|
Sự quan tâm của người Mỹ đối với văn hóa Việt
Nam
Lê Văn Hảo
Theo
Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2 (E-M), xuất bản tại Hà Nội, 2002, ở
mục từ "Hoa Kỳ" : đó là "một nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh vào
hàng đầu thế giới. Sau 1945, Hoa Kỳ tiến hành "chiến tranh lạnh" với Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa. Đối với Việt Nam, Hoa Kỳ tiến hành "chiến
tranh nóng" kết thúc năm 1973 sau Hội nghị Paris. Với xu thế hòa bình chung
từ 1989-1990, Hoa Kỳ và nhà nước Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ
tháng 7-1995". Một sô kết khá đúng đắn.
Chúng
ta có quyền hy vọng rằng những vấn đề do quá khứ đặt ra, những biến cố quan
trọng đã xảy ra trong quan hệ Việt-Mỹ sẽ được lịch sử phán xét một cách
khách quan và công bằng. Đã đến lúc cần lấy quan điểm hòa bình, hòa giải,
hòa hợp, tình nhân đạo và tình hữu nghị giữa các dân tộc để xem xét quan
hệ giao lưu văn hóa Việt-Mỹ và tìm ra những điều tốt đẹp đáng ghi nhận và
phát huy.
Quan
hệ Việt-Mỹ ở thế kỷ 19 : những dịp may bị bỏ lỡ
Lần
giở những trang sử cũ, người ta thấy khoảng một thế kỷ rưỡi sau khi Tuyên
Ngôn Độc Lập của nước Mỹ ra đời (4-7-1776), năm 1819 (cuối đời Gia Long),
hai thương thuyền Hoa Kỳ cập bến cảng Sài Gòn để mua đường. Tổng trấn Gia
Định Lê Văn Duyệt đã tiếp đãi tử tế thuyền trưởng John White và dành mọi sự
dễ dãi trong việc mua bán. Năm 1831 (đời Minh Mạng), tổng thống Mỹ Andrew
Jackson dự định đặt đại diện ngoại giao tại vương quốc Đại Nam và cử ông
Shilluber làm lãnh sự, nhưng vua Minh Mạng đã từ chối.
Năm
1832, tàu Peacock chở phái đồn sứ giả Mỹ, do hai ông Edmund Robert và
Georges Thompson cầm đầu, cập bến Đà Nẵng xin trình quốc thư và thỉnh cầu
được ký kết một hiệp ước thương mãi, nhưng vì quốc thư không ghi rõ danh
hiệu của vua và quốc hiệu Đại Nam nên Minh Mạng không tiếp nhận. Vua chỉ
truyền lệnh đón tiếp tử tế phái đồn Mỹ ở Công quán và chỉ định chỗ đậu tàu
là vụng Sơn Trà ở Đà Nẵng. Sau đó tàu Peacock cũng với đặc sứ E. Robert trở
lại Đà Nẵng với hy vọng ký một hiệp ước thương mãi, nhưng ông E. Robert bị
bệnh, tàu Peacock phải rời Đà Nẵng đi Macao đề cấp cứu. Sau lần gặp gỡ bất
thành này, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đại Nam bị gián đoạn trong gần bốn thập
niên (1836-1873).
Bùi Viện
(1839-1878), nhà ngoại giao xuất sắc và một sự nghiệp lớn dở dang
Từ
giữa thế kỷ 19 đất nước ta lâm vào một tình thế nghiêm trọng : 1858 liên
quân Pháp-Tây Ban Nha đánh chiếm bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng ; 1859 thành Gia
Định bị chiếm, 1861 lần lượt mất Định Tường, Côn Lôn, Biên Hòa. Với Hòa ước
1862, triều đình Huế phải nhượng đứt cho Pháp ba tỉnh miền Đông. Đến tháng
6-1867 chúng ta mất tồn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ. Trước tình hình đen tối ấy,
nhiều danh sĩ cấp tiến, giàu lòng yêu nước, có óc thực tế, muốn sử dụng tri
thức của mình vào công cuộc cách tân để cứu đất nước ra khỏi nguy cơ bị xâm
lược. Đó là những Hồng Phan Thái, Nguyễn Tư Giản, Đặng Đức Thuận, Đinh Văn
Điền, Nguyễn Lộ Trạch và xuất sắc nhất là Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) và
Bùi Viện (1839-1878).
Bùi
Viện đã có công lớn trong việc xây dựng cảng Hải Phòng, lập ra "Tuần dương
quân" (lực lượng hải quân thường trực) gồm 200 chiến thuyền và 2.000 quân
thủy thiện chiến và lập ra hệ thống thương điếm ở khắp các tỉnh ven biển.
Là nhà
ngoại giao năng nổ, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Hoa Kỳ để thiết lập
quan hệ ngoại giao chính thức và xin viện trợ chống thực dân Pháp. Rời Đại
Nam tháng 7-1873, ông đến Hồng Kông rồi Hồnh Tân (Nhật Bản), vượt trùng
dương đến New York rồi Washington (1874). Sau gần một năm kiên nhẫn vận động,
ông được tổng thống Ulysse Grant tiếp kiến và chấp thuận lời yêu cầu thiết
lập quan hệ ngoại giao và giúp Đại Nam chống Pháp. Nhưng vì không có quốc
thư chính thức mang theo bên mình, ông chưa thể bàn thêm những vấn đề cụ thể
hơn.
Năm
sau (1875), Tự Đức ban cho Bùi Viện chức khâm sai đại thần, cầm đầu phái đồn
sứ giả mang quốc thư trở lại Hoa Kỳ. Nhưng thật không may, tình hình thế
giới đã biến chuyển bất lợi cho Đại Nam, tình trạng cấm và giết đạo (Công
Giáo) tại Đại Nam gây xúc động lớn trong thế giới phương Tây, Hoa Kỳ do đó
phải thay đổi chính sách. Mặc dù vẫn niềm nở tiếp đón sứ bộ của ta, tổng
thống Grant nêu đủ lý do để từ chối viện trợ cho Đại Nam chống Pháp. Buồn
rượi, Bùi Viện tay không trở về tổ quốc. Đến Đà Nẵng mới hay tin mẹ mất, Bùi
Viện ra Huế tâu vua về chuyến công du bất thành và xin về thọ tang mẹ. Tự
Đức đã có lời phê đầy cảm khái : "Trẩm đối với ngươi chưa có ân nghĩa gì
mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản xa xôi lo lắng, quỉ thần
ắt cũng chứng cho". Ba tháng sau Bùi Viện lại được triệu về kinh đô giữ
chức thương chánh tham biện rồi chuyển sang chức chánh quản dốc nha Tuần hải.
Việc bang giao giữa Đại Nam và Hoa Kỳ một lần nữa lại tạm gián đoạn. Chẳng
bao lâu Bùi Viện mất đột ngột ở tuổi chưa đầy 40, để lại một sự nghiệp bộn
bề mà dang dở, ghi dấu một cột mốc trong lịch sử bang giao Việt-Mỹ thời cận
đại (1).
Từ sau
tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, Hoa Kỳ là đồng minh của Việt Minh
Nhà sử
học Mỹ Cecil B. Currey, tác giả cuốn "Võ Nguyên Giáp - Chiến thắng bằng
bất cứ giá nào", đã cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu và thông tin
về một giai đoạn độc đáo của bang giao Mỹ-Việt từ sau tháng 8-1945 đến trước
khi nổ ra chiến tranh Việt-Pháp (từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954) : Mỹ và
cơ quan tình báo quân sự OSS của họ là đồng minh của phong trào Việt Minh.
Những sĩ quan Mỹ trong phái đồn OSS đã chụp nhiều ảnh của Hà Nội sau tháng
8-1945, ảnh lễ chào quốc kỳ các nước Đồng Minh tại nơi ở của phái đồn OSS ở
Hàng Trống (nay là trụ sở báo Nhân Dân), ảnh Hồ Chí Minh chiêu đãi
các vị khách Đồng Minh của mình : Hà Ưng Khâm (Tàu), Gallagher (Mỹ). Chính
tướng Gallagher đã điện về Washington ngày 20-9-1945 : ông Hồ là "một sản
phẩm của Moskova, một người cộng sản" làm chấm dứt tuần trăng mật Hoa
Kỳ-Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào buổi bình minh của chiến tranh lạnh tư bản
- cộng sản.
Rồi
một nhà sử học Mỹ khác, John Prados, mới đây đã cho ra đời cuốn Cuộc hành
trình chim kền kền, dự án bí mật Mỹ ném bom nguyên tử xuống Việt Nam trong
thập niên 1950. Ôi những ối oăm của lịch sử không ai lường trước được !
(2)
Có một cộng
đồng người Việt và người Mỹ gốc Việt đông đảo tại Hoa Kỳ
Sau
1975 hàng chục vạn người "được" đi "học tập cải tạo", hàng triệu người khác
đành vượt biển, vượt biên đi tìm tự do, kết quả là ngày nay trong hơn 80
triệu dân có khoảng ba triệu người sống trên hàng chục nước trên các châu
lục, đông đảo nhất là cộng đồng người Việt và người Mỹ gốc Việt sinh sống
tại Hoa Kỳ (khoảng trên dưới hai triệu người). Nhìn chung cộng đồng ấy đang
an cư lạc nghiệp và đã thành công hội nhập xã hội Mỹ.
Nhiều
người Mỹ gốc Việt là giáo sư đại học, viện sĩ hàn lâm của Hoa Kỳ. Viện Hàn
lâm Khoa học New York đã từng mời tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà bác
học và là một nhà dân chủ nổi tiếng ở Hà Nội, làm viện sĩ. Giáo sư Nguyễn
Xuân Vinh, Đại học Michigan và Berkeley, đã làm việc tại Phòng thí nghiệm
Lực đẩy Phản lực (JPL-Jet Propulsion Laboratory) và tham gia vẽ quỹ đạo cho
phi thuyền Apollo của NASA (Cơ quan Hàng không và Không gian Quốc gia). Ông
đã viết ba cuốn sách giáo khoa được dùng tại nhiều nơi trên thế giới và đã
được trao tặng Huy chương vàng danh dự của Nhóm Tư vấn Chương trình Phát
triển Nghiên cứu Hàng không và Không gian (AGFARAD) thuộc khối NATO (3).
Giáo
sư Trịnh Xuân Thuận, Đại học Virginia, giải thưởng Henri Chrétien của Hội
Thiên văn Mỹ, tác giả của "Giai điệu bí ẩn", "Số phận của vũ trụ", "Big Bang
và sau đó", "Hỗn độn và hài hòa"…, đã được mời tham gia một số chương trình
nghiên cứu của NASA.
Qua
các phương tiện truyền thông phong phú, qua các websites đông đảo, qua những
tổ chức khoa học và công nghệ quan trọng như Vietnamese Association For
Computing Engineering Technology and Science (VACETS), chúng ta sẽ thấy
một vài trường hợp nổi bật vừa nêu trên chỉ là một phần nhỏ của những đóng
góp mà cộng đồng người Việt và người Mỹ gốc Việt đã và đang thực hiện trên
quê hương mới của mình (4).
Múa rối
nước "ngang dọc trong lòng nước Mỹ"
Từ
những năm 1960, nhiều đồn nghệ thuật của miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng
Hòa) đã sang biểu diễn trên đất nước Hoa Kỳ, đồng minh của mình. Sau 1975 là
hai mươi năm cấm vận làm cho quan hệ giao lưu văn hóa Việt-Mỹ đã chững lại.
Sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập quan hệ bình thường (1995), người Mỹ
lại có dịp thưởng thức những khía cạnh tốt đẹp nhất của di sản văn hóa Việt
Nam truyền thống. Khách du lịch Mỹ đến Việt Nam ngày càng đông vui, giao lưu
văn hóa Việt-Mỹ lại rộ lên. Thật cảm động khi thấy phía Hoa Kỳ đã chủ động
đề nghị Việt Nam hợp tác thành lập một chương trình biểu diễn thường xuyên
hàng năm - từ 1998 đến 2005 - để giới thiệu tinh hoa văn hóa dân gian Việt
Nam. Trong các thể loại văn nghệ truyền thống của ta (chèo, tuồng, cải lương,
tranh dân gian, dân ca, nhạc cổ điển, nhạc cung đình…) có lẽ Múa Rối Nước
được dân chúng Mỹ tiếp đón nồng nhiệt nhất. Trong một chuyến đi biểu diễn ở
nhiều nơi trên đất Mỹ kéo dài gần 4 tháng (từ 1-5 đến 20-8-2000), anh Nguyễn
Đức Thế, trưởng đồn Múa Rối Sài Gòn, bồi hồi nhớ lại : đến New York (lần này
là lần thứ hai), đồn Múa Rối Nước của Việt Nam cùng nghệ sĩ bốn nước khác
được mời biểu diễn khai mạc Liên hoan Sân khấu Thiếu nhi Thế giới. Cả
liên hoan đã đón nhận Múa rối nước Việt Nam bằng tất cả sự bất ngờ, chen
lẫn niềm vui : "Cả đồn múa rối Nhật của thành phố Kawasaki cũng phải
nhường vinh quang đó cho Việt Nam bởi "đặc sản" văn hóa truyền thống có một
không hai trên thế giới của ta… Các nghệ sĩ Việt Nam phải ra chào đến lần
thứ ba, thứ tư mà khán giả vẫn còn lưu luyến chưa muốn về và cứ đứng vỗ tay
suốt". Đồn múa rối Việt Nam còn đi qua nhiều bang và thành phố khác,
đến đâu cũng thành công và mang lại niềm vui cho đông đảo người dân nước Mỹ
bằng sức mạnh của nghệ thuật và văn hóa Việt Nam (5).
Bạn đọc Hoa
Kỳ nồng nhiệt tiếp đón những thành tựu của văn học Việt Nam cổ kim
Trần
Đức Thảo (1917-1993), sau một cuộc đời cần mẫn đầy nhọc nhằn, truân chuyên,
đã để lại hai tác phẩm : "Phénoménologie et matérialisme dialectique" (Hiện
tượng luận và duy vật biện chứng) (1951), được dịch ra tiếng Ý (1970),
tiếng Anh (1986) và "Recherches sur l’Origine du Langage et de la
Conscience" (Tìm hiểu về nguồn gốc của Ngôn ngữ và Lương tri) (1973).
Khúc hát thiên nga này đã được giới triết học Hoa Kỳ chú ý và được dịch ra
tiếng Mỹ : Investigations into Origin of Language and Consciousness (nhà
xuất bản D. Reidel Pub. Co, Boston, 1984).
Trong
sinh hoạt rầm rộ và mênh mông của văn hóa Hoa Kỳ, nếu có một số công trình
trí tuệ cổ kim của Việt Nam được dịch, được xuất bản, được đánh giá cao và
gây được tiếng vang thì nên xem đó là điều bình thường hay hãn hữu? Hãy cử
ra vài trường hợp tiêu biểu.
Năm
2000 nhà xuất bản Copper Canyon Press cho ra mắt cuốn "Spring Essence : the
Poetry of Ho Xuan Huong", John Balaban dịch, Ngô Thanh Nhàn viết chữ Nôm.
Trong bài đáp từ của mình trong chuyến đi thăm Việt Nam cuối năm 2000, tổng
thống Clinton nhắc đến nhiều hoạt động văn hóa về Việt Nam ở nước ngồi, kể
cả Mỹ, đặc biệt nhắc đến việc "Những bài thơ hai trăm năm trước của Hồ Xuân
Hương được xuất bản tại Mỹ bằng tiếng Việt, tiếng Anh và chữ Nôm, lần đầu
tiên cách viết tiếng Việt cổ truyền được in ra".
Cần
nói rõ thêm rằng đây là lần đầu tiên cách viết tiếng Việt cổ truyền được in
ra bằng phương tiện điện tử, mỗi chữ Nôm có một mã unicode. Đó là điều mới
lạ và rất tiện lợi, có ý nghĩa lớn đối với văn hóa Việt Nam (6).
Bảy
năm trước đó, dưới nhan đề Paradise of the Blind, nhà xuất bản Morrow, New
York, đã công bố tiểu thuyết Những Thiên Đường Mù của nhà văn Dương Thu
Hương, bản dịch của Nina McPherson và Phan Huy Đường. Giới báo chí và văn
hóa Mỹ đã chào đón nó như một sự kiện tinh thần quan trọng (7) : "Cuốn
tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên được xuất bản tại Hoa Kỳ đã được quảng cáo rầm
rộ, nhưng nó rất xứng đáng bởi vì Những Thiên Đường Mù là viên ngọc quí đầy
chất thơ. […] Một cuốn sách như vậy là một bước dài trên con đường dẫn tới
sự giao cảm giữa hai nền văn hóa" (Joe Collins) (7).
Cách
nay hai năm, tiểu thuyết Số Đỏ, kiệt tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng, được
dịch ra tiếng Anh và được nhà xuất bản Đại học Michigan UMP phát hành vào
tháng 6-2002 dưới tựa đề Dumb Luck. Vũ Trọng Phụng đã thành công sáng
tạo hình tượng Xuân Tóc Đỏ trong Số Đỏ tiêu biểu cho anh chàng
lưu manh thành thị chó ngáp phải ruồi của xã hội thực dân đầu thế kỷ 20. Thế
là Dumb Luck đã được đưa vào danh mục những tác phẩm văn học kinh
điển Việt Nam được giảng dạy trong các đại học Mỹ, và báo Los Angeles
Times đã bình chọn kiệt tác Dumb Luck này là một trong 50 tác
phẩm hay nhất được xuất bản tại Hoa Kỳ trong năm 2002.
Cuốn
sách Việt Nam đã gây được tiếng vang trong giới văn học Mỹ gần đây nhất có
lẽ là tuyển tập truyện ngắn đương đại Việt Nam nhan đề Love After War
(Tình Yêu Sau Chiến Tranh) của 45 nhà văn Việt Nam thuộc nhiều thế hệ từ
70-80 tuổi đến thế hệ trên dưới 30, còn sống hay đã mất, từ Tô Hồi, Chu Văn,
Nguyễn Khải đến Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Nguyễn Ngọc Tư…
Tuyển
tập được dịch ra tiếng Anh này đã lọt vào Danh sách bình chọn 100 cuốn
sách hay nhất năm 2003 của báo San Francisco Chronicle, một tờ báo có uy
tín ở Mỹ. Trong một bài viết dài 16.000 chữ về 100 cuốn sách được chọn ấy,
bỉnh bút của San Francisco Chronicle đã dành những dòng trân trọng
cho Love After War như là "Tuyển tập văn xuôi đương đại Việt
Nam bằng tiếng Anh lớn nhất được xuất bản tại Hoa Kỳ".
Giới trí
thức văn nghệ sĩ Hoa Kỳ và sự phát triển của ngành Việt Nam học ở Mỹ
Vì Hoa
Kỳ là đồng minh của miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) chống miền Bắc "tiền
đồn của thế giới cộng sản ở Đông Nam Á" cho nên đã có hơn một trăm tác phẩm,
hàng ngàn bài báo viết về chiến tranh Việt-Mỹ những thập niên 1960-1970, và
hàng chục cuốn phim Mỹ đã để lại một dấu ấn khó quên trong lịch sử điện ảnh
thế giới trong gần nửa thế kỷ qua. Nhưng đó không phải là điều quan trọng và
đáng ghi nhớ nhất trong quan hệ giao lưu văn hóa Việt-Mỹ. Cái mãi mãi còn
lại và sẽ được trân trọng hơn cả là sự quan tâm và nhiệt tình của nhân dân
Hoa Kỳ đã và sẽ dành cho con người và văn hóa Việt Nam như là biểu hiện của
tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Cách
nay vài năm, giáo sư Keith W. Taylor, Đại học Cornell, đã cung cấp cho chúng
ta một bức tranh tổng hợp khá phong phú về "Việt Nam học ở Bắc Mỹ", qua đó
nổi bật lên nhiều trung tâm Việt Nam học tại các Đại học Hawaii, California
(Berkeley), Washington (Seattle), Michigan (Ann Arbor), Cornell, Harvard,
Trung Tâm Việt Nam của Đại học Kỹ thuật Texas (Lubbock), Nhóm Nghiên Cứu
Việt Nam (VSG) của Hội Nghiên Cứu Châu Á của Hoa Kỳ (AAS) và nhiều nữa…
Nhiều
hội thảo khoa học quan trọng đã được tổ chức như Vietnam Legacies :
Twenty Years later (Việt Nam : những gì còn lại 20 năm sau) tại Đại học
California, Davis (28/30-4-1995) hay hội thảo quốc tế Việt Nam học Vietnam :
Beyond the Frontiers (Việt Nam : vượt qua các biên giới) do Trung Tâm Nghiên
Cứu Đông Nam Á, Đại học Caliofornia, tổ chức tại Los Angeles (11/12-5-2001).
Khi
Việt Nam tổ chức Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất tại Hà Nội
(15/17-7-1998) với chủ đề "Nghiên Cứu Việt Nam và Phát triển Hợp tác Quốc tế"
thì nhà tài trợ chính của hội thảo là Quỹ Ford của Hoa Kỳ, và phái đồn Mỹ
gồm hơn 30 đại biểu là một trong ba phái đồn hùng hậu nhất, bên cạnh phái
đồn Nhật, Úc trong 26 nước tham dự (8).
Một cuộc
triển lãm dân tộc học - văn hóa học không tiền khống hậu về Việt Nam trên
đất nước Hoa Kỳ
Trong
mấy năm gần đây, nhiều cuộc triển lãm mỹ thuật, dân tộc học và văn hóa học
liên tiếp được tổ chức tại Mỹ, phản ánh sự quan tâm và nhiệt tình của người
dân Hoa Kỳ đối với văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Năm 1999, trường Đại học
Columbia nổi tiếng đã tổ chức một cuộc triển lãm lớn về tranh sơn mài tại
New York với tựa đề Vẻ đẹp Việt Nam, và ba họa sĩ Công Quốc Hà, Trịnh
Tuấn, Công Kim Hoa đã giới thiệu với bạn bè và đồng nghiệp kỹ thuật vẽ tranh
sơn mài đặc sắc Việt Nam. Đầu năm 2003, các họa sĩ Trần Lương, Nguyễn Minh
Phước, Đinh Gia Lệ, Nguyễn Lê Vũ, Kim Ngọc đã có mặt tại Trung tâm Nghệ
thuật New York chuẩn bị cho cuộc triển lãm Vietnam Now trong khuôn
khổ Liên hoan Văn hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ diễn ra suốt một mùa xuân.
Và cái
đinh của liên hoan này là một cuộc triển lãm dân tộc học - văn hóa học lớn
mà hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam đã để ra hơn 10 năm để chuẩn bị và đã khai
mạc tại Viện Bảo tàng Vạn vật học Hoa Kỳ (AMNH) ngày 15-3-2003 tại New York.
Tháng 1-2004 triển lãm đã đi một vòng Hoa Kỳ (Texas, California, Colorado…)
rồi mới quay trở về Việt Nam (tháng 3-2005).
Cuộc
triển lãm này mang tên Vietnam : Journeys of Body, Mind and Spririt (Việt
Nam - những hành trình của Thể xác, Tâm hồn và Trí tuệ) trưng bày hơn 400
hiện vật, hàng trăm hình ảnh, phần lớn mượn từ Việïn Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam (Hà Nội), phần còn lại là của Viện Bảo tàng Vạn vật học Hoa Kỳ (New
York) hay mượn của một số bảo tàng châu Âu, chủ yếu là Pháp. Qua những hình
ảnh sống động, tiêu biểu nhất của văn hóa văn minh Việt Nam từ ngàn xưa,
triển lãm lần lượt đưa người xem qua những chuyến hành trình độc đáo :
-
Những hành trình của thần linh, gia đình và tổ tiên ;
- Hành
trình của con người và hàng hóa ;
- Hành
trình của sự sống và cái chết ;
- Hành
trình vào rừng, đi săn thú và tìm thuốc ;
- Hành
trình sang thế giới khác, v.v.
Bà
Ellen V. Futter, chủ tịch Viện Bảo tàng Vạn vật học Hoa Kỳ, người đã cùng
với giáo sư Nguyễn Văn Huy, giám đốc Viện Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đã
để ra hơn 10 năm để chuẩn bị hồn hảo cuộc triển lãm, cho biết : "Đây là
lần đầu tiên một cuộc trưng bày dân tộc học lớn về Việt Nam được thực hiện
tại Hoa Kỳ. Nó là một phần trong truyền thống lâu đời của Bảo tàng chúng tôi
nhằm giới thiệu và tôn vinh các nền văn hóa khác trên thế giới" (9).
Có lẽ
gian trưng bày ấn tượng nhất là "Những linh hồn lang thang" với bài Văn
tế Thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du đã làm cho nhiều
người không cầm nổi nước mắt. Qua cuộc triển lãm không tiền khống hậu này,
tại thành phố New York ấy, nôi có trụ sở của Liên Hiệp Quốc, ở một ngã tư
quốc tế lớn, chắc chắn nhiều người Mỹ và công dân thế giới sẽ hiểu, sẽ mến
thương, quí trọng Việt Nam hơn. Ngẫm ra, giao lưu văn hóa, tình hữu nghị
giữa những con người, giữa các dân tộc tốt hơn chiến tranh gấp triệu lần.
Lê Văn
Hảo (Paris)
Chú thích
và tham khảo :
(1)
Đào Đức Chương, "Lịch sử bang giao Việt-Mỹ", Làng Văn, Westminster,
California, Hoa Kỳ, số tháng 4-1977, tr. 51-55.
-
Nhiều tác giả, Bùi Viện (1839-1878) : Cuộc đời kỳ lạ, chí lớn phi thường,
Kỷ yếu hội thảo, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao Thái Bình, 1992.
(2)
Cecil B. Currey, "Những người Mỹ ở Hà Nội năm 1945", Xưa và Nay,
Hà Nội, số 149, 10-2003 (trích cuốn Võ Nguyên Giáp, nguyên văn tiếng Anh,
bản dịch tiếng Pháp : Vo Nguyen Giap - La Victoire à tout prix,
Phébus, Paris, 2003).
- John
Prados, Operation Vulture, America’s Secret Plan to Drop a Nuclear Bomb
in Vietnam in the 1950’s, Ibooks, New York, 2003.
(3)
Trần Ngọc Châu, "Người vẽ quỹ đạo cho phi thuyền Apollo bây giờ"…, Thanh
Niên, Hà Nội, Xuân Nhâm Ngọ, 2002, tr. 19.
(4)
Trọng Minh, "VACETS chứng minh giới trẻ Việt Nam đang làm rạng danh quê mẹ",
Quê Hương, Hà Nội, số 6/2002, tr. 26-27.
(5)
Nguyễn Đức Thế, "Múa Rối Nước thành phố Hồ Chí Minh : Ngang dọc trong lòng
nước Mỹ", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Sài Gòn, số 25 (25-6-2000), tr. 27.
(6) D.
Thu, "Từ Hồ Xuân Hương đến John Balaban - Chiếc cầu nối ba thế kỷ", Tuổi
Trẻ Chủ Nhật, Sài Gòn, số 11 (25-3-2001), tr. 13.
(7) "Dương
Thu Hương, tác giả Việt Nam được dịch sang nhiều thứ tiếng", Diễn Đàn,
Paris, số 17 (tháng 3-1993), tr. 17.
(8)
Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Quốc gia Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Việt Nam học, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội,
15/17-7-1998, Thế Giới, Hà Nội, 2000, tập I-V.
-
Nguyễn Văn Ký, "Hội thảo quốc tế về Việt Nam học và những dấu hỏi", Diễn
Đàn, Paris, số 78 (tháng 10-1999), tr. 23-24.
(9)
Thu Hà (phỏng vấn bà Ellen Futter), "Hành trình vượt Thái Bình Dương cả hai
chiều và liên tục", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Sài Gòn, số 11 (24-3-2003),
tr. 14-15. |