Văn
hóa và sự giàu mạnh của các nước :
Trường
hợp Hoa Kỳ, Xứ Đàng Trong và Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tôn
Thất Thiện
Một
câu hỏi quan trọng
Trong thời gian qua, tôi được may
mắn đọc một tác phẩm của bà Li Tana, một học giả quốc
tịch Trung Hoa, gốc Mông Cổ, mang tít Xứ Đàng Trong : Lịch sử
kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (1). Đây là một
luận án tiến sĩ được xuất trình tại Đại Học Quôc Gia Úc
năm 1992. Chủ đề của luận án này là trong hai thế kỷ XVII và
XVIII, ở Xứ Đàng Trong, giang sơn của các chúa Nguyễn, đã xuất
hiện không những một quốc gia, mà một nền văn hóa mới, mang
bản sắc đặc biệt. Nhờ đó mà Xứ Đàng Trong không những đã
vững chắc về chính trị, mà còn hùng cường về binh lực và
phong phú về kinh tế, đủ sức để một mặt đương đầu với
chúa Trịnh phía bắc, đất đai rộng lớn hơn, dân số đông hơn,
tài nguyên nhiều hơn, và mặt khác mở rộng biên giới Việt Nam
đến Châu Đốc, Hà Tiên, Cà Mau.
Tôi sẽ trình bày quan điểm rất mới lạ này về lịch sử
Việt Nam chi tiết hơn ở đoạn sau. Ở đây tôi muốn đề cập trước
đến phản ứng của tôi về quan niệm mới mẻ trên đây, là: liên
quan giữa sự tạo ra một văn hóa mới và sự giàu mạnh của
quốc gia. Muốn giàu mạnh một quốc gia phải chấp thụ một văn
hóa mới. Nhưng thế nào là "mới" ?
Tôi đang suy ngẫm về những mối manh
của quan niệm trên đây thì xảy ra vụ tranh cãi lớn ở Hội Đồng
Bảo An của Liên Hiệp Quốc về vấn đề dùng binh hay không dùng
binh chống Iraq. Cuộc tranh cãi không đi đến đâu vì Hoa Kỳ, bất
chấp việc không được sự đồng thuận và yểm trợ của Hội
Đồng, quyết định dụng binh để lật đổ chính quyền Saddam
Hussein.
Các quốc gia không ưa thích Hoa Kỳ, các bình luận gia và các
giới "cách mạng", phản chiến, thiên tả, "politically
correct", xoa tay, mỉm cười, nghĩ rằng mình lại có dịp la ó,
hô khẩu hiệu, biểu tình, tố cáo, chống đối Hoa Kỳ trong một
vụ Mỹ bị "sa lầy ở Việt Nam" nữa. Nhưng, tuy Hoa Kỳ
chỉ gom được một liên minh nhỏ, trong đó chỉ có Anh là cường
quốc, với một số quân tương đối nhỏ (250.000, so với 700.000 lúc
đánh Saddam năm 1991, và 500.000 ở Việt Nam), họ đã thanh toán
chế độ Saddam chỉ trong có ba tuần, và tổn thương dưới 150
binh sĩ... Về tổn phí, cuộc hành quân chưa tiêu đến 20 tỷ đô
la, trong số 80 tỷ - sơ khởi - mà Quốc Hội Mỹ đã cho phép chi
tiêu cho cuộc chiến.
Hoa Kỳ đã thành công toàn diện và
chớp nhoáng nhờ có lực luợng hùng mạnh, nhứt là về không quân
và các loại khí giới tối tân mà chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ
khả năng kỹ thuật và tài chính để chế tạo. Nghĩa là Hoa Kỳ
đã chứng tỏ rằng mình mạnh hơn tất cả các quốc gia khác, và
giàu hơn tất cả các quốc gia khác. Đây là một dữ kiện buộc
mọi người phải suy ngẫm, và tìm hiểu tại sao có sự kiện này?
Về mặt rộng lớn và tài nguyên, Hoa Kỳ không hơn gì các
quốc gia như Nga, Trung Hoa, Brasil, Canada. Diện tích Hoa Kỳ là 9,3
triệu km2, so với Nga (17 triệu), Canada (9,9 triệu), Trung Quốc (9,5
triệu), Brésil (8,5 triệu). Về dân số thì Hoa Kỳ chỉ có 283,2
triệu người, so với Trung Quốc (1.275 triệu), Ấn Độ (1.008
triệu). Nhưng về GNP thì Hoa Kỳ bỏ xa các quốc gia khác với
9.837 tỷ đô la, so với Trung Quốc (1.873 tỷ), và các quốc gia
dẫn đầu Âu Châu như Đức (1.873 tỷ), Pháp (1.294 tỷ), và rất
xa Nga (251,1 tỷ).
Nói tóm lại, trong tình trạng hiện tại, về quân sự, cũng
như về kinh tế, tại sao các quốc gia trên đây lại thua Hoa Kỳ
xa vậy, và dù tất cả có liên minh với nhau, cũng vẫn thua. Hoa
Kỳ hiện nay là quốc gia giàu mạnh nhất thế giới. Tại sao ?
Một câu hỏi cực kỳ quan trọng.
Văn
hóa Mỹ hướng về tương lai
Giải đáp cho câu hỏi đã đến với
tôi rất rõ nhờ sự hội tụ của hai sự kiện : tác phẩm của bà
Li Tana, và một câu trong bài "Iraq : chiến tranh hay nhân đạo
?" (Thông Luận, tháng 4, 2003) của anh Nguyễn Gia Kiểng. Về bà
Li Tana thì xin đề cập đến sau. Ở đây, xin nói đến đóng góp
của anh Kiểng. Trong bài của anh có câu : "Trước đây, quốc
gia được định nghĩa như một quá khứ chung, ngày nay quốc gia
chủ yếu là một tương lai chung. Một diễn viên mới đã xuất
hiện và chiếm trung tâm của sân khấu : cá nhân... Đó là
nền tảng của một trật tự thế giới mới..." (chữ
viết nghiêng là do chính tôi, T.T.T., nhấn mạnh)
Sự thực hiện ra trong đầu tôi như
sau : so với Hoa Kỳ, các quốc gia Âu châu, là những quốc gia được
coi như tân tiến hạng nhất của thế giới, đã không tiến được
vì người Âu châu hấp thụ một văn hóa nặng về phần bảo
tồn quá khứ. Hoa Kỳ đã vượt tới được vì người Mỹ
chấp thu một văn hóa hướng về tương lai. Bí quyết của phát
triển, tiến bộ ngày nay là đó. Quá khứ là cái neo, có tác động
rì chiếc tàu lại, trong khi tương lai là động cơ, có tác dụng
đẩy chiếc tàu đi tới.
Dân nước Mỹ có một cách nhìn đời,
nhìn sự vật, nhìn người, xử sự, đặc biệt: họ quay lưng cho
quá khứ, và hướng mặt về tương lai. Họ không bịn rịn về quá
khứ, không muốn vướng mắc với quá khứ, vì họ là dân di cư,
đã đoạn tuyệt với quá khứ, để tìm, để dựng cho mình một
cuộc đời mới, tốt hơn, đẹp hơn. Mà cuộc đời mới hơn,
tốt hơn, đẹp hơn đó chỉ có thể ở phiá trước họ, ở tương
lai. Phần khác, là dân di cư có quá khứ khác nhau, họ không thể
xây dựng một quốc gia trên căn bản của một quá khứ chung được,
mà chỉ có thể ý thức quốc gia như một tương lai chung, một
tập hợp mới.
Cho nên người Mỹ có tiếng là ít trọng
lịch sử, không thích nói về chuyện đã qua. Họ chú trọng hơn
về hiện tại và nghĩ đến tương lai, chuyện sắp tới, tìm cái
mới, làm cái mới.
Trong khi đó, người Âu châu (cũng như
Á châu) cứ tự đắc về "văn minh cổ xưa" của họ. Họ
rất chú trộng đến lịch sử, và không ngớt ca ngợi "thành
tích" của người xưa và thời xưa. Thái độ này thâu tóm
trong danh từ "cổ kính" : cái gì "cổ" là đáng
"kính". Danh từ Pháp "ancien" (khác với
"vieux"), và Anh "ancient" (khác với "old") có
nghĩa đó.
Tất nhiên không phải cái gì xưa, cổ cũng xấu, và nên
vất đi. Nhưng điều cần ghi ở đây là "thành tích" của
người xưa là những giải đáp hay, tốt, thích hợp cho những
vấn đề, và với những kiến thức và phương tiện về thời
của họ. Mỗi giai đoạn lịch sử có những vấn đề mới, đòi
hỏi nhưng giải đáp mới, dựa trên những tri thức và những phưong
tiện mớí. Nuớc Mỹ đã vượt xa các quốc gia khác vì người
Mỹ đã lấy lối tiếp cận này làm nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng
và đời sống hàng ngày của họ.
Xứ
Đàng Trong cùng thái độ
Thái độ trên đây cũng là thái độ của dân Xứ Đàng
Trong trong hai thế kỷ XVII và XVIII dưới sự cai trị của các chúa
Nguyễn.
Theo bà Li Tana, trong hai thế kỷ XVII và
XVIII, ở Xứ Đàng Trong không những đã xuất hiện không những
một quốc gia, mà một nền văn hóa mới, mang bản sắc đặc
biệt, khác với nền văn hóa cổ truyền phổ thông ở Đàng Ngoài.
Ở miền đất phía nam Núi Hoành Sơn, "vùng đất rời rạc
nhất thế giới... phủ đầy rừng rậm, và bao gồm một số vùng
định cư biệt lập với nhau", họ Nguyễn đã thiết lập và
duy trì được một quốc gia thống nhất, và người Việt đã
tạo dựng được một quốc gia Việt Nam khác : họ đã có cơ
hội để phát triển linh hoạt về mặt văn hóa, tạo nên những
truyền thống mới.
Theo Bà Li Tana, Miền Nam không những là một thực thể khác
Miền Bắc về mặt chính trị, kinh tế và xã hội, mà lại có
những điểm riêng biệt làm cho nó có một nền văn hóa rất khác
với văn hóa cổ truyền. Bà nói rằng một số nhà viết sử
Việt Nam có khuynh hướng hạ giá lịch sử Đàng Trong, và vương
quốc họ Nguyễn thường được xem như "một biến thể có tính
địa phương của triều Lê và của nền văn hóa theo Nho giáo"
không khác Đàng Ngoài mấy. Người ta có khuynh hướng bàn về
một nước "Đại Việt" duy nhất với những "nét đặc
trưng chung của Việt Nam ngay cả vào các thế kỷ 17 và 18", nhưng
sự thực hoàn toàn khác.
Bà viết : "Khi người Việt ở phía nam chấp nhận
những cái tên mới họ đặt cho hai miền - vùng ở "trong"
(Đàng Trong), chỉ vùng đất của họ và vùng ở "ngoài",
(Đàng Ngoài) chỉ phía bắc, thì rõ ràng đã có sự khác biệt
giữa hai miền nam, bắc. Sự khác biệt này mang ý nghĩa quan
trọng: từ nay, sẽ có hai cách thức làm người Việt Nam khác
nhau... đây là một thay đổi căn bản và đầy ấn tượng trong
lịch sử Việt Nam. Về tầm quan trọng, sự kiện này có thể sánh
với việc Việt Nam giành được độc lập từ tay Trung Hoa vào
thế kỷ 10... về bản chất, đây là một sự kiện đã dẫn đến
thành lập một hệ thống nhà nước mới và một nền văn hóa
mới phồn thịnh... vào thời đó, không chỉ có hai nước "Đại
Việt" mà còn có thể nói, vương quốc ở phía nam có những
điểm riêng biệt làm cho nền văn hóa Việt Nam trong tương lai xa
thêm phong phú rất nhiều".
Có tình trạng trên đây là do khí
lực và sức sống của Đàng Trong nảy sinh trực tiếp từ óc
thực dụng và mềm dẻo của các người Việt di dân. Những người
này đã "sẵn sàng coi nhẹ những khía cạnh của tập tục
và truyền thống tuy vẫn còn ý nghĩa đối với người dân ở phía
bắc, nhưng không còn thích hợp tại vùng đất phía nam nữa".
Nói đến "tập tục và truyền thống" là nói đến
Khổng giáo. Nhưng, bà Li Tana giải thích, các chúa Nguyễn không
thể dùng Khổng giáo làm căn bản cai trị được, vì "khẳng
định cơ bản của Khổng giáo trực tiếp mâu thuẫn với vị trí
của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổi loạn đối
với triều đình". Ta nên nhớ là căn bản tư tưởng Khổng giáo
là tôn trọng "chính thống", "tôn ty trật tự",
"tam cương" (trong đó "trung quân" chiếm hàng đầu),
và trong một quốc gia Khổng giáo, phiến loạn, hay chỉ bị nghi là
có ý phiến loạn, chống đối triều đình, là "trọng
tội", tội nặng nhất dẫn đến không những tử hình cho cá
nhân đương sự, mà đến cả "tru di tam tộc". Thái độ
của các chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng trở xuống, không thể nào
thích hợp với Khổng giáo được.
Phần khác, dân Xứ Đàng Trong là dân
từ nhiều vùng, nhiều gốc, nhiều loại, khác nhau. Như giáo sư
Phan Khoang viết trong tác phẩm Xứ Đàng Trong 1558-1777 (Sài Gòn,
1967) : "Nhân dân Thuận Hóa bấy giờ [lúc Nguyễn Hoàng đến
Thuận Hóa] gồm những thành phần rất phức tạp. Ngoài những người
chăm lo cày cấy, làm ăn, còn những người theo họ Mạc, khuấy động
cho nhà Mạc, những người tù đày, những du đãng, phiêu lưu, từ
các miền Nghệ, Thanh hoặc xa hơn nữa, xâm nhập qua thời đại,
đi tìm may mắn ở miền đất mới, những quan quân bất mãn họ
Trịnh hoặc bị lầm lỗi bỏ chạy vào nam, những thổ hào, thổ
tù cường nghạnh, nhũng nhiễu lương dân, những người Chàm còn
ở lại".
Sẳn
sàng thay đổi
Như bà Li Tana nhận xét, những phần
tử trên đây, tuy nguồn gốc khác nhau, nhưng có một điểm chung:
đối với họ, miền nam là "mảnh đất của những giấc mơ
về một cuộc sống tốt đẹp hơn, là một ngõ thoát". Họ là
di dân, đến một vùng đất mới, muốn thử một vận hội mới,
quyết định xây dựng một cuộc đời mới tốt hơn là những gì
cũ mà họ đã dứt khoát bỏ lại đàng sau họ. Họ là những người
sẵn sàng di chuyển và thay đổi, không chịu gò bó, dễ dàng bỏ
cái cũ, chấp nhận cái mới. Những người này ít bị ràng buộc
bởi những gò bó của một địa vị xã hội cao và những quy định
trong cách ứng xử của xã hội cũ nên được tự do phát huy sáng
kiến khi họ liên tục tiến xuống phía nam. Sự phát triển xuống
phía nam này đã tạo một vùng đất trên đó Khổng giáo, ý thức
hệ đã chiếm địa vị thống trị ở bắc triều, không được
đề cao, thậm chí, về căn bản, hầu như không được biết đến.
Phần khác, những người dân di cư gốc Việt phải hòa đồng
với những người dân sở tại gốc Chàm, gốc Thượng, gốc Miên,
và dân di cư gốc Trung Hoa, và mọi người đều ý thức rằng
một tập họp như vậy không thể có một quá khứ chung, mà chỉ
có thể có một tương lai chung. Do đó, văn hóa của họ là một văn
hóa hướng về tương lai.
Song song với tình trạng trên đây, các
chúa Nguyễn áp dụng một chính sách đối ngoại và ngoại thương
cởi mở. Không những các chúa không áp dụng chính sách "bế
quan tỏa cảng", mà còn khuyến khích giao dịch với ngoại
quốc. Thương mại với Đông Nam Á được mở rộng. Thuyền buôn
của Đàng Trong qua lại buôn bán với Manila, Batavia, Cao Miên, Xiêm.
Thương mại với Tây Phương thực hiện qua trung gian thương nhân
Trung Hoa. Các công ty thương mại của người Hoa ở Quảng Đông và
thuyền của họ cung cấp cho tàu Âu châu các sản phẩm của Việt
Nam và cung cấp cho Việt Nam hàng Trung Hoa và sản phẩm của Âu châu
mà Việt Nam cần. Một điều cần nhấn mạnh ở đây là: Phủ Chúa
không nắm độc quyền, mà hàng hóa được trao đổi tự do và hàng
ngày tại các thị trường địa phương.
Khuyến khích ngoại thương không
những mang lại lợi ích cho chính quyền, mà còn là một nguồn
thịnh vượng chung. Nhờ có giao dịch với ngoại quốc các chúa
Nguyễn có được khí giới, vật liệu - đại bác, súng tay,
thuốc súng, đồng, v.v... - giúp họ chống lại quân Trịnh hữu
hiệu, mà nhờ thâu được thuế nhiều, họ còn giải quyết được
vấn đề tài chính của một chính quyền mới ở trên một mảnh
đất chưa được khai phá. Phần khác, nhờ buôn bán tự do, và
được tham gia, dân thường cũng được hưởng những lợi ích mà
ngoại thương mang lại : có hàng hóa để dùng, có thị trường để
tiêu thụ hàng hóa sản xuất.
Ngoại thương phát đạt, tất kinh
tế cũng phát đạt, và mức sống của dân Đàng Trong cũng rõ ràng
cao hơn Đàng Ngoài. Bà Li Tana ghi nhận : so sánh mức sống tại Đàng
Ngoài với mức sống tại Đàng Trong, thấy sự khác biệt giữa
hai vùng phải là lớn. Bà trích dẫn Lê Quý Đôn, nhận xét rằng
: Đàng Trong đã quen thuộc với những thứ hàng không thuộc loại
thông thường, và dân Đàng Trong phong phú... dân gian cũng mặc áo
đoạn... lấy ảo vải móc làm hổ thẹn, "coi vàng bạc như cát,
thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực".
Tình trạng kể trên chấm dứt với
cuộc nổi loạn Tây Sơn, và sau đó, khi đánh bại được quân Tây
Sơn, lập lại và nới rộng uy quyền họ Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc
Ánh xưng đế trên toàn cõi Việt Nam. Nhưng vì bị vụ nổi loạn
của Tây Sơn, nghĩa là đảo lộn quyền uy, trật tự xã hội, vua
Gia Long và các vua kế tiếp loại bỏ những chủ trương đã mang
lại giàu mạnh cho Đàng Trong mà các chúa trước đã theo đuổi
trong hai thế kỷ, để đi ngược lại, quay mặt về quá khứ - sùng
Khổng, bế quan tỏa cảng - làm suy yếu đất nước, với những
hậu quả tai hại, mà mọi người đều biết.
Nhưng đường lối mà vua Gia Long và các
vua kế tiếp lựa chọn - quay mặt về quá khứ - lại là đường
lối mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đang theo đuổi hiện nay.
Đảng
Cộng Sản Việt Nam hướng về quá khứ
Trong ngôn ngữ thường dân, "cách mạng" có một nghĩa
khá đặc biệt. Các ông Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Nguyễn An Ninh, v.v... thường được liệt vào hàng "cách
mạng". Ở đây, "cách mạng" có nghĩa là gan dạ, làm
chuyện mà ít ai dám làm : đòi độc lập cho Việt Nam, thách thức
chính quyền Pháp.
Nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam hiểu "cách mạng"
theo một nghĩa khác. Theo nghĩa này, "cách mạng" là đổi
đời, bỏ cái cũ theo cái mới. "Cách mạng" đây phù hợp
với quan điểm quay lưng cho quá khứ, hướng mặt về tương lai,
bỏ cái cũ, lấy cái mới. Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tự hào
là một đảng "cách mạng". Cho nên, nói rằng Đảng Cộng
Sản Việt Nam hướng về quá khứ thì cũng khá ly kỳ.
Nhưng trong thực tế, và căn cứ trên
thực tại ở Việt Nam từ 1975 đến nay, mà ai cũng biết, Đảng
Cộng Sản Việt Nam là một đảng luôn luôn quay mặt về quá
khứ. Họ chủ trương "kiên trì" chủ nghĩa Mác-Lê, triệt
để giữ cho Mác-Lê "trong sáng", bám sát Cách Mạng tháng
10. Chủ thuyết Mác, đưa ra năm 1848, nay đã cũ rích rồi, và không
còn phù hợp với những biến chuyển đã xảy ra trên thế giới hơn
150 nay. Thời nay không phải là thời của xe ngựa, hay những
những nhà máy tối tăm, thiếu không khí, của dân chúng bệnh
hoạn không được săn sóc, mất việc chỉ chờ chết đói, v.v...
Chủ thuyết Lê-nin, đưa ra cách đây một thế kỷ, chẳng còn
hiệu nghiệm nữa, vì tư bản đã đổi thay rất nhiều, và lại
được công nhận là tiến bộ hơn chủ nghĩa xã hội, theo nhận xét
của chính những đảng viên kỳ cựu như Nguyễn Khắc Viện và
Nguyễn Kiên Giang. Còn Cách Mạng tháng 10, thì nó đã tiêu ma với
sự tan rã của Liên Bang Xô Viết và sự giải thể của Đảng
Cộng Sản Liên Xô năm 1991. Chủ nghĩa cộng sản ngày nay chỉ là
một đống gạch vụn.
Nhưng cứ mỗi 5 năm, Đảng Cộng
Sản Việt Nam lại họp đại hội, tuyên bố "kiên trì"
với chủ nghĩa Mác-Lê trong sáng (nghĩa là của những năm 1848 và
1905), lấy nó làm kim chỉ nam cho tư tưởng cũng như cho hành động
của Đảng, và theo dặn dò của "Bác", vẫn bám chặt Cách
Mạng tháng 10 (năm 1917), chăm chỉ nghiên cứu học hỏi, bắt chước
kinh nghiệm Bôn-sê-vích, nghĩa là tìm sự thực và một lối đi
cho họ và cho xứ sở trong một đống gạch vụn, thay vì nhìn
tới, hướng về tương lai, sử dụng cái máy tàu, thay vì cái neo.
Với tình trạng trên, như anh Nguyễn
Gia Kiểng soi sáng trong "Tiến tới một văn hóa tổ chức"
(Thông Luận, tháng 5, 2003), những "thay đổi" mà nhiều người
cho là đã xảy ra ở Việt Nam trong thời gian qua không bảo đảm
được đà tiến sẽ giữ được trong một thời gian lâu, vì chính
quyền cộng sản dùng mọi cách để ngăn chận đà tiến của dân
tộc Việt Nam. Dân chúng phải vật lộn với chính quyền cộng
sản để tiến. Trong cuộc vật lộn này, dân chúng Việt Nam tiêu
biểu cho ý chí hướng về tương lai, trong khi Đảng Cộng Sản
Việt Nam tiêu biểu cho ý chí hướng về quá khứ. Thật
là mỉa mai !
Tôi muốn kết thúc bài này với một nhận xét về một tư
tưởng mới, mà anh Nguyễn Gia Kiểng đã đưa ra trong bài vừa
dẫn trên : cần tiến tới một "văn hóa tổ chức". Thật
ra, văn hóa tổ chức này là một phần, trong nhiều phần khác
cần nhận diện và phát huy ra, của văn hóa hướng về tương lai,
nguyên do của sự giàu mạnh phi thường của Hoa Kỳ ngày nay, và cũng
đã được lãnh đạo Xứ Đàng Trong áp dụng với kết quả tương
tự trong hai thế kỷ XVII và XVIII.
Tôi đã viết dài dòng về giai đoạn các chúa Nguyễn, vì nó
nhắc nhở chúng ta rằng trong tư tưởng Việt Nam, trong tâm lý dân
gian Việt, đã có quan niệm : muốn giàu mạnh phải chấp nhận
một văn hóa hướng về tương lai. Nay chỉ cần áp dụng nó thôi.
Mà điều này rất cần thiết vì trong tình trạng hiện tại của
Việt Nam, với dân chúng hai miền Nam, Bắc, phân ly trong 200 năm
thời Trịnh-Nguyễn, lại thêm cuộc chiến "quốc-cộng"
vớiõ lăng mạ, chém giết, thù hận nhau trong nửa thế kỷ nay, không
thể tạo dựng một quốc gia giàu mạnh trên căn bản của một quá
khứ chung, mà chỉ có thể xây dựng một quốc gia giàu mạnh trên
căn bản một tương lai chung.
Những dữ kiện trình bày trên đây cho thấy rõ rằng những
vấn đề lớn hiện nay của xã hội Việt Nam - hòa giải dân
tộc, dân chủ đa nguyên, phát triển, hiện đại hóa - chỉ có
thể giải quyết một cách hữu hiệu trong khung cảnh của những
cố gắng suy nghiệm, tìm tòi, với thiện chí tối đa, áp dụng
một cách tiếp cận mới, khách quan, trong tinh thần xây dựng,
nhằm nhận diện những khuyết điểm của người Việt, đề
nghị những thay đổi cần thiết nhằm tạo ra một văn hóa mới,
để cho xã hội Việt Nam có khả năng đáp ứng được những đòi
hỏi của hiện đại, và không tê liệt trước những biến
chuyển trong tương lai.
Tôn
Thất Thiện
(Ottawa, tháng 5, 2003)
(1) Luận án Tiến sĩ tại Đại Học Australian National University, do Nguyễn Nghi dịch. Nhà Xuất Bản Trẻ, Sài Gòn, 1999. Bán tại Nhà Sách Nguyễn Huệ, 40 Nguyễn Huệ, Quận 1, Sài Gòn. Tít tiếng Anh là : The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyen Vietnam in Seventeenth and Eighteenth Centuries, 1992.