|
Nẻo về văn hóa văn minh Việt
Nam
Sự quan tâm của người Bỉ và
người Áo đối với văn hóa Việt Nam
Lê Văn Hảo
Bỉ
và Áo : hai nước nhỏ, văn hóa lớn
Nói đến Bỉ ở Tây Âu và Áo
ở Trung Âu, người ta thường nghĩ đó là hai nước nhỏ. Nếu chỉ nói đến diện
tích và dân số, đúng là vương quốc Bỉ và cộng hòa Áo rất nhỏ so với thế giới
: Bỉ rộng 30.500 km2, 10 triệu dân, sử dụng ba ngôn ngữ (Hà Lan, Pháp, Đức)
; Áo rộng 84.000 km2, 8 triệu dân, nói thuần tiếng Đức. Nhưng về mặt lịch sử,
chính trị và văn hóa, hai nước này không nhỏ.
Vương quốc lập hiến Bỉ
tuy chỉ ra đời từ 1831 nhưng người Bỉ có mặt trong lịch sử châu Âu từ thế kỷ
9. Đến nay Bỉ đã đóng góp cho châu Âu và thế giới nhiều tài năng văn hóa
nghệ thuật lớn như : các danh họa Van Eyck, J. Bosch, Bruegel, Rubens, Van
Dyck… ; các văn hào, nhà thơ G. Simenon, M. Maeterlinck… Đặc biệt thủ đô
Bruxelles (Brussel) là một trong hai thủ đô của Liên Hiệp Châu Âu.
Tiểu quốc Áo đã xuất hiện
từ đầu thế kỷ 9, thời hoàng đế Charlemagne. Nhưng từ cuối thế kỷ 17 đến đầu
thế kỷ 20, Áo là một vương quốc cường thịnh dưới tên gọi Đế chế Áo, rồi Đế
chế Áo-Hung (Austro-Hongrois). Chỉ từ 1919 trở đi, cộng hòa Áo mới trở thành
một nước nhỏ ở Trung Âu. Tuy nhỏ về hình thể nhưng Áo lớn về văn hóa nghệ
thuật và đã đóng góp cho châu Âu và thế giới nhưng tên tuổi lẫy lừng : những
nhà văn, nhà thơ R-M. Rilke, S. Sweig… ; những nhạc sĩ J. Haydn, W-A Mozart,
F. Schuman… ; người cha của ngành phân tâm học S. Freud… Áo cũng có những
thành phố nghệ thuật tiếng tăm : thủ đô Vienne, Salzburg, Linz…
Đặc biệt là Bỉ và Áo có
những di tích lịch sử văn hóa lâu đời, những thư viện lớn, những viện bảo
tàng lịch sử, mỹ thuật, dân tộc học, phong phú không thua các nước lớn ở Âu,
Á, Mỹ, Phi. Người có thể tìm xem vô số tác phẩm, hiện vật quí hiếm của các
nước châu Á, trong đó có hàng ngàn tác phẩm, hiện vật của Việt Nam, tại Bỉ
và Áo.
Bỉ
và Áo quan tâm đến văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Chỉ trong vòng 20 năm
gần đây, Bỉ và Áo đã lần lượt tổ chức 5 cuộc triển lãm quan trọng về văn hóa
nghệ thuật Việt Nam. Đó là:
1. Tiếng những cổ trống,
Việt Nam – Nam Dương – Thái Bình Dương, từ tháng 3 đến tháng 9-1983 tại Viện
bảo tàng hoàng gia Mariemont, Bỉ.
2. Việt Nam thế kỷ 20,
Nghệ thuật tạo hình và nghe nhìn 1925-1998 tại Không gian Phương Nam (Espace
Méridien), Bruxelles, Bỉ, từ 9-10 đến 31-12-1998.
3. Những nền mỹ thuật
Việt Nam, Hoa đào và Chim xanh, tổ chức tại Viện bảo tàng hoàng gia
Mariemont, Bỉ, từ 20-4 đến 18-8-2002.
4. Việt Nam, mỹ thuật và
những nền văn hóa, từ tiền sử đến ngày nay, tại Viện bảo tàng hoàng gia Nghệ
thuật và Lịch sử Bruxelles, Bỉ, từ 17-9-2003 đến 29-2-2004.
5. Sự mê hoặc của Việt
Nam, Thần linh, Anh hùng, Tổ tiên, tại Cung điện mới, thành phố cổ Leoben,
Áo, từ 3-4- đến 1-11-2004 (1).
1983
: nền văn minh Đông Sơn được vinh danh tại Bỉ
Từ mùa xuân đến mùa thu
1983, Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont, tỉnh Morlanwelz, đã có sáng kiến
khởi xướng một cuộc triển lãm quan trọng và độc đáo : Tiếng những cổ
trống, Việt Nam-Nam Dương-Thái Bình Dương, tập hợp hơn 100 hiện vật quí
hiếm và tranh ảnh độc đáo của bốn viện bảo tàng Bỉ, Pháp và của nhiều bộ sưu
tập tư nhân. Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont muốn sử dụng chủ đề Trống
Đồng - hiện vật tiêu biểu nhất của văn minh Đông Sơn do những người Việt cổ
sáng tạo ra trong những thế kỷ cuối của thiên niên kỷ 1 trước công nguyên -
như một sợi chỉ đỏ dẫn đường để giới thiệu văn minh văn hóa miền Đông Nam Á
lục địa và hải đảo, "những thế giới xa xôi và chưa được biết đến".
Qua lời nói đầu của cuốn
Catalô dành riêng cho cuộc triển lãm này, ban tổ chức muốn vinh danh "nền
văn minh Đông Sơn và sự tỏa rạng của nó" từ lục địa Đông Nam Á đến quần đảo
Nam Dương và những đảo xa xôi của châu Đại Dương (Océanie).
Các hiện vật được chia
thành ba nhóm, cũng là ba phần lớn của cuộc triển lãm : Việt Nam, Nam Dương,
Thái Bình Dương. Đó là những trống, thạp, chuông đồng, tượng mồ, sừng ma
thuật (corne à magie), bộ phận trang trí mặt tiền kiến trúc (ornement de
façade), đồ trang sức, tượng đàn ông, đàn bà bằng đồng và bằng đá, mảnh gỗ
trang trí hình người dùng làm khiên, mộc, đồ dùng bằng tre, đất nung, hộp gỗ,
thắt lưng bằng vỏ cây, vũ khí bằng đồng (dao găm, mũi tên…), bằng gỗ (chùy…),
v.v. của người Việt cổ, của các sắc dân Tây Nguyên (Việt Nam), của nhiều sắc
dân Nam Dương và hải đảo trên Thái Bình Dương ngày nay - cho thấy ảnh hưởng
của văn minh Đông Sơn đã tỏa rạng trên toàn vùng Đông Nam Á cổ đại và cận
hiện đại.
Cuốn Catalô Tiếng những
cổ trống… chỉ vỏn vẹn 100 trang kèm theo 100 ảnh minh họa, nhưng tác giả
Catherine Talon-Noppe đã dành cho Việt Nam 30 ảnh và 50 trang viết về 12 chủ
đề : cái nhìn bao quát địa lý ; những giai đoạn tiến triển của tình hình dân
cư ở miền Bắc ; cuộc Nam tiến của người Việt ; Dân tộc Việt Nam, một ngoại
lệ ; một bức tranh ghép mảnh (mosạque) những sắc dân và những ngôn ngữ ;
lịch sử và triển vọng công cuộc nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam ; văn minh
Đông Sơn và sự tỏa rạng của nó ; trống đồng : tôn giáo và chính trị ; một
nghệ thuật đồ đồng ngoại lệ ; Đông Sơn và những người đương thời ; mối quan
hệ với Trung Quốc và sự cáo chung của văn minh Đông Sơn ; các sắc dân vùng
Tây Nguyên.
Tính đến 1983, thời điểm
của cuộc triển lãm, đây là những trang viết phong phú và nghiêm túc về văn
hóa người Việt cổ, lấy cảm hứng từ những nghiên cứu của Trường Viễn Đông Bác
Cổ Pháp cùng những nghiên cứu mới nhất của L. Bezacier, Nguyễn Phúc Long, Hà
Văn Tấn… trong những thập niên 1970-1980.
Viện bảo tàng hoàng gia
Mariemont - được sự hỗ trợ của các viện bảo tàng Bruxelles, Anvers (Bỉ),
Cernushi (Pháp) - đã làm được một công hai việc : vừa vinh danh văn minh
Đông Sơn, văn hóa Việt cổ, vừa khơi gợi cho thế giới biết về một nền văn
minh liên hoàn Đông Nam Á từ đất liền đến hải đảo, đâu đâu cũng thấp thoáng
bóng dáng đẹp đẽ của thiên tài Đông Sơn mà Việt Nam là người kế thừa chính
đáng.
1998 : hội họa và điện ảnh
Việt Nam được giới thiệu tại Bỉ
Năm 1988, Ủy ban Liên
Hiệp Châu Âu đã phối hợp cùng bộ văn hóa Pháp thoại của Bỉ và hội đồng quản
trị vùng Bruxelles đứng ra tổ chức cuộc triển lãm "Việt Nam thế kỷ 20, Nghệ
thuật tạo hình và nghe nhìn 1925-1998", từ ngày 9-10 đến 31-12-1998.
Bộ văn hóa thông tin Việt
Nam đã đồng ý cho các viện bảo tàng mỹ thuật, các họa sĩ có tên tuổi, các
nhà sưu tập tư nhân (Phan Kế An, Bùi Đức Minh, Phạm Văn Bổng, Nguyễn Văn Lâm...)
cho mượn tác phẩm. Một đoàn chuyên gia Việt Nam (Trịnh Hương Lan, Trần Văn
Thủy…) cũng đã đến Bruxelles tiếp tay những chuyên gia Bỉ thực hiện cuộc
triển lãm.
Trong số 105 tác phẩm của
44 họa sĩ Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau từ 1925 đến 1998 được trưng
bày trong cuộc triển lãm này, có nhiều kiệt tác, nhiều tác phẩm đáng mến mộ.
Người xem có dịp tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm để đời của những danh
họa xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ thế hệ Lê Văn Đệ,
Tô Ngọc Vân…. đến thế hệ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm… và một số họa sĩ
đàn em, đàn con, đàn cháu tài ba từ sau 1945 đến nay, những Lưu Công Nhân,
Lê Thanh Đức, Đinh Ý Nhi…
Ngành điện ảnh non trẻ
của Việt Nam, với chủ đề "Việt Nam thế kỷ 20" cũng đã gặt hái được nhiều
khích lệ đáng kể qua Cô gái trên sông, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ lai, Một cõi tâm
linh, Đường dây sông Đà, Chìm nổi sông Hương… của những Đặng Nhật Minh,
Trần Văn Thủy, Lê Mạnh Thích…
Khách xem tranh xem phim
đã giữ những kỷ niệm tốt lành về Việt Nam, đất nước và con người (2).
2002
: mượn Hoa đào và Chim xanh của Nguyễn Du để vinh danh mỹ thuật Việt Nam
Vẻ chi một đóa yêu đào
Vườn hồng chi dám ngăn rào
chim xanh
("Truyện Kiều", câu 503-504)
Với tư cách là một trong
hai người đứng ra tổ chức triển lãm "Các nền mỹ thuật Việt Nam, Hoa đào và
Chim xanh", Jean-François Hubert, sau khi đọc được câu thơ Kiều (lời Kiều
nói với Kim Trọng), đã quyết định mượn hình tượng Hoa và Chim ấy làm nhan đề
phụ cho cuộc triển lãm lần thứ nhì, từ tháng 4 đến tháng 8-2002, mà Viện bảo
tàng hoàng gia Mariemont dành riêng cho Việt Nam (3).
Phong phú hơn hẳn lần
trước, Jean-François Hubert và Catherine Noppe đã tập hợp được 200 tác phẩm
và hiện vật từ 5 viện bảo tàng Bỉ (Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont, Viện
bảo tàng hoàng gia Nghệ thuật và Lịch sử Bruxelles), Pháp (Viện bảo tàng
Cernushi, Paris), Việt Nam (Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội) và từ
nhiều bộ sưu tập mỹ thuật của tư nhân ở một số nước châu Âu và Việt Nam,
liên quan đến nhiều thời đại, thời kỳ, loại hình mỹ thuật và sắc dân.
Cuốn Catalô, do C. Noppe
và J-F. Hubert chủ biên, đã được 13 chuyên gia Bỉ, Pháp và Việt tham gia
viết bài nghiên cứu về các đề tài : sự hình thành Việt Nam ; văn hóa Đông
Sơn ; đồ đồng và đồ gốm Giao Chỉ (thời Bắc thuộc) ; gốm sứ các thời Lý, Trần,
Lê, Nguyễn ; kiến trúc và điêu khắc của người Việt ; mỹ thuật và tôn giáo
Champa ; Victor Tardieu và Trường Mỹ Thuật Đông Dương ; nghệ thuật trang
phục các sắc dân thiểu số.
Lần đầu tiên các tác phẩm
và hiện vật tiêu biểu như gốm sứ Hậu Lê, đồ trang sức và kim loại quí hiếm
của Champa được phân tích bằng những kỹ thuật hóa học và vật lý học hiện đại
nhất, kể cả sử dụng máy gia tốc cộng hưởng (cyclotron).
2003 : "Những nền mỹ thuật của
Việt Nam", một tác phẩm xuất sắc của hai tác giả Bỉ, Pháp
Sau khi tổ chức thành
công cuộc triển lãm "Hoa đào và Chim xanh" tại Viện bảo tàng hoàng gia
Mariemont (xuân-thu 2002) và cho phát hành cuốn Catalô đẹp đẽ của cuộc triển
lãm, Catherine Noppe và Jean-Franois Hubert đã cùng biên soạn một công trình
văn hóa khác nhan đề Arts du Vietnam (Những nền mỹ thuật của Việt Nam), do
nhà xuất bản Parkstone Press Ltd ở New York ấn hành vào mùa xuân 2003. Sách
dày 271 trang, khổ lớn, được minh họa bằng 287 hình ảnh, 3 bản đồ, một bản
biên niên so sánh mỹ thuật thế giới Trung Quốc-Việt Nam-Champa. Liền ngay
sau đó, bản nguyên tác tiếng Pháp đã được dịch sang nhiều thứ tiếng.
Nhìn cấu trúc cuốn sách,
người ta thấy hai tác giả đã lướt nhanh qua các thời đại Hùng Vương, Lý-Trần
và nền mỹ thuật các sắc dân thiểu số ở Việt Nam. Bù lại họ đã dừng lâu hơn
và đã nghiên cứu khá kỹ lưỡng mỹ thuật các thời Hậu Lê và Nguyễn. Mỹ thuật
thời Pháp thuộc được giới thiệu phong phú và công phu nhất bên cạnh những
trang đẹp đẽ về nền mỹ thuật Champa rực rỡ, cũng như những trang sắc sảo về
gốm sứ Việt ở các thời Bắc thuộc, Lý, Trần, Lê, Nguyễn với nhiều thông tin
quí hiếm và hình ảnh minh họa rất đẹp. Về kiến trúc và điêu khắc, rất tiếc
là đã thiếu vắng nhiều pho tượng Phật, tượng Tổ và La Hán nổi tiếng ở các
chùa (Mía, Tây Phương, Bút Tháp…) và rất nhiều kiệt tác chạm khắc gỗ vô cùng
độc đáo ở các đình làng (Tây Đằng, Chu Quyến, Thổ Hà…).
Mặc dù chưa hoàn hảo,
giới Việt Nam học và Đông phương học đã đồng ý rằng đây là một thành tựu
đáng trân trọng, một tác phẩm lịch sử mỹ thuật không thể thiếu trong các thư
viện công cộng cũng như trong tủ sách của những ai muốn tìm hiểu thêm về văn
hóa nghệ thuật của người Việt và các sắc dân khác ở Việt Nam.
2003 và 2004 : hai cuộc triển
lãm về văn hóa nghệ thuật Việt Nam lớn nhất tại Bỉ và Áo
Trong hai năm 2003 và
2004, hai nhà văn hóa học Bỉ và Áo, Miriam Lambrecht và Christopher
Schicklgrüber, đã thực hiện hai cuộc triển lãm về văn hóa nghệ thuật Việt
Nam có lẽ lớn nhất từ trước đến nay. Đó là :
- Cuộc triển lãm "Việt
Nam, mỹ thuật và những nền văn hóa, từ tiền sử đến ngày nay" tại thủ đô
Bruxelles, Bỉ, từ 17-9-2003 đến 29-2-2004, với 442 tác phẩm và hiện vật.
- Cuộc triển lãm "Sự mê
hoặc của Việt Nam, Thần linh, Anh hùng, Tổ tiên" tại thành phố cổ Leoben, Áo,
từ 3-4-2004 đến 1-11-2004, với 802 tác phẩm và hiện vật.
Từ nhiều năm qua, các nhà
văn hóa học, bảo tàng học, chuyên gia lịch sử nghệ thuật châu Á tại các viện
bảo tàng hoàng gia Bỉ và các viện bảo tàng mỹ thuật và dân tộc học Áo đã có
ý định hợp tác dàn dựng một cuộc triển lãm toàn cảnh và tương đối đầy đủ về
văn hóa văn minh Việt Nam. Cuối cùng ước muốn này đã trở thành hiện thực...
sau 10 năm quyết tâm và kiên nhẫn. Đó cũng là thời khoảng kỷ lục mà ít có
những nhà văn hóa phương Tây có thể chờ đợi và chấp thuận.
Công lao đầu tiên là của
nữ tiến sĩ Miriam Lambrecht, người Bỉ, thuộc Viện bảo tàng hoàng gia Nghệ
thuật và Lịch sử Bruxelles. Nhưng công lao lớn nhất có lẽ thuộc về tiến sĩ
Christian Schicklgrüber, người Áo, thuộc Viện bảo tàng dân tộc học Vienne.
Cả hai cùng là trưởng ban tổ chức và đồng chủ biên cuốn Catalô đồ sộ của hai
cuộc triển lãm được viết bằng bốn thứ tiếng (Pháp, Hà Lan, Đức, Anh).
Trả lời nhà báo Việt Nam,
hai vị này cho biết họ đã làm việc ròng rã trong suốt 10 năm trời, từ 1993
đến 2003, với các đối tác Việt Nam, đã lặn lội đến nhiều viện bảo tàng,
nhiều đình chùa đền cổ xưa ở Hà Nội và nhiều địa phương để lùng tìm và phát
hiện những tác phẩm mỹ thuật và hiện vật dân tộc học tiêu biểu chưa được
quần chúng phương Tây biết tới. Phải chờ đến năm 2000 những cuộc tiếp xúc
với các đối tác Việt Nam mới thu được những tín hiệu khả quan (4).
Hai vị đại sứ Bỉ và Áo
cũng đã phải nhập cuộc thương thuyết, đàm phán để ước muốn của các nhà văn
hóa học Bỉ và Áo trở thành hiện thực. Cuối cùng phía Việt Nam đã chấp nhận
sửa đổi luật lệ, cho phép mượn và đưa cổ vật ra nước ngoài ; phía Bỉ và Áo
đã đồng ý chi trả số tiền bảo hiểm lên đến gần 6 triệu USD, đó là chưa kể
đến những chi phí khác cũng tốn hàng triệu euros.
Khi được hỏi lý do tổ
chức cuộc triển làm này, nữ tiến sĩ M. Lambrecht khiêm nhường cho biết : "Sở
dĩ có cuộc trưng bày này là vì các Viện bảo tàng hoàng gia Bỉ (Bruxelles
và Mariemont) đang sở hữu một bộ sưu tập có một không hai về đồ đồng Việt
cổ và gốm sứ Việt Nam từ thế kỷ 14 trở về trước…", khoảng 3.000 tác phẩm
và hiện vật.
Ban tổ chức Bỉ-Áo nhấn
mạnh : "Chúng tôi mong muốn trình bày cho bằng được một bộ mặt khác của
Việt Nam. Để
thực hiện điều đó, chúng tôi đã phải tập hợp những cổ vật từ nhiều nguồn,
chẳng những từ Việt Nam
(13 bảo tàng) mà còn từ 8 bảo tàng lớn ở châu Âu (London, Paris, Đức,
Hà Lan, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ) và từ nhiều bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu".
Tiến sĩ C. Schicklgrüber
cho biết ông đã đến Việt Nam tháng 5-2000 với bản đề cương cuộc triển lãm
tại Bỉ và Áo và tìm gặp các đồng nghiệp Việt Nam đề nghị họ góp ý. Sau đó
ông đã để ra ba năm (2001-2003) đi thăm các bảo tàng Việt Nam để tuyển chọn,
đàm phán mượn tác phẩm và hiện vật. Phải chờ đến tháng 6-2003 những cổ vật
đầu tiên của Việt Nam lên đường sang Bỉ (5).
Tổng cộng có tất cả 416
tác phẩm thuộc các thời kỳ tiền sử và lịch sử, các nền văn hóa nghệ thuật
nhiều sắc dân của Việt Nam : đồ đồng, gốm, sứ, tranh tượng, y phục, nhạc khí…
mà Việt Nam đã cho Bỉ và Áo mượn.
Người xem đến từ nhiều
quốc gia châu Âu và du khách quốc tế đã vô cùng thích thú khi ngắm nhìn
những trống đồng Hoàng Hạ, Ngọc Lũ, Vienne (trước đây quen gọi là trống
Gillet) tượng trưng cho văn minh và tâm hồn người Việt cổ. Những tác phẩm
gốm, sứ các thời Lý, Trần, Lê (Bát Tràng, Chu Đậu) được trưng bày hài hòa
với những pho tượng Chăm điêu luyện, bên cạnh những tác phẩm hội họa cổ điển
và dân gian vô cùng đa dạng của các sắc dân Việt Nam… mà hình ảnh được ghi
lại đẹp đẽ trong tập Catalô in ấn công phu, chân xác.
Nội dung khoa học và thẫm
mỹ của cuốn Catalô phong phú này có được là nhờ sự đóng góp của 13 nhà văn
hóa, nhà nghiên cứu Bỉ, Áo, Anh, Pháp, Việt có uy tín. Những chủ đề lớn đã
lần lượt được đề cập tới là : lịch sử Việt Nam từ cội nguồn đến ngày nay ;
thương mại và trao đổi trong lịch sử Việt Nam ; dẫn nhập vào lịch sử văn hóa
Việt Nam ; âm nhạc và kịch nghệ ở Việt Nam ; các tôn giáo, tín ngưỡng và sự
thờ cúng ở Việt Nam ; Việt Nam một đất nước đa sắc tộc, đa văn hóa, làng
Việt Nam giữa truyền thống và hiện đại…
Tuy vậy, trong cuộc triển
lãm "Việt Nam, mỹ thuật và những nền văn hóa, từ tiền sử đến ngày nay" tại
thủ đô Bruxelles (Bỉ) có một nốt nhạc sai. Đó là những người tổ chức đã dành
cho phần đầu của triển lãm quá nhiều hình ảnh về chiến tranh, bạo lực, tàn
phá và chết chóc tại Việt Nam khiến một số người xem cho đó là một việc làm
"lạc đề", "lên gân" hay "tuyên truyền" không cần thiết, không đúng chỗ trong
một không gian trưng bày rộng 150 m2. Sự bất bình này đã được thể hiện khi
xem, rồi trong cuốn Sổ Vàng góp ý của cuộc triển lãm.
Nhạy bén trước phản ứng
của những người xem chỉ muốn tiếp xúc với "nghệ thuật và các nền văn hóa của
Việt Nam" ấy, ban tổ chức cuộc triển lãm "Sự mê hoặc của Việt Nam, Thần linh,
Anh hùng, Tồ tiên" ở Áo đã rút kinh nghiệm và thực hiện những điều chỉnh cần
thiết để phù hợp với nội dung một cuộc triển lãm về văn hóa và nghệ thuật
đúng nghĩa.
Về địa điểm, lúc đầu cuộc
triển lãm được dự định tổ chức tại thủ đô Vienne, nhưng nhân dịp thành phố
cỏ kính nhất của Áo là Leoben vừa tròn 1.100 tuổi (904-2004), ban tổ chức đã
quyết định đưa về Lâu Đài Mới (Neue Hofburg) của thành phố cổ Leoben,
nơi tọa lạc Thư viện quốc gia và Viện bảo tàng mỹ thuật của thành phố. Từ đó
cuộc triển lãm hoành tráng về văn hóa nghệ thuật của Việt Nam đã được đưa
lên hàng đầu danh mục 100 sự kiện tiêu biểu nhất trong năm 2004, năm sinh
nhật thứ 1.100 của thành phố Leoben, với hội chợ, dạ hội, diễn hành, sinh
hoạt văn hóa và lễ hội đa dạng.
Cuốn Catalô "Sự mê hoặc
của Việt Nam...", lần này được in bằng tiếng Đức và Anh, trình bày rất mỹ
thuật, trong đó có ba bài viết mới của tiến sĩ thị trưởng Leoben, giáo sư
tổng giám đốc Các viện bảo tàng dân tộc học Vienne, và bài dẫn nhập của tiến
sĩ C. Schicklgrüber vinh danh đất nước và văn hóa Việt Nam đồng thời đề cao
giá trị những bài viết của các nhà bác học và chuyên gia Bỉ, Áo, Anh, Pháp,
Việt khác viết trong Catalô.
Cuộc triển lãm tại Áo đã
qui tụ hàng chục vạn người xem. Người Áo đã thực sự quan tâm đến văn hóa
Việt Nam và cuộc gặp gỡ "Thần linh, Anh hùng và Tổ tiên" của Việt Nam trên
đất Áo, với 416 tác phẩm đến từ Việt Nam cộng với 386 hiện vật của 8 Viện
bảo tàng nổi tiếng của châu Âu (6), là một vinh dự hiếm có và cũng là niềm
tự hào chính đáng dành cho Việt Nam văn hiến ngàn năm.
Lê Văn Hảo
(Paris)
Chú thích và tham khảo :
(1) - Catherine Talon-Noppe và
Françoise Fauconnier (biên soạn), La Voix des Tambours,
Vietnam-Indonésie-Pacifique, Musée Royal de Mariemont, 1983, 99 tr.
- Nhiều tác giả, Bertrand de
Hartingh chủ biên, Vietnam 20e siècle, Arts Plastiques et Visuels de 1925
à nos jours, La Lettre Volée, Bruxelles, 1998, 216 tr.
- Catherine Noppe và
Jean-François Hubert (chủ biên), Arts du Vietnam, la Fleur de pêcher et
l’Oiseau d’azur, nhà xuất bản La Renaissance du Livre và Musée royal de
Mariemont, 2002, 196 tr.
- Miriam Lambrecht và
Christian Schicklgrüber (chủ biên), Vietnam - Art et Cultures de la
préhistoire à nos jours, Bruxelles, nhà xuất bản Snoeck, 2003, 272 tr.
- Miriam Lambrecht và
Christian Schicklgrüber (chủ biên), Faszination Vietnam, Gưtter, Helden,
Ahnen, Leoben, nhà xuất bản Snoeck, 2004, 277 tr.
(2) Văn Ngọc, "Triển lãm Việt
Nam thế kỷ 20, 1925-1998", tạp chí Diễn Đàn, Paris, số 80, tháng 12-1998.
(3) Catherine Noppe và
Jean-François Hubert, Arts du Vietnam, Parkstone Press, New York, 2003, 271
tr.
(4) Nguyễn Hữu Thái, "Đưa
phố cổ Hà Nội sang châu Âu", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 4, 2004.
(5) Trần Đức Anh Sơn, "10
năm cho một triển lãm Việt Nam tại Áo", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 14, 2004.
(6) Tại Bruxelles, số
lượng tác phẩm và hiện vật trưng bày là 442, tại Leoben ban tổ chức đã nâng
con số này thành 802 nhờ sự đóng góp của Viện bảo tàng dân tộc học Vienne (Áo),
nơi tàng trữ hàng trăm hiện vật Việt Nam.
|