y tá, kỹ sư và kinh doanh.
- Chương Trình Khởi Xướng Giáo Dục của Sở NgoạiThương : Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (USDOC – US Department of Commerce) đang đẩy mạnh kế hoạch tiếp thị, chờ đợi giấy phép để tài trợ để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của các trường Đại Học Hoa Kỳ trên thị trường giáo dục Việt Nam. Chương trình bao gồm việc thiết lập một cửa ngõ internet duhochoaky.vn (tiếng Việt Nam thay cho “StudyInTheUS.com”), hộ trợ thương mại ảo và những sinh hoạt liên kết để bắt nhịp cầu giữa các đại học Hoa Kỳ và các trường cao cấpViệt Nam và những người tuyển mộ tài năng, và tiếp thị ào ạt và tiếp trợ hậu cần cho hội trình giáo dục của Viện Giáo Dục Quốc Tế (IIE- Institute of International Education) được tổ chức hàng năm tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Chiến dịch tiếp thị nhằm gia tăng ngoạn mục con số sinh viên Việt Nam du học Hoa Kỳ cũng như số chương trình giáo dục Hoa Kỳ tại Việt Nam. Người ta đặc biệt chú trọng đến việc học Anh ngữ dồn dập, trung học cộng đồng và các thị trưởng nhỏ sinh viên chưa tốt nghiệp.
- Làm việc với Văn Phòng Thuận Lợi Thương Mại của chính phủ Hoa Kỳ (Trade Facilitation Office): Cố gắng này nhằm mục đích cổ súy những phúc lợi mà chính phủ có thể nhận được nhờ những nỗ lực hoạt động trong ngành giáo dục và kinh doanh của Việt Nam. Chúng tôi lấy ví dụ của tiểu bang Oklahoma, một trong những tiểu bang đầu tiên bắt mối liên hệ kinh doanh và sinh viên tại Việt Nam, và hiện nay họ là tiểu bang tiếp nhận sinh Việt Nam tại Hoa Kỳ đứng hàng thứ ba.
- Hội nghị thương đỉnh Giáo Dục Cao Đẳng: Công Sứ đã phái đi hai viện trưởng đại học để tham dự Hội nghị Thương đỉnh Giáo Dục Cao Đẳng và hội nghị địa phương tiếp theo đó do Bộ Trưởng Ngoại Giao Rice, Bộ Trưởng Giáo Dục Spelling và Giám Đốc Cơ Quan Cứu Trợ Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) Fore tổ chức vào cuối tháng 4 năm 2008. Với sự cộng tác của họ, chúng tôi hy vọng thấy con số và loại trao đổi giữa các đại học Hoa Kỳ và Việt Nam gia tăng.
Yêu cầu hành động: Chương trình giáo dục mới đòi hỏi những nguồn tài lực mới của Washington
18. Chúng ta đã có những bước tiến bộ, những nguồn tài nguyên lớn hơn sẽ cho phép chúng ta tiến xa hơn trên lịch trình này. Ít nhất chúng có thể giúp Việt Nam đào tạo các quản trị viên và các công nhân có kỹ năng để tiếp tục phát triển kinh tế và đưa con số quần chúng thoát khỏi nghèo đói lên cao. Nhìn rộng rãi hơn, Hoa Kỳ có cơ hội uống nắn hệ thống giáo dục Việt Nam theo đường hướng, trong dài hạn, làm sao Việt Nam trở thành dân chủ hơn, biết tôn trọng nhân quyền và tự do ngôn luận, và do dó có mối liên hệ mật thiết với Hoa Kỳ. Xét theo chiều hướng này, hỗ trợ cải cách giáo dục đồng nghĩa với mục tiêu căn bản nhất của Công Sứ. Vì vậy chúng tôi đã nhận diện những sáng kiến mới sau đây đòi hỏi những nguồn tài lực phụ trội của Washington:
- tài trợ $3 triệu mỹ kim cho giáo dục trong tài khóa hoàn tất gần dây cho 2010 của Kế Hoạch Công Sứ (Mission Strategic Plan- MSP). Mặc dù những quyết định về phương cách sử dụng số tiền này chưa được xác định, chúng tôi hình dung USAID đưa đội kiểm tra đến để xem xét những lựa chọn phù hợp với ý kiến đề ra của chính phủ Việt Nam và xuất phát từ Hội Nghị tháng Giêng. Một khả năng khác là khai triển chương trình cải cách để sửa chữa lề lối giáo dục quốc gia trong những lãnh vực như dạy Anh văn, và đào tạo và bổ nhiệm giáo sư. Những khởi xướng này có thể chiếu theo những mẫu của chương trình STAR của USAID, qua đó Hoa Kỳ đã tạo được một tiến bộ đáng kể tại Việt Nam trong lãnh vực cái cách kinh tế, điều lệ và công pháp. Những trợ giúp với mục tiêu rõ ràng trong lãnh vực giáo dục cũng sẽ có những kết quả đáng kể tương tự, những thay đổi tích cực chuẩn bị cho Việt Nam thành công trong thời buổi kinh tế toàn cầu. Thêm vào đó, USAID sẽ tìm cách gia tăng những dự án, ví dụ như chương trình STAR (System of Technology to Achieve Results - Hệ Thống Kỹ Thuật để Đạt Thành Quả), nhằm mục đích đẩy mạnh việc đào tạo quản trị viên và cấp lãnh đạo nằm trong chương trình tổng quát.
- Thành lập một Đại Học Hoa Kỳ tại Việt Nam. Như đã ghi ở trên, việc hỗ trợ thành lập một Đại Học Hoa Kỳ tại Việt Nam đòi hỏi một lượng tài trợ lên đến $100 triệu mỹ kim trải trên 10 năm để tài trợ cho khoảng 100 giáo sư và quản trị viên.
- Gia tăng tài trợ để hỗ trợ du học tại Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam trong mục tiêu đào tạo 2500 tiến sĩ tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hỗ trợ của chính quyền Hoa Kỳ trong mục tiêu này được điều dẫn qua việc mở rộng các chương trình VEF (Hiệp Hội Giáo Dục Việt Nam), cả hai bằng cách gia tăng tài trợ cho VEF và mở rộng những lãnh vực nghiên cứu nó hỗ trợ, như đã ghi ở đoạn 11. Cộng thêm, việc tài trợ có thể được bảo đảm bằng cách thực thi Chương Trình Học Bổng Fulbright tương tự như ở Nam Dương đã gởi khoảng 30 đến 40 sinh viên thí sinh Tiến Sĩ du học Hoa Kỳ mỗi năm. Một chương trình giống như vậy tại Việt Nam có thể đẩy mạnh con số sinh viên thí sinh Phó Tiến Sĩ về văn chuong và khoa học.
- Trình Hội Giáo Dục của Cơ Quan Ngoại Thương Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ý kiến này, hiện đang được xem xét, cùng với những sinh hoạt quảng bá xuất khẩu của Cơ Quan Ngoại Thương (FCS), sẽ giúp cho nỗ lực của Công Sứ đem sang Việt Nam những đại học Hoa Kỳ quan tâm đến việc tuyển dụng sinh viên và khuếch trương mối liên hệ với các đại học Việt Nam. Đã có những đề nghị yêu cầu Cơ Quan Phát Triển Thương Mại (TDA- Trade Development Authority) tài trợ cho những bước khởi đầu tuyển chọn sinh viên Việt Nam du học Hoa Kỳ, việc này cũng thích hợp vì lãnh vực « thương mại trong dịch vụ » này có thể tạo ra hàng 100 triệu mỹ kim hàng năm cho công nghệ thiết yếu cho sự thịnh vượng kinh tế của Hoa Kỳ.
- Phát triển chương trình theo mô hình của chính sách mới của chính phủ Hoa Kỳ «Chương Trình Giáo Dục Châu Phi» (AEI- African Education Initiative) do USAID thực hiện. Trong thời hạn 4 năm, Hoa Kỳ cung cấp $400 triệu mỹ kim để đào tạo một nửa triệu giáo sư và cấp học bổng cho 300.000 thanh niên. Một chương trình tương tự, đặt để theo mục tiêu của Việt Nam, sẽ có một hiệu ứng tốt đẹp.
Kết luận
19. Nhiều người sẽ đọc tài liệu này như một bài tập «suy nghĩ mông lung», có thể họ sẽ lắc đầu tự hỏi một ông Trưởng Phái Đoàn Công Sứ lại có thể có những đề nghị rộng lớn như vậy. Rõ ràng là những đề nghị của chúng tôi cần được xem xét trong khuôn khổ cạnh tranh cung cấp nhu cầu. Tuy nhiên tôi hy vọng độc giả nhìn nhận chúng ta đã làm được những gì với những tài lực hiện nay và nắm bắt được cơ hội quan trọng và độc nhất mà chúng ta đối diện. Những yêu cầu đổi mới của các cấp lãnh đạo Việt Nam dẫn đến việc họ sẽ gặp gỡ Tổng Thống Bush tròng vòng mấy tháng nữa, thúc giục tôi phải thảo Tờ Trình này. Chỉ với một phần nhỏ trong những chi tiêu hiện nay cho một vài chương trình và sinh hoạt trong vùng, chúng ta có thể uốn nắn trở lại đất nước này theo chiều hướng tạo nên ảnh hưởng sâu đậm và tốt đẹp cho những thập niên tới. Nếu chúng ta muốn Việt Nam của năm 2020 giống như Nam Triều Tiên hơn là giống Trung Hoa, chúng ta phải hành động ngay bây giờ. Tháng Tư 2008 Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngữ
|