|
Nẻo về văn hóa
văn minh Việt Nam
Sự
quan tâm của người Việt hải ngoại đối với văn hóa Việt Nam
Thời
đại hôm nay : kỷ nguyên toàn cầu hóa truyền thông
Chúng ta
đang sống trong một thời đại kỳ diệu của lịch sử văn hóa, văn minh loài người
: kỷ nguyên toàn cầu hóa truyền thông. Nhờ máy bay phản lực, fax, email,
internet, giây nói viễn liên, truyền hình qua vệ tinh… người ta chỉ cần đôi
ngày, vài giờ, vài phút, thậm chí vài giây để liên lạc với nhau qua lời nói,
hình ảnh. Thế giới bây giờ trở nên bé nhỏ như một cái làng hay cái chợ,
chúng ta trở nên gần nhau trong gang tất.
Nhờ phép
mầu toàn cầu hóa truyền thông ấy, chúng ta biết, trong cộng đồng Việt Nam hải
ngoại đông đến ba triệu người sống trên hơn 50 nước khắp năm châu, có rất
nhiều người sống xa quê hương mà vẫn gắn bó, quan tâm đến đất nước và văn
hóa Việt Nam mình. Từ Bắc Mỹ, Tây Âu, qua Đông Á, đến tận nước Nga, nước Úc
xa xôi, có những Nguyễn Khắc Kham, Kim Định, Nguyễn Thuyết Phong, Lê Văn Lân,
Vĩnh Sính, những Thụy Khuê, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Thái Kim Lan, Đinh Trọng
Hiếu, Thái Văn Kiểm, Hoàng Linh, Nguyễn Tiến Hữu, Nguyễn Văn Huy, Bùi Tín,
Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Thông Minh và hàng trăm tên tuổi khác
kể sao cho xiết, đã nồng nhiệt nói, viết về Việt Nam.
Do khả
năng tiếp thu có giới hạn trước biển truyền thông mênh mông, nếu được phép
làm một chọn lựa chủ quan, xin gợi tả cô đọng sau đây vài gương mặt giữa vô
vàn các gương mặt văn hóa, nghệ thuật đáng quí đang yêu trong cộng đồng hải
ngoại thân thương của chúng ta.
Người bạn đường
uyên bác của những Lý Thường Kiệt, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du...
trên dặm dài văn hóa sử
Hoàng
Xuân Hãn (1908-1996), ra đời tại Hà Tĩnh, mất tại Pháp, là nhà khoa học, nhà
giáo đã từng dạy tại Trường đại học khoa học Hà Nội trước khi tham gia nội
các Trần Trọng Kim (1945), rồi tham dự hội nghị Đà Lạt (1946). Chiến tranh
bùng nổ (12-1946), ông vĩnh viễn giã từ chính trị chuyển sang nghiên cứu Việt
Nam học cho đến cuối đời.
Từ giữa đến
cuối thế kỷ trước ông đã đóng góp cho khoa học nhân văn Việt Nam nhiều trước
tác quan trọng được in đi in lại nhiều lần : Danh Từ Khoa Học (1942), Lý Thường
Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao và Tôn Giáo triều Lý (1949-1950), v.v.
Từ 1951
ông sang định cư tại Pháp, tiếp tục cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu sử
học, văn học, Hán Nôm học, lịch pháp học… được xem là mẫu mực : La Sơn Phu Tử
(1952), Chinh Phụ Ngâm bị khảo (1953), Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần-Lê
(1978-1980), Lịch và Lịch Việt Nam (1982), v.v.
Kiệt tác
cuối cùng mà ông dành 50 năm để hoàn thiện (1946-1996) là Kiều tầm nguyên (chưa
xuất bản).
Muốn hiểu
biết thêm về nhà bác học này, xin tham khảo hai cuốn sách : La Sơn Yên Hồ
Hoàng Xuân Hãn (Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền biên soạn, ba tập, nhà xuất bản
Giáo Dục, Hà Nội, 1998, 4.152 trang) và Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và
Tạ Trọng Hiệp (Thụy Khuê thực hiện, 2002, 378 trang, đã được phát trên sóng
của đài RFI).
Trong tập
I của bộ La Sơn Yên Hồ… người ta chú ý đến 300 trang đầu vì có giới thiệu
nhiều ảnh và nhất là lời chứng của gần 60 người đã vinh danh Hoàng Xuân Hãn,
trong đó có nhiều tên tuổi của khoa học nhân văn Việt Nam trong và ngoài nước.
Bộ sách giúp chúng ta tìm thấy, hay tìm lại hầu hết những công trình được
xem là "mẫu mực", "cổ điển" liên quan đến Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Nguyễn
Thiếp, Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… qua nhiều sử
liệu, văn liệu quí hiếm mà Hoàng Xuân Hãn đã để cả một đời để phát hiện, tập
hợp, chắt chiu bảo trọng cho một nền văn hóa lâu đời đã bị tàn phá, cướp bóc,
mất mát quá nhiều!
Nhờ những
bài phỏng vấn xác thực của Thụy Khuê về Hoàng Xuân Hãn chứng nhân lịch sử, về
Bước đường nghiên cứu…, về phương pháp khoa học ứng dụng vào nghiên cứu
Hán Nôm, Truyện Kiều… chúng ta có được hình ảnh khả ái, gần gũi của nhà văn
hóa, bậc hiền nhân, một biểu tượng khó quên của chủ nghĩa nhân văn và đạo
làm người Việt Nam.
Người dẫn đường
thành thạo cho những cuộc hành trình vào các nền văn minh thế giới và các nền
văn hóa của Việt Nam
Nhà giáo
dục học Lê Thành Khôi, sinh năm 1923 tại Hà Nội, là cố vấn của UNESCO và
giáo sư danh dự tại Đại học Sorbonne Paris về hai môn học : Giáo dục so sánh,
Giáo dục và phát triển. Tác giả của hơn 40 công trình viết riêng và viết
chung, ông vừa chú ý đến giáo dục trong các nền văn minh trên thế giới vừa rất
quan tâm đến các nền văn hóa của Việt Nam. Bốn trước tác quan trọng nhất của
ông có lẽ là : Education et Civilisations ("Giáo dục và các nền văn minh",
do UNESCO bảo trợ, hai tập, Paris, 1995, 2001, 1.438 trang) ; Voyage dans
les cultures du Vietnam ("Hành trình vào các nền văn hóa của Việt Nam",
Paris 2001, 224 trang, với hơn 140 ảnh của tác giả) ; Histoire de la
Littérature du Vietnam ("Lịch sử văn học Việt Nam", bản thảo đã hoàn thành)
; Histoire des Arts du Vietnam ("Lịch sử các nền mỹ thuật của Việt Nam",
đang soạn).
Xin nói đến
trước tác mà chúng tôi tâm đắc nhất : "Hành trình vào các nền văn hóa của Việt
Nam". Bằng những ảnh thật đẹp mà tác giả đã chụp tại Việt Nam, Lê Thành Khôi
đích thị là người dẫn đường thành thạo đưa chúng ta vào giữa lòng văn hóa của
hơn 50 sắc tộc đã góp phần tạo ra một nền văn hóa Việt Nam lâu đời và đa dạng
trong một cuộc hành trình kỳ thú gồm năm chặng đường :
- Chặng 1
là "Đất và Nước", ngợi ca vẻ đẹp Việt Nam khi hùng vĩ, khi trữ tình, từ chòm
Lũng Cú tới mũi Cà Mau, sau đó là chuyến đi vượt thời gian từ thuở vua Hùng
dựng nước đến thời "xây dựng xã hội chủ nghĩa" và "đổi mới" hiện nay (xin
chú ý : các dấu ngoặc kép là của chính tác giả).
- Chặng 2
là "Các sắc dân và các vùng, miền", dành kể về con người đa số và thiểu số ở
miền Bắc (gồm các rẻo cao và vùng trung du, đồng bằng vùng châu thổ các sông
lớn (Hồng, Thái Bình, Mã, Lam), ở miền Trung (các vùng Thanh Nghệ, các đồng
bằng duyên hải từ người Chăm qua tay người Việt, vùng cao nguyên) cho tới
Nam bộ. Ở chặng này cảm động nhất là lúc người dẫn đường nồng nhiệt giới thiệu
người Chăm và văn hóa Chăm một thời vang bóng.
- Chặng 3
dành cho "Con người, gia đình và xã hội", nói nhiều về người Việt ; người dẫn
đường đã nhấn mạnh sự khác nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc
thể hiện rõ nhất qua sự tôn trọng người phụ nữ trong xã hội Việt Nam xưa nay.
- Chặng 4
giới thiệu "Tiếng Việt, văn học viết của người Việt, văn học truyền miệng của
các sắc dân thiểu số". Lê Thành Khôi không tiếc lời ca tụng vẻ đẹp ít được
biết tới của các nền văn học đã nở hoa trên rẻo cao, vùng trung du và cao
nguyên, hay văn học Chăm ở đồng bằng ven biển Nam Trung bộ, văn học Khmer
Nam bộ ở đồng sông Cửu Long.
- Chặng 5
và cuối cùng của cuộc hành trình giới thiệu rất công phu về "Một nghệ thuật
sống nghèo" (Un art de vivre pauvre), thể hiện qua ngôi nhà và ngôi vườn
(nhà-vườn), quan niệm về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe theo y học cổ truyền
từ Tuệ Tĩnh đến Lãn Ông, nghệ thuật uống chè (trà), nghệ thuật ăn : khi tinh
tế phức hợp, khi giản dị đạm bạc mà luôn luôn ngon lành, hấp dẫn vì nhiều dạng
vẻ ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Nam Trung bộ, Nam bộ, miền núi, miền xuôi ; âm nhạc
và kịch nghệ truyền thống, lễ hội đình đền chùa, du ngoạn hang động, v.v.
Nói tóm lại, nghệ thuật sống gọi là nghèo ấy thực sự chỉ nghèo ở vẻ bên
ngoài, tinh hoa bên trong của nó là sống không phô trương tốn kém mà thiên về
bình dị, tế nhị, hài hòa giữa người với thiên nhiên, giữa người với nhau, đượm
ít nhiều hương vị thanh đạm, thanh bần, vương vấn một chút kiệm ước thiền vị,
một chút phóng khoáng Lão Trang, chuộng trữ tình và nhân ái, luôn luôn lạc
quan và gắn bó với đời, bất chấp khó nghèo ba chìm bảy nổi…
Nay mai bộ
lịch sử văn học Việt Nam và bộ lịch sử các nền mỹ thuật Việt Nam mà giáo sư
đang hoàn thành sẽ chào đời để cho cuộc hành trình văn hóa đã bắt đầu xuôi
chèo mát mái sẽ kết thúc trọn vẹn như những mối tình đẹp.
Trí nhớ của thế
kỷ, nhà văn hóa khởi hành từ phương Tây để đi xuyên âm nhạc Việt Nam và âm
nhạc phương Đông
Nhiều người
cho nhà nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc Trần Văn Khê là trí nhớ của thế kỷ
20 vì giáo sư là tác giả của nhiều tập hồi ký (đã ra 5 tập) ghi lại ngồn ngộn
biết bao sự kiện liên quan đến một đời người, trải ra từ những năm 1920 của
thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này. Trước khi nói rõ thêm về bộ hồi ký độc đáo
ấy, thử xét xem tại sao Trần Văn Khê được coi là nhà văn hóa đi xuyên âm nhạc
Việt Nam và âm nhạc phương Đông.
Chuyên
gia lớn về cổ nhạc Việt Nam này đã được nhiều người trong và ngoài nước biết
đến. Tác phẩm đầu tiên của ông là La Musique vietnamienne traditionnelle ("Âm
nhạc Việt Nam truyền thống", Paris, 1962, 384 trang). Và trước tác mới đây
nhất là Du ngoạn trong truyền thống âm nhạc Việt Nam (Sài Gòn, 2004, 475
trang). Những cuộc nói chuyện về âm nhạc Việt, những lần giáo sư xuất hiện
trên đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình đều được hoan nghênh. Có một điều
hấp dẫn là năm 1987, La Revue Musicale ("Tạp chí Âm Nhạc", xuất bản tại
Paris) đã dành ba số gộp một (402, 403, 404) cho chủ đề "Trần Văn Khê và Việt
Nam", qua 7 bài : Con đường nghiên cứu dân tộc nhạc học (tự truyện) ;
Khái quát về âm nhạc Việt Nam ; Phân tích một bài hát Quan họ (bài "Mời giầu")
; Sử dụng máy sonagraphe để nghiên cứu tiết tấu ; Cương vị xã hội của nhạc
sĩ truyền thống ở châu Á ; Tiếng tới soạn thảo một lịch sử âm nhạc thế giới
(do Trần Văn Khê viết) và một Thư mục Trần Văn Khê (1959-1987) liệt kê đến
180 công trình lớn nhỏ của nhà dân tộc nhạc học : sách, bài báo, bài điểm
sách, bài viết cho Bách khoa toàn thư (Pháp, Anh, Mỹ, Ý…) liên quan đến
không chỉ âm nhạc Việt Nam truyền thống mà đến âm nhạc của hầu hết các nước
phương Đông (Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Mông Cổ, Ba Tư, các nước
Ả Rập…), liên quan đến cả kịch nghệ truyền thống Việt Nam và châu Á. Thư mục
này đã được bổ sung thêm bằng một Thư mục Trần Văn Khê (1988-2004) với không
dưới 50 công trình lớn nhỏ nữa, theo sự theo dõi của chúng tôi.
Những năm
gần đây nhà xuất bản Trẻ ở Sài Gòn đã phối hợp với công ty văn hóa Phương
Nam công bố nhiều trước tác của Trần Văn Khê mà quan trọng và lý thú nhất là
bộ "Hồi Ký" nhiều tập : Tập I : Ươm mầm trổ nụ, 2001 (304 trang) ; Tập II :
Đất khách quê người, 2001 (288 trang); Tập III : Bôn ba bốn biển năm châu,
2001 (500 trang) ; Tập IV : Một gánh nhạc, Một cuộc đời, 2002 (432 trang) ;
Tập V : Đãi cát tìm vàng, 2002 (412 trang).
Qua 5 tập
hồi ký, điều kinh ngạc đầu tiên là trí nhớ chính xác, sâu rộng của một con
người đã vượt xa tuổi "xưa nay hiếm" mà vẫn nhiệt tình ôn lại cho người đời
nay và đời sau hàng trăm sự kiện lớn nhỏ, chung riêng, hàng mấy trăm chi tiết
sống động, tỉ mỉ liên quan đến rất nhiều cuộc hành trình của một nhà văn hóa
đã đi qua bao nhiêu nước, tiếp xúc với bao nhiêu dân tộc để giới thiệu âm nhạc
Việt, mà khi nhớ lại, kể lại vẫn sống động tưởng chừng như sự việc mới xảy
ra hôm qua. Đáng khâm phục là sự uyên bác của một trí tuệ quan tâm đến nhiều
lãnh vực của khoa học nhân văn vượt ra ngoài thế giới âm nhạc vốn đã là một
vũ trụ kỳ diệu ở bề rộng lẫn chiều sâu. Đáng quí mến là sự cao thượng của một
tấm lòng "trong mọi việc làm thì không vì danh hay vì lợi mà chỉ vì tình,
tình đối với người thân, với dân tộc và rộng hơn nữa là với nhân loại".
Qua hồi
ký có thể thấy vị giáo sư viện sĩ đã có những đóng góp lớn lao vào việc
nghiên cứu giảng dạy, giới thiệu rộng rãi âm nhạc truyền thống của Việt Nam
và của cả phương Đông ra khắp thế giới.
"Sống chỉ
vì tình" như ông nói, "sống chỉ vì nhạc" như ông làm, con người này thật
đáng vinh danh. Đã có nhiều tôn giáo, giáo phái lớn nhỏ cho người ta chọn
theo để gởi gắm đức tin và hy vọng. Nếu có một tôn giáo nữa gọi là đạo Nhạc,
thì Trần Văn Khê, vì tình văn hóa, tình dân tộc, tình người, là vị sứ giả đã
và đang mải mê đi truyền đạo Nhạc.
Người nghệ sĩ
hát rong thiên tài đã dâng Mẹ Việt Nam "Ngàn lời ca", đã tặng đồng bào và đồng
loại bản giao hưởng Hồng nhan bạc mệnh
Mươi năm
gần đây, nhạc sĩ Phạm Duy quí mến của chúng ta đã dành nhiều thì giờ để viết
văn. Qua bốn tập "Hồi Ký" (1990-2000), chúng ta thấy Phạm Duy trước hết và
chủ yếu là một nghệ sĩ hát rong. Anh đã rong ruổi trên con Đường Cái Quan
Xuyên Việt, đi từ Kháng chiến khắc khổ về Thành thị tự do, đi từ Hà Nội tới
Sài Gòn, rồi "Về Miền Trung", đi từ Paris đèn sách năm xưa đến Thị trấn Giữa
đường ngày nay trên quê hương mới của "Bầy chim bỏ xứ", rồi tiếp tục đi rong
khắp Bắc Mỹ qua Tây Âu đến tận châu Á gần gũi và châu Úc xa xôi để hát "Ngàn
lời ca" dâng "Mẹ Việt Nam". Đến gần cuối đời người nghệ sĩ hát rong vĩ đại vẫn
chưa ngừng nghỉ vì anh còn muốn tặng cho đồng bào và đồng loại một tổ khúc
"Bầy chim bỏ xứ" đầy hứa hẹn về một ngày bầy chim hồi xứ, rồi lại muốn minh
họa "Truyện Kiều", không phải "phóng tác" như anh khiêm tốn nói mà thực chất
là dựa trên thơ Nguyễn Du để sáng tạo cả một bản giao hưởng hoành tráng vinh
danh một kiếp hồng nhan đã làm thổn thức biết bao tâm hồn Việt Nam từ 200
năm nay.
Trong "Ngàn
lẻ lời ca" mà Phạm Duy đã sáng tác để dâng tặng cho đời, lời ca nào cũng đẹp
đẽ nhưng đáng nhớ nhất từ đây đến mãi mãi có lẽ là khúc tình ca "Tôi yêu tiếng
nước tôi"... (1953), trường ca "Con đường Cái Quan" 1960) được thăng hoa
thành nhạc hòa tấu "Con đường Cái Quan" (1991), trường ca "Mẹ Việt Nam"
(1964), tổ khúc "Bầy chim bỏ xứ" (1985), "Truyện Kiều minh họa" (1997...) và
cũng rất đáng kể là bộ "Hồi Ký" (1990-2000) 4 tập.
Từ người
nghệ sĩ hát rong trên con đường Cái Quan của Việt Nam, rồi trên vạn nẻo đường
của hành tinh chúng ta, Phạm Duy đã trở thành nhạc sĩ lớn, toàn diện nhất của
Việt Nam. Trong hơn 50 năm qua, anh đã sáng tạo được ba huyền thoại, cũng là
ba hình tượng rất cổ và rất mới mà xiết bao gần gũi với tâm hồn Việt Nam. Là
người đầu tiên đã thu nhận và khai thác sâu sắc dân ca và nhạc cổ truyền để
sáng tác tân nhạc, Phạm Duy cũng tiếp thu được tinh hoa của nhạc phương Tây
để sáng tạo ba hình tượng : Tình yêu, Người mẹ, Quê hương-Tổ quốc. Gần đây,
Phạm Duy còn đưa ra hai hình tượng lớn khác : Người Việt xa xứ và Người phụ
nữ bạc mệnh (Kiều).
Nam Chi
đã viết rất đúng : "Phạm Duy là người làm nhạc tình nhiều nhất và hay nhất.
Ở Văn Cao chỉ có mơ mộng xa xôi, ở Trịnh Công Sơn, Đoàn Chuẩn-Từ Linh chỉ
có dịu dàng mà không có tình yêu cụ thể. Phạm Duy đi từ tình yêu ngây thơ mơ
mộng đến tình lãng mạn đắm say, từ lý tưởng đến xác thịt. [...] Từ lúc "Tìm
nhau", "Cho nhau" đến lúc "Nghìn trùng xa cách"...".
Huyền thoại
Mẹ của Phạm Duy thật tuyệt vời, từ "Bà Mẹ Gio Linh" đến Mẹ Tổ Quốc vĩ đại đã
gợi hứng cho Phạm Duy kiệt tác "Việt Nam Việt Nam" xứng đáng được chọn làm
quốc ca vì nó thắm đượm tình người hơn hẳn "Đoàn quân Việt Nam đi...".
Bản tình
ca "Tôi yêu tiếng nước tôi" cùng với hai bản trường ca "Con đường Cái quan"
và "Mẹ Việt Nam" tuy dài ngắn khác nhau nhưng gộp lại đã trở thành lời ca ngợi
quê hương tổ quốc đẹp đẽ nhất : người nghệ sĩ hát rong năm xưa đi Từ miền Bắc,
Qua miền Trung, Vào miền Nam, đi trên Đất Mẹ, trèo qua Núi Mẹ, chèo chống
trên Sông Mẹ, Biển Mẹ, cuối cùng thấy được một Mẹ Việt Nam sáng ngời đã
"đem vào sông núi" ước vọng "tự do, công bình, bác ái muôn đời" là những điều
mà người Việt Nam có lẽ chưa bao giờ có !
Sống tại
nước ngoài vì khát vọng tự do, Phạm Duy đã cống hiến thêm vào kho tàng âm nhạc
Việt Nam hai kiệt tác mới. Bầy chim bỏ xứ mượn hình tượng chim Việt Nam để
nói về thân phận con người xa xứ và niềm tin hồi xứ đang nung nấu tâm can
hàng triệu sinh linh trong cộng đồng hải ngoại hôm nay : 37 người viết, kể cả
Phạm Duy người viết Lời vào đề của tổ khúc Bầy chim bỏ xứ do Lời Vàng xuất bản
tại Hoa Kỳ (1991) đã nói lên nỗi đau và niềm tin ấy để nâng nét nhạc lời ca
bay bỗng :
Mây trời
này, mây trời không tím ngát
Con hoàng
khuyên không ngừng hát chiêm bao !
Còn Truyện
Kiều minh họa có lẽ là bản giao hưởng tuyệt hảo cuối đời mà Phạm Duy đắc ý
nhất. Mấy năm qua anh đã đi khắp Bắc Mỹ, Tây Âu, rồi Á, Úc để giới thiệu nó
với tinh thần sảng khoái tối đa : "Tôi không đủ tài sức để phổ nhạc trên ba
nghìn câu thơ tuyệt vời của thi hào Nguyễn Du đâu. Tôi chỉ đưa ra bốn bức
minh họa, có nghĩa là chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm làm cho
câu thơ có thêm màu sắc [...]. Chúng tôi (Phạm Duy và Duy Cường) dùng giai
điệu và hòa điệu để mô tả cái cánh đồng cỏ non của ngày xuân... hay tả nỗi
buồn của nàng Kiều trước lầu Ngưng Bích...".
Duy Cường
đã về Việt Nam lấy mẫu âm thanh của hầu hết các nhạc cụ dân tộc để minh họa
Truyện Kiều. Các giọng hát trữ tình của Ái Vân, Thái Hiền, Thái Thảo,
đĩnh đạc của Duy Quang, Tuấn Ngọc..., giọng ngâm truyền cảm của Thanh
Ngoan làm cho Truyện Kiều minh họa của Phạm Duy (Duy Cường hòa âm phối khí)
đi nhẹ mà sâu vào mọi tâm hồn đã dành sẵn mối tình đồng điệu cho má hồng mệnh
bạc.
Bộ Hồi Ký
của Phạm Duy [3 tập đầu : Thời thơ ấu, Thời vào đời (1990), Thời cách mạng
kháng chiến (1989), Thời phân chia quốc-cộng (1991) đã được xuất bản ; tập
cuối : Thời hải ngoại (2000) đã được đưa lên mạng Internet] và đã được
đón tiếp nồng nhiệt. Nó gián tiếp trả lời sự phê phán đầy ác ý trước và sau
1975 của những Nguyễn Trọng Văn, Trần Bạch Đằng... Đồ tể văn nghệ thời nào
chẳng có, nhưng chỉ có những người bạn như Tạ Tỵ (Phạm Duy còn đó nỗi buồn)
hay Trần Văn Khê (Thư gởi Phạm Duy, 1992) mới hiểu Phạm Duy.
Qua Hồi
Ký tám mươi năm của một đời người, chúng ta có chân dung chân thực của nhiều
Phạm Duy : người nghệ sĩ hát rong, người nhạc sĩ kháng chiến, người công dân
thời đất nước bị chia cắt, người bạn của nhiều nghệ sĩ tài hoa ở phía bên
này hay bên kia, người tạm rời quê hương đi tìm tự do và nhân phẩm... Hồi Ký
cho thấy bên cạnh ca sĩ - nhạc sĩ - nhà thơ Phạm Duy có một nhà văn, một thư
ký của thời đại đã cung cấp cho ta nhiều tư liệu sống động từ thời thuộc địa
đến thời phân chia quốc-cộng, một Phạm Duy không hận thù, không mặc cảm, bằng
một văn phong trong sáng duyên dáng, khi tế nhị, khi bộc trực, khi hóm hỉnh
hài hước, đã thiết tha kể lại những nỗi niềm buồn vui của một kiếp người gắn
bó với bao thăng trầm của đất nước.
Với bộ Hồi
Ký tuyệt tác này, Phạm Duy, người viết nên nhiều tình khúc tuyệt vời, đã
sáng tạo thêm một áng tình ca nữa - chứ không phải chỉ là một áng văn tự
sự dài hơi - ngợi ca người Việt, đất Việt, tâm hồn Việt, văn hóa Việt
vĩnh hằng.
Nhà tư tưởng
chính trị "nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ mới và một thiên
niên kỷ mới“ để mời gọi "Tổ Quốc Ăn Năn" hay gợi nỗi niềm người Việt ân hận
?
Đầu năm
2001 tại Paris xuất hiện một tác phẩm chính luận 600 trang với nhan đề lạ lẫm
"Tổ Quốc Ăn Năn, nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một
thiên niên kỷ mới". Sách bán chạy và đã hết sau vài tháng. Vào giữa hè
2004, sách đã được in lại, đẹp hơn với bổ túc và sửa chữa. Tác giả là Nguyễn
Gia Kiểng, một cây bút quen thuộc của Thông Luận, nguyệt san thông tin nghị
luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên.
Tổ Quốc
Ăn Năn đáng chú ý, trước hết vì nó đã phá một số kỷ lục về số lượng bình
luận, có nhiều đồng thuận và những phản bác. Ví dụ vào giữa năm 2004 này,
nhà phê bình Nguyễn Thị Sông Hương (Canada) đã dành 200 trang sách để phê
phán Yếu tính phá sản trong Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng
(Đại Nam phát hành, California, Hoa Kỳ).
Nhiều nhà
dân chủ, trí thức, học giả, văn nghệ sĩ có tên tuổi trong và ngoài nước đã
có ý kiến về cuốn sách chính luận gây tranh cãi sôi nổi nhất trong ba năm
qua ở cả trong lẫn ngoài nước. Vài ví dụ :
Trần Độ :
"[...] Một cuộc phản biện to lớn và toàn diện".
Tôn Thất
Thiện : "[...] Một cuộc tái xét toàn bộ, bao gồm suốt dòng lịch sử
Việt Nam. Đây là một lối tiếp cận mới, rất hiệu nghiệm [...]".
Nguyễn
Vũ Bình : "[...] Một khối lượng kiến thức khổng lồ, những triết lý thực
tiễn sâu sắc, văn phong trong sáng, khúc chiết thể hiện trong toàn bộ tác
phẩm".
Vương
Hữu Bột : "[...] Có lẽ nửa thế kỷ nay tôi mới nghe có người Việt
Nam viết đến hai chữ Tổ Quốc, đến tình yêu nước, với tấm lòng thiết tha,
chân thành như Nguyễn Gia Kiểng".
Đọc đi
đọc lại Tổ Quốc Ăn Năn, tôi đồng ý hoàn toàn với những đánh giá trên
đây và cũng chấp thuận gần như toàn bộ nội dung của tác phẩm trong tầm hiểu
biết của tôi khi tác giả nói về Đất nước và Con người, Đoạn đường đã qua
(quá khứ lịch sử), Vì đâu nên nỗi (tình hình hiện tại), Vài trang bị
cho tương lai (một chương trình kiến tạo lại đất nước), Vươn mình lớn
dậy ("Gởi vào giấc mộng nhắn ra cuộc đời").
Qua
Tổ Quốc Ăn Năn, tôi cùng một lúc tiếp xúc với một nhà văn, một nhà văn
hóa và một nhà tư tưởng. Nhiều người đã đánh giá cao văn phong của Tổ
Quốc Ăn Năn.
Nhà
văn Nguyễn Gia Kiểng đã làm người đọc nhỏ lệ khi anh nói đến những tình bạn
bi tráng hay gợi tả nỗi niềm của người cha mất con, của người tù oan uổng…
Chắc
tác giả đã tham khảo một khối lượng rất lớn sách báo Việt Nam bên cạnh các
tài liệu quốc tế cập nhật hóa để thực sự hoàn thành một cuốn sách của hy
vọng và niềm tin, một tác phẩm sáng suốt và lạc quan, không khoan nhượng
mà cũng không quá khích.
Nhà
văn hóa Nguyễn Gia Kiểng đã làm một việc lớn và khó, rất mới lạ : duyệt lại
di sản của đất nước, di sản của văn hóa dân tộc. Và việc này đã gây ra
nhiều sóng gió trong mấy năm gần đây. Có phải là Nguyễn Gia Kiểng đã nói
lên được nhiều chân lý không hiển nhiên, nhiều nghịch lý mới lạ hay nhiều
điều xằng bậy có "yếu tính phá sản"? Cuộc tranh luận chắc còn dài. Chúng ta
hãy thận trọng và tỉnh táo để trao đổi ý kiến với nhau như những con người
văn minh.
Nhà tư
tưởng chính trị Nguyễn Gia Kiểng, qua Tổ Quốc Ăn Năn đã cố gắng đặt
lại một số vấn đề lịch sử liên quan đến vua chúa, kẻ sĩ, nhà Nho thời xưa,
đã triệt để phê phán hai chủ thuyết đã và đang ảnh hưởng ghê gớm đến đất
nước, lịch sử, con người và văn hóa Việt xưa nay : Nho giáo và chủ nghĩa
cộng sản, đã nêu ra được những cái khác nhau và nhất là những cái rất giống
nhau giữa hai chủ thuyết. Có những khẳng định nghiêm trọng có thể làm cho
người ta ngạc nhiên hay đau lòng. Ví dụ : "Các nước phương Tây vượt trội
bởi vì văn hóa của họ lành mạnh, tâm lý của họ đúng đắn. Nước Việt
Nam đau khổ và nghèo nàn bởi vì văn hóa Việt Nam thui chột và tâm lý người
Việt Nam bệnh hoạn" (tr. III). Để phê bình, phê phán Tổ Quốc Ăn Năn và rất
nhiều vấn
đề nó đặt ra chắc phải có nhiều thì giờ, nhiều suy nghĩ, thậm chí nhiều
nghiên cứu nghiêm túc chớ không thể vội vã, bồng bột, qua loa, giản đơn.
Riêng
tôi, sau khi thưởng thức giá trị của Tổ Quốc Ăn Năn, tôi thấy có một
đôi điều cần trao đổi với tác giả. Ví dụ anh có nói "văn hóa Việt Nam
thui chột và tâm lý người Việt Nam bệnh hoạn", tôi e ngại rằng đó là một
sự khái quát hóa quá vội vả chăng ? Theo tôi nghĩ, văn hóa ở Việt Nam ngày
nay dưới chế độ hiện hành có thể là một văn hóa thui chột, do độc tài chính
trị lẫn độc tài văn hóa gắn liền với một ý thức hệ thui chột, còn văn hóa
Việt Nam cổ truyền và cả một bộ phận văn hóa Việt Nam hiện đại ở trong nước
và ngoài nước chắc chắn là không thui chột hay nghèo nàn như có người có thể
lầm tưởng. Văn hóa Việt Nam có thể nghèo nàn về tư tưởng nhưng chắc không
nghèo nàn về văn học nghệ thuật.
Những
trang cuối cùng của Tổ Quốc Ăn Năn thật thống thiết và bi tráng : "[...]
Một đảng cầm quyền đã cai trị đất nước một cách thô bạo trong một nửa thế kỷ
[...] đã gây vô số tội ác mà không hề gặp một chống đối qui mô nào. Vậy phải
nhìn nhận rằng trên thế giới này không tìm ra một dân tộc bạc nhược như vậy".
Đó là một sự thật não lòng của thảm kịch Việt
Nam ngày
nay.
Nhưng
còn có một sự thật khác : "Mỗi người Việt Nam phải ăn năn và hối hận [...].
Tổ quốc phải hối hận và ăn năn. Một tổ quốc biết hối hận và ăn năn [...] thì
tổ quốc ấy sẽ hồi sinh, sẽ đẹp và mạnh" ; chế độ độc tài này sẽ là chế độ
độc tài cuối cùng tại Việt Nam [...] Rũ bỏ được nó chúng ta sẽ vĩnh viễn đi
vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do dân chủ, kỷ nguyên của những cố
gắng chung và của thành công chung".
Đó
cũng là ý kiến của nhà sử học lớn của Pháp, Jean Lacouture. Khi đề tựa cuốn
Mặt Thật của Bùi Tín, phải chăng ông đã nói lên được một qui luật của đời
sống chính trị hiện đại : "Đối với một dân tộc, tống khứ bọn
ma quỉ nước ngoài dễ hơn là trừ khử bọn quỉ sứ trong nước [...] nhưng một
khi đã đánh đuổi được bọn ma quỉ thì rồi cũng sẽ chiến thắng bọn quỉ sứ".
Lê Văn
Hảo (Paris) |