|
Lê Văn Hảo
Mặc dù
nước ta nằm trên ngã ba đường giao lưu văn hóa lớn của toàn vùng Đông Nam Á,
ảnh hưởng của văn hóa văn minh Nhật Bản đối với Việt Nam không nhiều.
Tại sao ?
Do khoảng cách địa lý ? Do sự khác biệt văn hóa ? Do thế áp đảo của văn hóa
chữ Hán trên xã hội Việt Nam truyền thống ? Có phải do Việt Nam chỉ chú ý
đến sự phồn vinh của cường quốc thứ ba này qua hàng trăm địa chỉ kinh tế
ngay trên đất nước chúng ta mà không biết đến sự giàu có về văn hóa và nghệ
thuật của Nhật Bản ? Cho đến nay chưa có câu trả lời nào thỏa đáng.
Phải
tìm cho ra mắc xích đã thiếu trong quan hệ văn hóa giữa hai nước, vì người
Nhật rất quan tâm đến văn hóa nước ta trong khi chúng ta thì ngược lại.
Đã đến lúc
cần làm một so sánh
Nhật
Bản là một quốc gia hải đảo rộng 337.835 km2, gồm bốn đảo lớn và hàng ngàn
hòn đảo nhỏ. Với 127,5 triệu dân, Nhật Bản là quốc gia đông thứ sáu tại châu
Á sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương, Pakistan và Bangladesh. Mặc dù sinh sống
trong những điều kiện thiên nhiên khó khăn (đất hẹp, người đông, núi lửa,
động đất, sóng thần, núi non hiểm trở, đất đai khô cằn, kém phì nhiêu…),
tổng sản lượng gộp nội địa (GDP) và lợi tức bình quân đầu người tại Nhật Bản
đứng hạng nhì thế giới : 4.265,6 tỷ USD và 33.550 USD/người, chỉ sau Hoa Kỳ
(10.110,1 tỷ USD và 35.060 USD/người).
Đối
sánh với Việt Nam, sự khác biệt cách xa một trời một vực. Mặc dù sinh sống
trên cùng một diện tích (332.000 km2), dân số tuy ít hơn (80,8 triệu dân)
nhưng được thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam bị xếp vào hạng những quốc gia nghèo
khó nhất. Lợi tức bình quân đầu người/năm tại Việt Nam thấp hơn người Nhật
gần 80 lần (430 USD).
û Thảo
nào, đầu năm 2004, giáo sư Nguyễn Lân Dũng, nhà sinh học hàng đầu của Việt
Nam, đã phải day dứt : "Cuối năm Quí Mùi [2003], tôi có mặt tại Nhật Bản.
Những ngày tại xứ sở hoa anh đào, tôi suy nghĩ rất nhiều về sự chênh lệch
còn quá xa về trình độ khoa học, công nghệ, về quản lý trật tự xã hội và về
mức sống giữa nhân dân Nhật Bản và nhân dân ta. […] Truyền thống tốt đẹp của
nhân dân ta có thua kém gì nhân dân Nhật Bản. Nhưng để phát huy được truyền
thống ấy […] có nhiều điểm chúng ta cần khiêm tốn học hỏi nhân dân xứ sở hoa
anh đào" (1).
Nhận
xét này trùng hợp với ý kiến của giáo sư Yoshiaki Ishizawa, giám đốc Viện
Văn Hóa Á Châu Đại học Sophia, quyền trưởng đoàn đại biểu Nhật Bản tham dự
Hội thảo quốc tế về đô thị cổ Hội An, tổ chức tại Đà Nẵng tháng 3-1990 :
"Với
một lịch sử lâu đời và quang vinh, với một di sản và truyền thống văn hóa
phong phú, Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự hình
thành nền văn hóa của khu vực rộng lớn ở Đông Nam Á. Nhờ những đặc tính độc
đáo và có ảnh hưởng sâu rộng đó, đất nước tuyệt vời của quí vị đã thu hút
được nhiều học giả và chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới trong một thời
gian dài" (2). Tại sao người Nhật đã, hơn một lần, bày
tỏ sự ái mộ đối với văn hóa văn minh Việt Nam ? Có lẽ đã đến lúc cần đưa ra
vài ví dụ cụ thể, vài trường hợp tiêu biểu để tìm lại mắt xích đã thiếu
trong quan hệ Việt - Nhật từ xưa đến nay.
Ngày
11-9-2003, buổi hội thảo về "Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản : quá khứ, hiện tại
và tương lai", do Trung tâm Quốc gia Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tại
Hà Nội, đã qui tụ đông đảo chuyên gia người Việt và người Nhật, đặc biệt là
sự hiện diện của đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, ông Hattori Norio, để nghiên
cứu so sánh văn hóa, lịch sử, kinh tế Việt- Nhật. Nội dung buổi hội thảo
xoay quanh những đề tài : quá trình quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản trong
quá khứ, trong 30 năm gần đây (1974-2003), trong giai đoạn hiện nay và triển
vọng của mối quan hệ này trong tương lai (3).
Người Nhật
tại Hội An thế kỷ 16-17
Qua
hội thảo tháng 9-2003 cũng như một số hội nghị khoa học trước đây (Hội thảo
quốc tế về Hội An tháng 3-1990, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất
tại Hà Nội tháng 7-1998), người ta thấy vào buổi bình minh của Đàng Trong
nước Đại Việt (cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17), thành phố Hội An của xứ Quảng,
phía nam Thuận Hóa, đã là nơi hội tụ của cư dân đến từ nhiều nơi trong nước
và cũng là nơi tụ hội của nhiều thuyền buôn và kiều dân nước ngoài, đông
nhất là người Nhật Bản và người Trung Quốc. Sự kiện này đã được giáo sĩ
người Ý Cristophoro Borri (và một số tài liệu ghi chép khác sau ông còn lưu
lại cho tới ngày nay) ghi lại rằng : "Chúa Đàng Trong xưa kia cho người
Nhật, người Tàu chọn một địa điểm để lập một thành phố cho tiện việc buôn
bán. Thành phố này tên là Faifo, lớn đến độ người ta có thể nói là có đến
hai thành phố, một phố Tàu và một phố Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có thị
trưởng riêng và sống theo tập tục riêng. Người Tàu có luật lệ và phong tục
của người Tàu, và người Nhật cũng vậy" (4).
Quan
hệ giao lưu kinh tế và văn hóa Đại Việt - Nhật Bản, nhất là tại xứ Đàng
Trong, đã có từ cuối thế kỷ 16. Tàu buôn Nhật chở tới Hội An vàng, bạc, đồng,
vũ khí... bán cho Đàng Trong và mua lại tơ tằm, gốm sứ, đường, san hô, ngà
voi, trầm hương, kỳ nam... mang về Nhật.
Đầu
thế kỷ 17, do làm ăn phát đạt, thương nhân Nhật tại Hội An đã mua lại của
chúa Nguyễn 20 mẫu đất để lập phố xá và làm ruộng, một số được dùng để xây
chùa (Tùng Bổn Tự). Người Nhật rất sùng đạo Phật, họ dựng bia, đúc chuông và
tượng Phật để thờ phượng, một số thương gia đã lập gia đình với người Việt.
Phố Nhật ở đầu đường phía mặt trời mọc của Hội An, phố Tàu ở cuối đường phía
mặt trời lặn thuộc làng Cẩm Phô và Thanh Hà.
Từ phố
Nhật lên chợ Cẩm Phô và phố Tàu phải qua một con khe, người Nhật đã xây tại
đây một chiếc cầu gọi là Cầu Nhật Bản. Đây là thời kỳ cực thịnh của phố Nhật
ở Hội An nên người phương Tây gọi Hội An là "Đô thị Nhật Bản" và ông thị
trưởng đầu tiên của phố Nhật được chúa Nguyễn công nhận năm 1618 là một nhà
buôn kiêm chủ tàu tên Furamoto Yashishiro. Có những thị trưởng Nhật có uy
tín và ảnh hưởng lớn ở Đàng Trong. Thời kỳ Đàng Trong bài đạo Thiên Chúa gay
gắt, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã được một thị trưởng Nhật tại Hội An can
thiệp để không bị đàn áp (5).
Năm
1636 chính quyền Nhật Bản cấm thương nhân Nhật xuất ngoại làm cho quan hệ
buôn bán giữa Đại Việt và Nhật Bản sa sút và số người Nhật đến Hội An cũng
giảm dần. Ngược lại, cùng lúc đó, số người Hoa có mặt tại Hội An không ngừng
tăng lên. Giữa thế kỷ 17, số người Hoa tại Hội An lấn át người Nhật. Cuối
thế kỷ 17, người Nhật chỉ còn lại khoảng 4 hay 5 gia đình. Thương nhân người
Hoa tràn sang phố Nhật (6). Sang thế kỷ 18, người Nhật vắng mặt hẳn ở Hội
An, bù lại văn khố Nhật vẫn còn lưu giữ một số kỷ niệm, văn vật và sử liệu
quí báu liên quan đến giai đoạn này có thể giúp cho người Việt Nam biết thêm
về lịch sử và văn hóa của chính mình.
Những tài
liệu ghi dấu quan hệ Việt-Nhật
Các
cuộc nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn đã xóa đi rất nhiều chứng tích
trên hiện trường liên quan đến lịch sử và văn hóa của thời đại Đại Việt.
Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn còn cái may là nhiều văn kiện ngoại giao liên
quan đến vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 đã được
tàng trữ trong các văn khố của Nhật Bản. Đó là các bộ : Rekidai hôan (Lịch
đại bảo án, tức những tư liệu quí báu qua các đời) tập hợp các văn thư trao
đổi giữa vương quốc Lưu Cầu của Nhật Bản với Trung Quốc, Triều Tiên và các
nước Đông Nam Á (từ 1424 đến 1867), trong đó có Đại Việt ; Gaiban Tsuusho
(Ngoại phiên thông thư, văn thư trao đổi giữa Nhật Bản với 11 nước và hai
khu vực, gồm 27 quyển : từ quyển 11 đến 14 nhan đề "An Nam quốc thư" gồm
56 bức thư trao đổi giữa chính quyền Mạc Phủ Đức Xuyên với các chúa Trịnh,
chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Trăn, Nguyễn Phúc
Chu, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng…) liên quan đến hoạt động các tàu Châu Ấn (Shuinsen)
của Nhật Bản và quan hệ buôn bán Việt-Nhật ở Đàng Trong, Đàng Ngoài, qua đó
người ta thấy chúa Trịnh, chúa Nguyễn tuy chống nhau nhưng đều mưu cầu thông
giao với Nhật Bản và đều xưng mình là "An Nam quốc vương" với vua chúa Nhật
(7).
Một
điều rất có ý nghĩa liên quan đến văn hóa Việt Nam là hiện nay trong các
viện bảo tàng cũng như trong các bộ sưu tập của tư nhân Nhật lưu trữ rất
nhiều đồ gốm và sứ của Đại Việt được đưa vào Nhật Bản từ thời Trần, trong
thập niên 1330. Các chuyên gia gốm sứ Nhật Bản, như giáo sư Hasebe Gakuji
thuộc Viện Bảo Tàng Quốc Gia Tokyo, thừa nhận vào thời ấy kỹ thuật sản xuất
đồ gốm của Nhật Bản kém xa đồ gốm Đại Việt : "Nghe nói sứ men ngọc, sứ
trắng rất nổi tiếng [ở Đại Việt] đã được sản xuất vào thế kỷ 11 [đời Lý].
Còn ở Nhật Bản ở thế kỷ 14-15 kỹ thuật quét lớp men nung ở nhiệt độ cao chỉ
có ở vùng Seto tỉnh Aichi, còn ở nhiều nơi khác chỉ mới làm được loại gốm
nung màu xám hoặc màu đỏ thẫm chưa có men. […] Sứ [Đại Việt] thế kỷ 15-16
được đưa nhiều vào Nhật Bản. […] Sang thế kỷ 17 các tàu buôn đến mua tơ sống,
hàng lụa, hương liệu và các loại tạp hóa, đồng thời còn mua một khối lượng
lớn đồ gốm sứ Đại Việt. Điều này có thể chứng minh bằng nhiều di vật còn
nguyên vẹn hiện nay vẫn cất giữ ở Nhật Bản. Loại đồ sứ Đại Việt tiêu biểu là
lọ hoa xanh có hình rồng, vật sở hữu của gia đình tướng quân Tokugawa. Loại
sứ nổi tiếng thứ hai là loại chén trà An Nam hồng hoa xanh lam có điểm thêm
màu đỏ và xanh lục rất lộng lẫy, bên trong chén có vẽ chữ "thọ". […] Vào
khoảng thế kỷ 17 các gia đình thương nhân giàu có, các gia đình phái Trà đạo
đều có giữ các đồ sứ [Đại Việt]" (8).
Nếu
Samuel Baron, tác giả cuốn Một miêu tả về vương quốc Tonqueen, tức là Đàng
Ngoài của Đại Việt (nguyên bản tiếng Anh), viết vào khoảng 1685, đã làm nổi
bật năm bức tranh do họa sĩ Việt vẽ quang cảnh Thăng Long cuối thế kỷ 17 ven
sông Hồng, vua Lê ngự triều, chúa Trịnh thiết triều, cuộc thi đình, lễ Tế
giao, thì họa sĩ Nhật cũng đã để lại cho đời sau hai kiệt tác hội họa : bức
Vượt biển buôn bán thông thương với nước Giao Chỉ (Giao chỉ quốc mậu
dịch độ hải đồ) và bức Thác kiến Quan thế âm. Hai bức tranh này hiện
đang được tàng trữ tại chùa Jomyo ở thành phố Nagoya, một đô thị-cảng lớn
miền Trung Nhật Bản với 2,5 triệu dân, được xem là hai báu vật quốc gia.
Bức
Vượt biển… là một bức tranh màu nước đồ sộ : cao 78 cm, dài 498 cm. Bức
tranh đã mất đi một phần, phần còn lại cho thấy bốn cảnh quan : cảnh thuyền
Châu Ấn rời Nagasaki đi Giao Chỉ và cập bến Hội An (Đàng Trong của Đại Việt),
cảnh thương nhân Nhật dâng lễ vật cho một người hình như là chúa Nguyễn ;
cảnh phố Nhật ở Hội An; cảnh trong đất liền có ngôi nhà lớn. Mặc dù đã bị
mất một phần, bức tranh vẫn có giá trị lớn về lịch sử và mỹ thuật vì nó miêu
tả sinh động cảnh quan một đô thị cảng của Đại Việt là Hội An với phố Nhật
đầu thế kỷ 17.
Tranh
Thác kiến Quan thế âm là bức tranh vẽ tượng Phật nổi tiếng, tương truyền đó
là món quà của An Nam quốc vương tặng cho thuyền Châu Ấn của dòng họ thương
nhân Chaya khi thuyền đến Hội An. Điều đó cũng góp phần chứng minh cho sự
thịnh hành của đạo Phật ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (9).
Sự quan tâm
của người Nhật đối với văn hóa, văn học và nghệ thuật Việt Nam
Từ
cuốn An Nam lịch sử đại cương của nhà sử học Hikita Toshiaki cuối thế kỷ 19
đến cuốn Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa của Tsuboi Yoshiharu
cuối thế kỷ 20, hàng chục công trình sử học về Việt Nam đã được xuất bản tại
Nhật Bản.
Từ
điển chữ Nôm của Y. Takeuchi được xuất bản tại Tokyo năm 1968, rồi Viện
Mojikio đã thành công chế tạo ra phần mềm bộ chữ Nôm với khoảng 9.000 mã chữ
năm 2000. Hội Nhật Bản Nghiên Cứu Lịch Sử Đông Nam Á cũng như Hội Nhật Bản
Nghiên Cứu Việt Nam (thành lập năm 1987) có hàng trăm hội viên là những nhà
Việt Nam học. Giáo sư Furuta Motoo, thuộc Đại học Tokyo, cho rằng Việt Nam
là quốc gia có nền văn hóa gần gũi với Nhật Bản và từ lâu các sử gia Nhật đã
quan tâm tới lịch sử Việt Nam, đó là thế mạnh của ngành Việt Nam học tại
Nhật Bản (10).
Trong
Hội nghị quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội tháng 7-1998,
nhà nghiên cứu Izumi Takahashi, thuộc Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản ở
Tokyo, khẳng định rằng văn hóa truyền thống Việt Nam có nhiều điểm tương
đồng với văn hóa Nhật Bản. Bà cho biết việc dịch thuật văn học hiện đại của
Việt Nam đã phát triển mạnh tại Nhật Bản trong hai thời kỳ : 1965-1975 và từ
1992 đến nay, tổng cộng đã có 131 tác phẩm (truyện dài, truyện ngắn, thơ,
kịch…) của 114 lượt tác giả Việt Nam đã được dịch và xuất bản. Theo bà đây
là nhịp cầu văn hóa nối liền hai dân tộc và là bằng chứng về sự quí trọng
của bạn đọc và giới văn hóa Nhật Bản đối với văn hóa và văn học Việt Nam
(11).
Về
nghệ thuật, từ sau 1975 nhiều đoàn nghệ thuật truyền thống Việt Nam : hát
chèo, ca trù, hát quan họ, múa rối nước, nhạc cung đình, nhạc cổ điển Việt
Nam… đã được mời sang Nhật biểu diễn. Nghệ thuật truyền thống Việt Nam đã
được người Nhật ái mộ đặc biệt.
Một ví
dụ tiêu biểu : Mùa xuân 1995, giáo sư Hà Văn Cầu, nguyên giám đốc Nhà Hát
chèo Việt Nam, cùng một số nhà nghiên cứu chèo và Đoàn chèo tỉnh Thái Bình,
được mời sang Nhật biểu diễn bốn đêm liên tiếp và sau đó tham dự cuộc hội
thảo khoa học về chèo do phía Nhật tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Đông Nam Á
ở Tokyo với sự tham dự của hơn 200 nhà nghiên cứu Nhật Bản quan tâm đến nghệ
thuật chèo. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra và phái đoàn Việt Nam đã trả lời
thông suốt, chẳng hạn như : Quả thừu lựu được nhắc đến trong một vở chèo là
quả gì ? Tên khoa học của nó ? Thế nào là học chèo theo lối "truyền nghề" ?
Thế nào là hát nói và nói hát ? Có điệu chèo nào khi vui cũng hát, khi buồn
cũng hát không ? Chèo hiện nay có phản ánh những vấn đề đương đại không ?…
Kỷ niệm sâu sắc nhất của giáo sư Hà Văn Cầu về chuyến đi này là "thái độ
khiêm nhường, ham học hỏi và đặc biệt trân trọng văn hóa các dân tộc khác
của người Nhật" (12).
Cũng
xin nhắc lại là mùa xuân 1994, Unesco và Việt Nam đã tổ chức tại Huế một
cuộc tọa đàm quốc tế về bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể vùng
Huế. Tham dự cuộc tọa đàm này có bà Noriko Aikawa, giám đốc Vụ Văn hóa Phi
vật thể của UNESCO, và hai giáo sư âm nhạc học Tokumaru Yoshihiko và
Yamakuti Osamu. Trong khi hội thảo có trình diễn nhã nhạc cung đình Huế. Sau
khi xem các nghệ nhân Việt Nam, lúc đó đã trên 70 tuổi mà còn giữ được
truyền thống nhạc cung đình, các nhà văn hóa Nhật Bản đưa ra kế hoạch rồi dự
án phục hồi âm nhạc cung đình Việt Nam với sự tham dự của đại diện bốn nước
có truyền thống nhạc cung đình : Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Cơ quan văn hóa Arion Edo mời đoàn nghệ thuật ca múa nhạc cung đình Huế sang
biểu diễn tại Nhật Bản, đài truyền hình NHK thu âm, ghi hình và phát lại cho
toàn dân Nhật xem ; quĩ Toyota Foundation tài trợ cho đoàn nghiên cứu
nhạc học và chuyên viên kỹ thuật Nhật Bản đến Huế thu âm ghi hình nhã
nhạc cung đình làm thành hồ sơ nghe nhìn đồ sộ tàng trữ tại hai đại học
Tokyo và Osaka ; quĩ Japan Foundation tài trợ cho lớp đại học nhã nhạc cung
đình Huế (1977-2000).
Sau
Hội thảo quốc tế về nhã nhạc cung đình lần đầu tiên tổ chức tại Huế
(8-2002), với sự hỗ trợ của các giáo sư Nhật Bản, Đại Hàn, bà Noriko Aikawa
và giáo sư Trần Văn Khê đã giúp phía Việt Nam chấn chỉnh, bổ sung, hoàn
thiện hồ sơ nhã nhạc cung đình Huế trình UNESCO. Ngày 7-11-2003, tại Paris,
nhã nhạc cung đình Huế, cùng với 27 kiệt tác của 27 nước, được tuyên dương
là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Sáu
năm trước đó (1997), công trình nghiên cứu của Trần Kiều Lại Thủy cho ta
biết : âm nhạc cung đình triều Nguyễn đã được các nhà nhạc học Nhật Bản
đánh giá cao (13). Tháng 12-2002, đoàn đại biểu Nhật Bản, qua tiếng nói
của các nhà văn hóa, nhà nhạc học ưu tú (bà Noriko Aikawa, giáo sư Yoshiaki
Tokumaru, Oshio Satomi) lại bày tỏ lòng ưu ái đối với di sản văn hóa Việt
Nam qua tập Kỷ yếu Hội thảo quốc tế âm nhạc cung đình Huế (260 trang),
do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam
và Viện Âm Nhạc Việt Nam xuất bản.
Quan
hệ giao lưu văn hóa nghệ thuật Việt-Nhật còn ghi thêm nhiều nét son tươi
thắm khác qua hình ảnh các nữ du khách Nhật Bản tung tăng trong những chiếc
áo dài duyên dáng trên đường phố Sài Gòn, rồi áo dài lại xuất hiện tại
Festival Văn Hóa - Du Lịch Việt Nam được tổ chức tại nhiều thành phố Nhật
năm 2001. Đoàn nghệ thuật Nhật Bản Kuna Uka cũng đến Việt Nam tham dự
Festival Huế, bên cạnh các đoàn nghệ thuật của Lào, Campuchia, Đại Hàn,
Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Pháp, trong mùa xuân 2002.
Đặc
biệt là hồi cuối năm 2003, nhà thiết kế thời trang nổi tiếng của Việt Nam,
cô Minh Hạnh, đã cử hành "Cuộc hiến dâng ở Đền Thiêng" tại ngôi đền cổ
Kiyomizu ở cố đô Kyoto, trước 100 quan khách tiếng tăm của Nhật và hàng ngàn
du khách quốc tế : 60 thiếu nữ Việt và Nhật trình diễn 60 bộ trang phục kết
hợp hai nền văn hóa Việt-Nhật trong bộ sưu tập "Trở lại thiên đường" : đường
nét tà áo dài duyên dáng của Việt Nam đã kết hợp hài hòa với đường nét bộ áo
kimono của Nhật tung bay giữa những nụ cười kiều diễm và tiếng vỗ tay vang
lừng.
Mùa
xuân 2004, đoàn ca múa nghệ thuật dân gian Nhật Bản đã tham dự Liên hoan văn
hóa nghệ thuật dân gian Việt Nam, tổ chức từ ngày 27 đến 30-4-2004 tại công
viên Thống Nhất, trước Dinh Độc Lập cũ tại Sài Gòn, cùng với sáu đoàn ca múa
khác của Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Myanmar, Thái Lan và Trung Quốc.
Giữa
tháng 4-2004, đoàn điện ảnh Nhật Bản thuộc hãng phim truyền hình Asahi đã
được Bộ Văn hóa, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Saigontourist và Vietnam Airlines
tài trợ sang Việt Nam thực hiện, từ 18-4 đến 18-5, bộ phim truyền hình Việt
Nam mến yêu dài 10 tập (khoảng 300 phút). Nội dung truyện phim kể lại hành
trình của nữ diễn viên Nishida (trong vai Yuko) đến Việt Nam tìm người yêu
Việt của anh trai mình. Những thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam từ Sài Gòn
đến Tiền Giang, Mũi Né, Hội An, Huế, Hà Nội, Bắc Ninh… lần lượt xuất hiện.
Bộ phim sẽ được trình chiếu từ tháng 10 đến tháng 12-2004 tại Nhật Bản với
mục đích khuyến khích đông đảo du khách Nhật, nhất là giới trẻ, sang thăm
viếng Việt Nam (14).
Nói như nhà
thơ François de Malherbe thời Phục Hưng Pháp : "Et les fruits passeront
la promesse des fleurs" (Và trái sẽ vượt xa lời hoa hẹn nguyền).
Lê Văn Hảo
(Paris, tháng
5-2004)
Chú thích và
tham khảo :
(1)
Nguyễn Lân Dũng, "Kinh nghiệm Nhật Bản", tập san Kiến Thức Ngày Nay, thành
phố Hồ Chí Minh, số Xuân Tết 2004, tr. 26-29.
(2)
Yoshiaki Ishizawa, "Phát biểu bế mạc" in Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đô thị cổ
Hội An, Đà Nẵng, 22/23-3-1990, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1991,
tr. 381.
(3)
Thu Hằng, "Thông tin về Hội thảo khoa học : Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản :
quá khứ, hiện tại và tương lai", tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử, Hà Nội, số
6-2003.
(4)
Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí
Minh, 1998, tr. 92.
(5) Vũ
Ninh Giang, "Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An" ; Đỗ Bang, "Quan
hệ và phương thức buôn bán giữa Hội An với trong nước", in Kỷ yếu Hội thảo
Đô thị cổ Hội An, sách đã dẫn, tr. 205-215, 231-245.
(6)
Phan Huy Lê, "Hội An : lịch sử và hiện trạng" in Kỷ yếu Hội thảo Đô thị cổ
Hội An, sách đã dẫn, tr. 23-24.
(7) Vĩnh
Sính (giới thiệu và chú giải), "Một văn thư vương quốc Lưu Cầu gởi sang Việt
Nam vào đầu thế kỷ XVI", tập san Diễn Đàn, Paris, số 127, tháng 3-2003, tr.
29-32 ; Kunie Kawamoto, "Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn
cứ theo Gaiban Tsuusho (Ngoại phiên thông thư)", in Kỷ yếu Hội thảo Đô
thị cổ Hội An, sách đã dẫn, tr. 169-178.
(8) Hasebe
Gakuji, "Tìm hiểu mối quan hệ Nhật-Việt qua đồ gốm, sứ", in Kỷ yếu Hội thảo
Đô thị cổ Hội An, sách đã dẫn, tr. 81-83.
(9)
Oguro Sadao, "Về bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ", in Kỷ yếu Hội
thảo Đô thị cổ Hội An, sách đã dẫn, tr. 193-200.
(10)
Furata Motoo, "Tại sao ở Nhật Bản có nhiều nhà Việt Nam học ?" in Việt Nam
học, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội 15/17-7-1998, tập I,
tr. 204-205.
(11)
Izumi Takahashi, "Các tác phẩm văn học hiện đại của Việt Nam đã được dịch và
xuất bản ở Nhật Bản", in Việt Nam học, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ nhất,
sách đã dẫn, tập II, tr. 428-444.
(12) Trần
Chính, "Trò chuyện với giáo sư Hà Văn Cầu: Chèo ta đi Nhật", Nhân Dân, Hà
Nội, số 12 (320), ngày 19-3-1995, tr. 9, 15.
(13) Trần
Kiều Lại Thủy, Âm nhạc cung đình triều Nguyễn, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế,
1997, Lời giới thiệu của giáo sư Trần Văn Khê tr. 5-6.
(14) "Chúng
tôi yêư Việt Nam", nhà điện ảnh M. Omakada trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ
Chủ Nhật số ra ngày 2-5-2004, tr. 26. |