[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Nẻo về văn hóa văn minh Việt Nam

Sự quan tâm của người Việt hải ngoại đối với văn hóa Việt Nam

 Thời đại hôm nay : kỷ nguyên toàn cầu hóa truyền thông 

     Chúng ta đang sống trong một thời đại kỳ diệu của lịch sử văn hóa, văn minh loài người : kỷ nguyên toàn cầu hóa truyền thông. Nhờ máy bay phản lực, fax, email, internet, giây nói viễn liên, truyền hình qua vệ tinh… người ta chỉ cần đôi ngày, vài giờ, vài phút, thậm chí vài giây để liên lạc với nhau qua lời nói, hình ảnh. Thế giới bây giờ trở nên bé nhỏ như một cái làng hay cái chợ, chúng ta trở nên gần nhau trong gang tất.

     Nhờ phép mầu toàn cầu hóa truyền thông ấy, chúng ta biết, trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại đông đến ba triệu người sống trên hơn 50 nước khắp năm châu, có rất nhiều người sống xa quê hương mà vẫn gắn bó, quan tâm đến đất nước và văn hóa Việt Nam mình. Từ Bắc Mỹ, Tây Âu, qua Đông Á, đến tận nước Nga, nước Úc xa xôi, có những Nguyễn Khắc Kham, Kim Định, Nguyễn Thuyết Phong, Lê Văn Lân, Vĩnh Sính, những Thụy Khuê, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Thái Kim Lan, Đinh Trọng Hiếu, Thái Văn Kiểm, Hoàng Linh, Nguyễn Tiến Hữu, Nguyễn Văn Huy, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Thông Minh và hàng trăm tên tuổi khác kể sao cho xiết, đã nồng nhiệt nói, viết về Việt Nam.

     Do khả năng tiếp thu có giới hạn trước biển truyền thông mênh mông, nếu được phép làm một chọn lựa chủ quan, xin gợi tả cô đọng sau đây vài gương mặt giữa vô vàn các gương mặt văn hóa, nghệ thuật đáng quí đang yêu trong cộng đồng hải ngoại thân thương của chúng ta. 

Người bạn đường uyên bác của những Lý Thường Kiệt, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du... trên dặm dài văn hóa sử 

     Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), ra đời tại Hà Tĩnh, mất tại Pháp, là nhà khoa học, nhà giáo đã từng dạy tại Trường đại học khoa học Hà Nội trước khi tham gia nội các Trần Trọng Kim (1945), rồi tham dự hội nghị Đà Lạt (1946). Chiến tranh bùng nổ (12-1946), ông vĩnh viễn giã từ chính trị chuyển sang nghiên cứu Việt Nam học cho đến cuối đời.

     Từ giữa đến cuối thế kỷ trước ông đã đóng góp cho khoa học nhân văn Việt Nam nhiều trước tác quan trọng được in đi in lại nhiều lần : Danh Từ Khoa Học (1942), Lý Thường Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao và Tôn Giáo triều Lý (1949-1950), v.v.

     Từ 1951 ông sang định cư tại Pháp, tiếp tục cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu sử học, văn học, Hán Nôm học, lịch pháp học… được xem là mẫu mực : La Sơn Phu Tử (1952), Chinh Phụ Ngâm bị khảo (1953), Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê (1978-1980), Lịch và Lịch Việt Nam (1982), v.v.

     Kiệt tác cuối cùng mà ông dành 50 năm để hoàn thiện (1946-1996) là Kiều tầm nguyên (chưa xuất bản).

     Muốn hiểu biết thêm về nhà bác học này, xin tham khảo hai cuốn sách : La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền biên soạn, ba tập, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1998, 4.152 trang) và Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp (Thụy Khuê thực hiện, 2002, 378 trang, đã được phát trên sóng của đài RFI).

     Trong tập I của bộ La Sơn Yên Hồ… người ta chú ý đến 300 trang đầu vì có giới thiệu nhiều ảnh và nhất là lời chứng của gần 60 người đã vinh danh Hoàng Xuân Hãn, trong đó có nhiều tên tuổi của khoa học nhân văn Việt Nam trong và ngoài nước. Bộ sách giúp chúng ta tìm thấy, hay tìm lại hầu hết những công trình được xem là "mẫu mực", "cổ điển" liên quan đến Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Nguyễn Thiếp, Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… qua nhiều sử liệu, văn liệu quí hiếm mà Hoàng Xuân Hãn đã để cả một đời để phát hiện, tập hợp, chắt chiu bảo trọng cho một nền văn hóa lâu đời đã bị tàn phá, cướp bóc, mất mát quá nhiều!

     Nhờ những bài phỏng vấn xác thực của Thụy Khuê về Hoàng Xuân Hãn chứng nhân lịch sử, về Bước đường nghiên cứu…, về phương pháp khoa học ứng dụng vào nghiên cứu Hán Nôm, Truyện Kiều… chúng ta có được hình ảnh khả ái, gần gũi của nhà văn hóa, bậc hiền nhân, một biểu tượng khó quên của chủ nghĩa nhân văn và đạo làm người Việt Nam. 

Người dẫn đường thành thạo cho những cuộc hành trình vào các nền văn minh thế giới và các nền văn hóa của Việt Nam 

     Nhà giáo dục học Lê Thành Khôi, sinh năm 1923 tại Hà Nội, là cố vấn của UNESCO và giáo sư danh dự tại Đại học Sorbonne Paris về hai môn học : Giáo dục so sánh, Giáo dục và phát triển. Tác giả của hơn 40 công trình viết riêng và viết chung, ông vừa chú ý đến giáo dục trong các nền văn minh trên thế giới vừa rất quan tâm đến các nền văn hóa của Việt Nam.  Bốn trước tác quan trọng nhất của ông có lẽ là : Education et Civilisations ("Giáo dục và các nền văn minh", do UNESCO bảo trợ, hai tập, Paris, 1995, 2001, 1.438 trang) ; Voyage dans les cultures du Vietnam ("Hành trình vào các nền văn hóa của Việt Nam", Paris 2001, 224 trang, với hơn 140 ảnh của tác giả) ; Histoire de la Littérature du Vietnam ("Lịch sử văn học Việt Nam", bản thảo đã hoàn thành) ; Histoire des Arts du Vietnam ("Lịch sử các nền mỹ thuật của Việt Nam", đang soạn).

     Xin nói đến trước tác mà chúng tôi tâm đắc nhất : "Hành trình vào các nền văn hóa của Việt Nam". Bằng những ảnh thật đẹp mà tác giả đã chụp tại Việt Nam, Lê Thành Khôi đích thị là người dẫn đường thành thạo đưa chúng ta vào giữa lòng văn hóa của hơn 50 sắc tộc đã góp phần tạo ra một nền văn hóa Việt Nam lâu đời và đa dạng trong một cuộc hành trình kỳ thú gồm năm chặng đường :

     - Chặng 1 là "Đất và Nước", ngợi ca vẻ đẹp Việt Nam khi hùng vĩ, khi trữ tình, từ chòm Lũng Cú tới mũi Cà Mau, sau đó là chuyến đi vượt thời gian từ thuở vua Hùng dựng nước đến thời "xây dựng xã hội chủ nghĩa" và "đổi mới" hiện nay (xin chú ý : các dấu ngoặc kép là của chính tác giả).

     - Chặng 2 là "Các sắc dân và các vùng, miền", dành kể về con người đa số và thiểu số ở miền Bắc (gồm các rẻo cao và vùng trung du, đồng bằng vùng châu thổ các sông lớn (Hồng, Thái Bình, Mã, Lam), ở miền Trung (các vùng Thanh Nghệ, các đồng bằng duyên hải từ người Chăm qua tay người Việt, vùng cao nguyên) cho tới Nam bộ. Ở chặng này cảm động nhất là lúc người dẫn đường nồng nhiệt giới thiệu người Chăm và văn hóa Chăm một thời vang bóng.

     - Chặng 3 dành cho "Con người, gia đình và xã hội", nói nhiều về người Việt ; người dẫn đường đã nhấn mạnh sự khác nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc thể hiện rõ nhất qua sự tôn trọng người phụ nữ trong xã hội Việt Nam xưa nay.

     - Chặng 4 giới thiệu "Tiếng Việt, văn học viết của người Việt, văn học truyền miệng của các sắc dân thiểu số". Lê Thành Khôi không tiếc lời ca tụng vẻ đẹp ít được biết tới của các nền văn học đã nở hoa trên rẻo cao, vùng trung du và cao nguyên, hay văn học Chăm ở đồng bằng ven biển Nam Trung bộ, văn học Khmer Nam bộ ở đồng sông Cửu Long.

     - Chặng 5 và cuối cùng của cuộc hành trình giới thiệu rất công phu về "Một nghệ thuật sống nghèo" (Un art de vivre pauvre), thể hiện qua ngôi nhà và ngôi vườn (nhà-vườn), quan niệm về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe theo y học cổ truyền từ Tuệ Tĩnh đến Lãn Ông, nghệ thuật uống chè (trà), nghệ thuật ăn : khi tinh tế phức hợp, khi giản dị đạm bạc mà luôn luôn ngon lành, hấp dẫn vì nhiều dạng vẻ ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Nam Trung bộ, Nam bộ, miền núi, miền xuôi ; âm nhạc và kịch nghệ truyền thống, lễ hội đình đền chùa, du ngoạn hang động, v.v. Nói tóm lại, nghệ thuật sống gọi là nghèo ấy thực sự chỉ nghèo ở vẻ bên ngoài, tinh hoa bên trong của nó là sống không phô trương tốn kém mà thiên về bình dị, tế nhị, hài hòa giữa người với thiên nhiên, giữa người với nhau, đượm ít nhiều hương vị thanh đạm, thanh bần, vương vấn một chút kiệm ước thiền vị, một chút phóng khoáng Lão Trang, chuộng trữ tình và nhân ái, luôn luôn lạc quan và gắn bó với đời, bất chấp khó nghèo ba chìm bảy nổi…

     Nay mai bộ lịch sử văn học Việt Nam và bộ lịch sử các nền mỹ thuật Việt Nam mà giáo sư đang hoàn thành sẽ chào đời để cho cuộc hành trình văn hóa đã bắt đầu xuôi chèo mát mái sẽ kết thúc trọn vẹn như những mối tình đẹp. 

Trí nhớ của thế kỷ, nhà văn hóa khởi hành từ phương Tây để đi xuyên âm nhạc Việt Nam và âm nhạc phương Đông 

     Nhiều người cho nhà nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc Trần Văn Khê là trí nhớ của thế kỷ 20 vì giáo sư là tác giả của nhiều tập hồi ký (đã ra 5 tập) ghi lại ngồn ngộn biết bao sự kiện liên quan đến một đời người, trải ra từ những năm 1920 của thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này. Trước khi nói rõ thêm về bộ hồi ký độc đáo ấy, thử xét xem tại sao Trần Văn Khê được coi là nhà văn hóa đi xuyên âm nhạc Việt Nam và âm nhạc phương Đông.

     Chuyên gia lớn về cổ nhạc Việt Nam này đã được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Tác phẩm đầu tiên của ông là La Musique vietnamienne traditionnelle ("Âm nhạc Việt Nam truyền thống", Paris, 1962, 384 trang). Và trước tác mới đây nhất là Du ngoạn trong truyền thống âm nhạc Việt Nam (Sài Gòn, 2004, 475 trang). Những cuộc nói chuyện về âm nhạc Việt, những lần giáo sư xuất hiện trên đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình đều được hoan nghênh. Có một điều hấp dẫn là năm 1987, La Revue Musicale ("Tạp chí Âm Nhạc", xuất bản tại Paris) đã dành ba số gộp một (402, 403, 404) cho chủ đề "Trần Văn Khê và Việt Nam", qua 7 bài : Con đường nghiên cứu dân tộc nhạc học (tự truyện) ; Khái quát về âm nhạc Việt Nam ; Phân tích một bài hát Quan họ (bài "Mời giầu") ; Sử dụng máy sonagraphe để nghiên cứu tiết tấu ; Cương vị xã hội của nhạc sĩ truyền thống ở châu Á ; Tiếng tới soạn thảo một lịch sử âm nhạc thế giới (do Trần Văn Khê viết) và một Thư mục Trần Văn Khê (1959-1987) liệt kê đến 180 công trình lớn nhỏ của nhà dân tộc nhạc học : sách, bài báo, bài điểm sách, bài viết cho Bách khoa toàn thư (Pháp, Anh, Mỹ, Ý…) liên quan đến không chỉ âm nhạc Việt Nam truyền thống mà đến âm nhạc của hầu hết các nước phương Đông (Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Ba Tư, các nước Ả Rập…), liên quan đến cả kịch nghệ truyền thống Việt Nam và châu Á. Thư mục này đã được bổ sung thêm bằng một Thư mục Trần Văn Khê (1988-2004) với không dưới 50 công trình lớn nhỏ nữa, theo sự theo dõi của chúng tôi.

     Những năm gần đây nhà xuất bản Trẻ ở Sài Gòn đã phối hợp với công ty văn hóa Phương Nam công bố nhiều trước tác của Trần Văn Khê mà quan trọng và lý thú nhất là bộ "Hồi Ký" nhiều tập : Tập I  : Ươm mầm trổ nụ, 2001 (304 trang) ; Tập II : Đất khách quê người, 2001 (288 trang); Tập III : Bôn ba bốn biển năm châu, 2001 (500 trang) ; Tập IV : Một gánh nhạc, Một cuộc đời, 2002 (432 trang) ; Tập V : Đãi cát tìm vàng, 2002 (412 trang).

     Qua 5 tập hồi ký, điều kinh ngạc đầu tiên là trí nhớ chính xác, sâu rộng của một con người đã vượt xa tuổi "xưa nay hiếm" mà vẫn nhiệt tình ôn lại cho người đời nay và đời sau hàng trăm sự kiện lớn nhỏ, chung riêng, hàng mấy trăm chi tiết sống động, tỉ mỉ liên quan đến rất nhiều cuộc hành trình của một nhà văn hóa đã đi qua bao nhiêu nước, tiếp xúc với bao nhiêu dân tộc để giới thiệu âm nhạc Việt, mà khi nhớ lại, kể lại vẫn sống động tưởng chừng như sự việc mới xảy ra hôm qua. Đáng khâm phục là sự uyên bác của một trí tuệ quan tâm đến nhiều lãnh vực của khoa học nhân văn vượt ra ngoài thế giới âm nhạc vốn đã là một vũ trụ kỳ diệu ở bề rộng lẫn chiều sâu. Đáng quí mến là sự cao thượng của một tấm lòng "trong mọi việc làm thì không vì danh hay vì lợi mà chỉ vì tình, tình đối với người thân, với dân tộc và rộng hơn nữa là với nhân loại".

     Qua hồi ký có thể thấy vị giáo sư viện sĩ đã có những đóng góp lớn lao vào việc nghiên cứu giảng dạy, giới thiệu rộng rãi âm nhạc truyền thống của Việt Nam và của cả phương Đông ra khắp thế giới.

     "Sống chỉ vì tình" như ông nói, "sống chỉ vì nhạc" như ông làm, con người này thật đáng vinh danh. Đã có nhiều tôn giáo, giáo phái lớn nhỏ cho người ta chọn theo để gởi gắm đức tin và hy vọng. Nếu có một tôn giáo nữa gọi là đạo Nhạc, thì Trần Văn Khê, vì tình văn hóa, tình dân tộc, tình người, là vị sứ giả đã và đang mải mê đi truyền đạo Nhạc. 

Người nghệ sĩ hát rong thiên tài đã dâng Mẹ Việt Nam "Ngàn lời ca", đã tặng đồng bào và đồng loại bản giao hưởng Hồng nhan bạc mệnh 

     Mươi năm gần đây, nhạc sĩ Phạm Duy quí mến của chúng ta đã dành nhiều thì giờ để viết văn. Qua bốn tập "Hồi Ký" (1990-2000), chúng ta thấy Phạm Duy trước hết và chủ yếu là một nghệ sĩ hát rong. Anh đã rong ruổi trên con Đường Cái Quan Xuyên Việt, đi từ Kháng chiến khắc khổ về Thành thị tự do, đi từ Hà Nội tới Sài Gòn, rồi "Về Miền Trung", đi từ Paris đèn sách năm xưa đến Thị trấn Giữa đường ngày nay trên quê hương mới của "Bầy chim bỏ xứ", rồi tiếp tục đi rong khắp Bắc Mỹ qua Tây Âu đến tận châu Á gần gũi và châu Úc xa xôi để hát "Ngàn lời ca" dâng "Mẹ Việt Nam". Đến gần cuối đời người nghệ sĩ hát rong vĩ đại vẫn chưa ngừng nghỉ vì anh còn muốn tặng cho đồng bào và đồng loại một tổ khúc "Bầy chim bỏ xứ" đầy hứa hẹn về một ngày bầy chim hồi xứ, rồi lại muốn minh họa "Truyện Kiều", không phải "phóng tác" như anh khiêm tốn nói mà thực chất là dựa trên thơ Nguyễn Du để sáng tạo cả một bản giao hưởng hoành tráng vinh danh một kiếp hồng nhan đã làm thổn thức biết bao tâm hồn Việt Nam từ 200 năm nay.

     Trong "Ngàn lẻ lời ca" mà Phạm Duy đã sáng tác để dâng tặng cho đời, lời ca nào cũng đẹp đẽ nhưng đáng nhớ nhất từ đây đến mãi mãi có lẽ là khúc tình ca "Tôi yêu tiếng nước tôi"... (1953), trường ca "Con đường Cái Quan" 1960) được thăng hoa thành nhạc hòa tấu "Con đường Cái Quan" (1991), trường ca "Mẹ Việt Nam" (1964), tổ khúc "Bầy chim bỏ xứ" (1985), "Truyện Kiều minh họa" (1997...) và cũng rất đáng kể là bộ "Hồi Ký" (1990-2000) 4 tập.

     Từ người nghệ sĩ hát rong trên con đường Cái Quan của Việt Nam, rồi trên vạn nẻo đường của hành tinh chúng ta, Phạm Duy đã trở thành nhạc sĩ lớn, toàn diện nhất của Việt Nam. Trong hơn 50 năm qua, anh đã sáng tạo được ba huyền thoại, cũng là ba hình tượng rất cổ và rất mới mà xiết bao gần gũi với tâm hồn Việt Nam. Là người đầu tiên đã thu nhận và khai thác sâu sắc dân ca và nhạc cổ truyền để sáng tác tân nhạc, Phạm Duy cũng tiếp thu được tinh hoa của nhạc phương Tây để sáng tạo ba hình tượng : Tình yêu, Người mẹ, Quê hương-Tổ quốc. Gần đây, Phạm Duy còn đưa ra hai hình tượng lớn khác : Người Việt xa xứ và Người phụ nữ bạc mệnh (Kiều).

     Nam Chi đã viết rất đúng : "Phạm Duy là người làm nhạc tình nhiều nhất và hay nhất. Ở Văn Cao chỉ có mơ mộng xa xôi, ở Trịnh Công Sơn, Đoàn Chuẩn-Từ Linh chỉ có dịu dàng mà không có tình yêu cụ thể. Phạm Duy đi từ tình yêu ngây thơ mơ mộng đến tình lãng mạn đắm say, từ lý tưởng đến xác thịt. [...] Từ lúc "Tìm nhau", "Cho nhau" đến lúc "Nghìn trùng xa cách"...".

     Huyền thoại Mẹ của Phạm Duy thật tuyệt vời, từ "Bà Mẹ Gio Linh" đến Mẹ Tổ Quốc vĩ đại đã gợi hứng cho Phạm Duy kiệt tác "Việt Nam Việt Nam" xứng đáng được chọn làm quốc ca vì nó thắm đượm tình người hơn hẳn "Đoàn quân Việt Nam đi...".

     Bản tình ca "Tôi yêu tiếng nước tôi" cùng với hai bản trường ca "Con đường Cái quan" và "Mẹ Việt Nam" tuy dài ngắn khác nhau nhưng gộp lại đã trở thành lời ca ngợi quê hương tổ quốc đẹp đẽ nhất : người nghệ sĩ hát rong năm xưa đi Từ miền Bắc, Qua miền Trung, Vào miền Nam, đi trên Đất Mẹ, trèo qua Núi Mẹ, chèo chống trên Sông Mẹ, Biển Mẹ, cuối cùng thấy được một Mẹ Việt Nam sáng ngời đã "đem vào sông núi" ước vọng "tự do, công bình, bác ái muôn đời" là những điều mà người Việt Nam có lẽ chưa bao giờ có !

     Sống tại nước ngoài vì khát vọng tự do, Phạm Duy đã cống hiến thêm vào kho tàng âm nhạc Việt Nam hai kiệt tác mới. Bầy chim bỏ xứ mượn hình tượng chim Việt Nam để nói về thân phận con người xa xứ và niềm tin hồi xứ đang nung nấu tâm can hàng triệu sinh linh trong cộng đồng hải ngoại hôm nay : 37 người viết, kể cả Phạm Duy người viết Lời vào đề của tổ khúc Bầy chim bỏ xứ do Lời Vàng xuất bản tại Hoa Kỳ (1991) đã nói lên nỗi đau và niềm tin ấy để nâng nét nhạc lời ca bay bỗng :

     Mây trời này, mây trời không tím ngát

     Con hoàng khuyên không ngừng hát chiêm bao !

     Còn Truyện Kiều minh họa có lẽ là bản giao hưởng tuyệt hảo cuối đời mà Phạm Duy đắc ý nhất. Mấy năm qua anh đã đi khắp Bắc Mỹ, Tây Âu, rồi Á, Úc để giới thiệu nó với tinh thần sảng khoái tối đa : "Tôi không đủ tài sức để phổ nhạc trên ba nghìn câu thơ tuyệt vời của thi hào Nguyễn Du đâu. Tôi chỉ đưa ra bốn bức minh họa, có nghĩa là chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm làm cho câu thơ có thêm màu sắc [...]. Chúng tôi (Phạm Duy và Duy Cường) dùng giai điệu và hòa điệu để mô tả cái cánh đồng cỏ non của ngày xuân... hay tả nỗi buồn của nàng Kiều trước lầu Ngưng Bích...".

     Duy Cường đã về Việt Nam lấy mẫu âm thanh của hầu hết các nhạc cụ dân tộc để minh họa Truyện Kiều. Các giọng hát trữ tình của Ái Vân, Thái Hiền, Thái Thảo, đĩnh đạc của Duy Quang, Tuấn Ngọc..., giọng ngâm truyền cảm của Thanh Ngoan làm cho Truyện Kiều minh họa của  Phạm Duy (Duy Cường hòa âm phối khí) đi nhẹ mà sâu vào mọi tâm hồn đã dành sẵn mối tình đồng điệu cho má hồng mệnh bạc.

     Bộ Hồi Ký của Phạm Duy [3 tập đầu : Thời thơ ấu, Thời vào đời (1990), Thời cách mạng kháng chiến (1989), Thời phân chia quốc-cộng (1991) đã được xuất bản ; tập cuối : Thời hải ngoại (2000) đã được đưa lên mạng Internet] và đã được đón tiếp nồng nhiệt. Nó gián tiếp trả lời sự phê phán đầy ác ý trước và sau 1975 của những Nguyễn Trọng Văn, Trần Bạch Đằng... Đồ tể văn nghệ thời nào chẳng có, nhưng chỉ có những người bạn như Tạ Tỵ (Phạm Duy còn đó nỗi buồn) hay Trần Văn Khê (Thư gởi Phạm Duy, 1992) mới hiểu Phạm Duy.

     Qua Hồi Ký tám mươi năm của một đời người, chúng ta có chân dung chân thực của nhiều Phạm Duy : người nghệ sĩ hát rong, người nhạc sĩ kháng chiến, người công dân thời đất nước bị chia cắt, người bạn của nhiều nghệ sĩ tài hoa ở phía bên này hay bên kia, người tạm rời quê hương đi tìm tự do và nhân phẩm... Hồi Ký cho thấy bên cạnh ca sĩ - nhạc sĩ - nhà thơ Phạm Duy có một nhà văn, một thư ký của thời đại đã cung cấp cho ta nhiều tư liệu sống động từ thời thuộc địa đến thời phân chia quốc-cộng, một Phạm Duy không hận thù, không mặc cảm, bằng một văn phong trong sáng duyên dáng, khi tế nhị, khi bộc trực, khi hóm hỉnh hài hước, đã thiết tha kể lại những nỗi niềm buồn vui của một kiếp người gắn bó với bao thăng trầm của đất nước.

     Với bộ Hồi Ký tuyệt tác này, Phạm Duy, người viết nên nhiều tình khúc tuyệt vời, đã sáng tạo thêm một áng tình ca nữa - chứ không phải chỉ là một áng văn tự sự dài hơi - ngợi ca người Việt, đất Việt, tâm hồn Việt, văn hóa Việt vĩnh hằng. 

Nhà tư tưởng chính trị "nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ mới và một thiên niên kỷ mới“ để mời gọi "Tổ Quốc Ăn Năn" hay gợi nỗi niềm người Việt ân hận ? 

     Đầu năm 2001 tại Paris xuất hiện một tác phẩm chính luận 600 trang với nhan đề lạ lẫm "Tổ Quốc Ăn Năn, nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới". Sách bán chạy và đã hết sau vài tháng. Vào giữa hè 2004, sách đã được in lại, đẹp hơn với bổ túc và sửa chữa. Tác giả là Nguyễn Gia Kiểng, một cây bút quen thuộc của Thông Luận, nguyệt san thông tin nghị luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên.

     Tổ Quốc Ăn Năn đáng chú ý, trước hết vì nó đã phá một số kỷ lục về số lượng bình luận, có nhiều đồng thuận và những phản bác. Ví dụ vào giữa năm 2004 này, nhà phê bình Nguyễn Thị Sông Hương (Canada) đã dành 200 trang sách để phê phán Yếu tính phá sản trong Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng (Đại Nam phát hành, California, Hoa Kỳ).

     Nhiều nhà dân chủ, trí thức, học giả, văn nghệ sĩ có tên tuổi trong và ngoài nước đã có ý kiến về cuốn sách chính luận gây tranh cãi sôi nổi nhất trong ba năm qua ở cả trong lẫn ngoài nước. Vài ví dụ :

     Trần Độ : "[...] Một cuộc phản biện to lớn và toàn diện".

     Tôn Thất Thiện : "[...] Một cuộc tái xét toàn bộ, bao gồm suốt dòng lịch sử Việt Nam. Đây là một lối tiếp cận mới, rất hiệu nghiệm [...]".

     Nguyễn Vũ Bình : "[...] Một khối lượng kiến thức khổng lồ, những triết lý thực tiễn sâu sắc, văn phong trong sáng, khúc chiết thể hiện trong toàn bộ tác phẩm".

     Vương Hữu Bột : "[...] Có lẽ nửa thế kỷ nay tôi mới nghe có người Việt Nam viết đến hai chữ Tổ Quốc, đến tình yêu nước, với tấm lòng thiết tha, chân thành như Nguyễn Gia Kiểng".

     Đọc đi đọc lại Tổ Quốc Ăn Năn, tôi đồng ý hoàn toàn với những đánh giá trên đây và cũng chấp thuận gần như toàn bộ nội dung của tác phẩm trong tầm hiểu biết của tôi khi tác giả nói về Đất nước và Con người, Đoạn đường đã qua (quá khứ lịch sử), Vì đâu nên nỗi (tình hình hiện tại), Vài trang bị cho tương lai (một chương trình kiến tạo lại đất nước), Vươn mình lớn dậy ("Gởi vào giấc mộng nhắn ra cuộc đời").

     Qua Tổ Quốc Ăn Năn, tôi cùng một lúc tiếp xúc với một nhà văn, một nhà văn hóa và một nhà tư tưởng. Nhiều người đã đánh giá cao văn phong của Tổ Quốc Ăn Năn.

     Nhà văn Nguyễn Gia Kiểng đã làm người đọc nhỏ lệ khi anh nói đến những tình bạn bi tráng hay gợi tả nỗi niềm của người cha mất con, của người tù oan uổng…

     Chắc tác giả đã tham khảo một khối lượng rất lớn sách báo Việt Nam bên cạnh các tài liệu quốc tế cập nhật hóa để thực sự hoàn thành một cuốn sách của hy vọng và niềm tin, một tác phẩm sáng suốt và lạc quan, không khoan nhượng mà cũng không quá khích.

     Nhà văn hóa Nguyễn Gia Kiểng đã làm một việc lớn và khó, rất mới lạ : duyệt lại di sản của đất nước, di sản của văn hóa dân tộc. Và việc này đã gây ra nhiều sóng gió trong mấy năm gần đây. Có phải là Nguyễn Gia Kiểng đã nói lên được nhiều chân lý không hiển nhiên, nhiều nghịch lý mới lạ hay nhiều điều xằng bậy có "yếu tính phá sản"? Cuộc tranh luận chắc còn dài. Chúng ta hãy thận trọng và tỉnh táo để trao đổi ý kiến với nhau như những con người văn minh.

     Nhà tư tưởng chính trị Nguyễn Gia Kiểng, qua Tổ Quốc Ăn Năn đã cố gắng đặt lại một số vấn đề lịch sử liên quan đến vua chúa, kẻ sĩ, nhà Nho thời xưa, đã triệt để phê phán hai chủ thuyết đã và đang ảnh hưởng ghê gớm đến đất nước, lịch sử, con người và văn hóa Việt xưa nay : Nho giáo và chủ nghĩa cộng sản, đã nêu ra được những cái khác nhau và nhất là những cái rất giống nhau giữa hai chủ thuyết. Có những khẳng định nghiêm trọng có thể làm cho người ta ngạc nhiên hay đau lòng. Ví dụ : "Các nước phương Tây vượt trội bởi vì văn hóa của họ lành mạnh, tâm lý của họ đúng đắn. Nước Việt Nam đau khổ và nghèo nàn bởi vì văn hóa Việt Nam thui chột và tâm lý người Việt Nam bệnh hoạn" (tr. III). Để phê bình, phê phán Tổ Quốc Ăn Năn và rất nhiều vấn đề nó đặt ra chắc phải có nhiều thì giờ, nhiều suy nghĩ, thậm chí nhiều nghiên cứu nghiêm túc chớ không thể vội vã, bồng bột, qua loa, giản đơn.

     Riêng tôi, sau khi thưởng thức giá trị của Tổ Quốc Ăn Năn, tôi thấy có một đôi điều cần trao đổi với tác giả. Ví dụ anh có nói "văn hóa Việt Nam thui chột và tâm lý người Việt Nam bệnh hoạn", tôi e ngại rằng đó là một sự khái quát hóa quá vội vả chăng ? Theo tôi nghĩ, văn hóa ở Việt Nam ngày nay dưới chế độ hiện hành có thể là một văn hóa thui chột, do độc tài chính trị lẫn độc tài văn hóa gắn liền với một ý thức hệ thui chột, còn văn hóa Việt Nam cổ truyền và cả một bộ phận văn hóa Việt Nam hiện đại ở trong nước và ngoài nước chắc chắn là không thui chột hay nghèo nàn như có người có thể lầm tưởng. Văn hóa Việt Nam có thể nghèo nàn về tư tưởng nhưng chắc không nghèo nàn về văn học nghệ thuật.

     Những trang cuối cùng của Tổ Quốc Ăn Năn thật thống thiết và bi tráng : "[...] Một đảng cầm quyền đã cai trị đất nước một cách thô bạo trong một nửa thế kỷ [...] đã gây vô số tội ác mà không hề gặp một chống đối qui mô nào. Vậy phải nhìn nhận rằng trên thế giới này không tìm ra một dân tộc bạc nhược như vậy". Đó là một sự thật não lòng của thảm kịch Việt Nam ngày nay.

     Nhưng còn có một sự thật khác : "Mỗi người Việt Nam phải ăn năn và hối hận [...]. Tổ quốc phải hối hận và ăn năn. Một tổ quốc biết hối hận và ăn năn [...] thì tổ quốc ấy sẽ hồi sinh, sẽ đẹp và mạnh" ; chế độ độc tài này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt Nam [...] Rũ bỏ được nó  chúng ta sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do dân chủ, kỷ nguyên của những cố gắng chung và của thành công chung".

     Đó cũng là ý kiến của nhà sử học lớn của Pháp, Jean Lacouture. Khi đề tựa cuốn Mặt Thật của Bùi Tín, phải chăng ông đã nói lên được một qui luật của đời sống chính trị hiện đại :             "Đối với một dân tộc, tống khứ bọn ma quỉ nước ngoài dễ hơn là trừ khử bọn quỉ sứ trong nước [...] nhưng một khi đã đánh đuổi được bọn ma quỉ thì rồi cũng sẽ chiến thắng bọn quỉ sứ".

Lê Văn Hảo (Paris)

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]