28
năm sau ngày 30-4-1975
Tiến
tới một văn hóa tổ chức
Nguyễn
Gia Kiểng
Một chuyên gia thường có dịp về
Việt Nam nói : "Cứ mỗi sáu tháng tôi về Việt Nam là tôi
thấy một nước khác". Anh này muốn nói là Việt Nam thay đổi
rất nhanh chóng. Anh ta nói câu này cách đây ba năm. Giờ này chắc
anh ấy không còn nói như vậy.
Tuy nhiên Việt Nam quả thực đã thay
đổi rất nhiều từ sau ngày 30-4-1975. Lúc đó đại đa số đồng
bào miền Bắc còn phải ăn đói, ăn độn và chưa biết đi xe đạp.
Ngày nay cuộc sống tại miền Bắc đã cao gấp năm hoặc mười
lần. Miền Nam sau những năm đầu bi đát cũng đã hồi phục và nói
chung đã vượt qua mức sống trước ngày 30-4-1975. Con người cũng
đã tự do hơn, nhận một lượng thông tin vừa lớn hơn vừa trung
thực gấp nhiều lần trước đây, trong nhiều trường hợp đã dám
nói thẳng điều mình nghĩ. Nói chung, xã hội dân sự Việt Nam đã
có sức sống và ngày càng giành được một chỗ đứng lớn hơn.
Những tiến bộ thực sự này đã khiến một số người, như anh
chuyên gia kể trên, nghĩ rằng có thể yên tâm.
Nhưng người ta vẫn có thể rút ra
những kết luận sai từ một quan sát đúng, và đây là một thí
dụ. Một quốc gia dễ tiến lên từ một suy sụp toàn diện cũng
như một cơ thể thường phục hồi nhanh chóng sau một cơn bệnh
nặng, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả đều tốt. Vấn
đề là phải giữ nguyên được đà tiến trong một thời gian
rất lâu dài và phải tiến đúng hướng. Đáng tiếc đó không
phải là trường hợp của Việt Nam. Chúng ta còn là một trong
những nước nghèo nhất thế giới, kém cả một số nước thuộc
Châu Phi Đen. Chúng ta phát triển chậm hơn đa số các nước trong
vùng vốn đã hơn chúng ta rất xa, khoảng cách giữa họ và chúng
ta dài ra chứ không ngắn lại. Hơn nữa, trong khi họ đang thẳng
tiến về tương lai thì chúng ta vẫn còn bị cột chân trong sợi dây
xích độc tài tham nhũng và không thể đi xa.
Những tiến bộ thực sự mà mọi người
đều thấy là thành quả của một cuộc vật lộn hàng ngày giữa
một xã hội Việt Nam đang cố gắng tự giải thoát và một chính
quyền cộng sản dùng mọi cách để ngăn chặn. Việt Nam sẽ còn
tiến nhanh hơn và lành mạnh hơn gấp nhiều lần nếu không có
chế độ cộng sản. Cuộc chiến 30 năm chấm dứt ngày 30-4-1975 đã
là một cuộc chiến vớ vẩn và đã kết thúc một cách phù hợp
với bản chất vớ vẩn của nó. Kẻ thua chắc chắn đã xứng đáng
để thua, nhưng kẻ thắng thì quá rõ ràng không xứng đáng để
thắng.
Đã có những thay đổi rất quan
trọng.
Chúng ta đã thực sự bước sâu vào
giai đoạn hậu cộng sản. Những gì còn lại của chế độ
cộng sản - bóp nghẹt tự do báo chí, đàn áp đối lập, bắt người,
xử án và bỏ tù tùy tiện, v.v. - là những đặc tính chung của
mọi chế độ độc tài bạo ngược. Sự kiện này có một hệ
luận quan trọng là lằn ranh quốc-cộng đã trở thành hoàn toàn vô
nghĩa. Chỉ còn một lằn ranh phân biệt giữa một bên là những
người dân chủ và một bên là những người muốn duy trì chế độ
này để giữ nguyên những đặc quyền đặc lợi. Hai loại người
này hiện diện trong cũng như ngoài đảng cộng sản.
Tham nhũng ngày càng thắng thế.
Chính quyền càng gào thét chống tham nhũng, vận dụng những từ
ngữ rất thắm thiết như "quốc nạn", "giặc nội xâm",
v.v. thì tham nhũng càng bành trướng mạnh hơn, cả theo bề rộng
lẫn chiều cao trong hệ thống chính quyền. Sự kiện này có lô-gích
của nó. Tham nhũng là gì nếu không phải là lợi dụng công
quyền cho lợi ích cá nhân ? Hai cột trụ của nó là nhà nước quá
nhiều quyền hành và sự thiếu vắng tinh thần quốc gia dẫn đến
cách hành xử ích kỷ và vô trách nhiệm. Muốn chống tham nhũng thì
phải chặt hai cột trụ này. Như vậy, một mặt phải giảm
quyền hành của nhà nước (không có quyền thì hà hiếp được ai
?) và xây dựng lại luật pháp minh bạch, giản dị, lương thiện
và được tuyệt đối tôn trọng; mặt khác phải bảo vệ và tôn
vinh những người yêu nước và quan tâm tới quyền lợi và tương
lai của đất nước. Nhưng thực tế là đảng cộng sản nắm
tất cả mọi quyền hành, ban hành một luật pháp mơ hồ muốn
giải thích cách nào cũng được mà chính quyền sẵn sàng dẫm đạp
lên khi cần. Bất cứ ai cũng có thể bị kết tội âm mưu lật đổ
chính quyền, hoặc gián điệp. Những người nói lên quan tâm tới
đất nước bị bách hại. Nhà nước hiện tại là một nhà nước
kềnh càng, toàn quyền, toàn trị và tùy tiện, với một luật pháp
bất lương được sử dụng không phải để bảo vệ mà để
khống chế xã hội ; quan tâm tới đất nước là điều cấm kỵ.
Chế độ này không thể chống tham nhũng vì nó là nguyên nhân
của tham nhũng. Tham nhũng sẽ triệt tiêu mọi cố gắng và giữ đất
nước ở tình trạng thua kém, nhưng tham nhũng sẽ không thể đánh
bại được trong chế độ này mà chỉ có thể bị đánh bại cùng
với một sự thay đổi chế độ.
Thay đổi chế độ không nhất thiết
là phải lật đổ chế độ mà có thể chỉ giản dị là dân
chủ hóa chế độ, do chính những người cầm đầu chế độ phát
động. Nhưng ở đây có một thay đổi lớn đã xảy ra một cách
âm thầm trong nhiều năm qua cần được đặc biệt chú ý, đó
là đảng cộng sản đã mất chính quyền. Mười sáu năm "đổi
mới", từ 1987, đã dần dần tạo ra một lớp người quyền
lực mới, những người mà ngôn ngữ dân gian gọi là những
"tư bản đỏ". Những người này có tiền và họ có thể
mua được tất cả, họ có thể sai khiến các ủy viên trung ương
đảng, các bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng, đại biểu
quốc hội và áp đặt những biểu quyết, quyết định theo ý
họ.
Trong viễn kiến sai của ông, Karl Marx
đã nhận định một điều đúng là mãi lực cũng là quyền lực,
kẻ có tiền là kẻ có quyền. Chính vì thế mà ông đã đòi xóa
bỏ quyền tư hữu. Đó là một quan điểm sai và tai hại như
thực tế đã chứng minh, nhưng nó vẫn nằm trong một lô-gích. Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã thách đố luận lý khi chủ trương kinh
tế thị trường mà vẫn từ chối dân chủ, vũ khí duy nhất để
tiền không tự động đồng nghĩa với quyền. Cuối cùng chính đảng
cộng sản đã là nạn nhân của chọn lựa này. Quyền lực của
họ chủ yếu chỉ còn là một hư cấu, một cái vỏ rỗng. Đảng
cộng sản đã bị lớp tài phiệt lưu manh khống chế. Trước khi
lên làm tổng bí thư, ông Lê Khả Phiêu được một số người đánh
giá là cởi mở, trong sạch, có thiện chí và biết lắng nghe
những tiếng nói đối lập, nhưng rồi ông Lê Khả Phiêu cũng không
quyết định được gì khác hơn là cô lập, cắt điện thoại và
quản chế những người dân chủ ôn hòa, lén lút ký hiệp ước
biên giới nhường đất và biển cho Trung Quốc, tăng cường Tổng
Cục 2, và cuối cùng để cho thân nhân mặc sức vơ vét. Ông Nông
Đức Mạnh được coi là một người hiền lành lương thiện, điều
này có thể đúng, nhưng từ ngày ông lên "cầm quyềân"
đàn áp đã chỉ gia tăng một cách hung bạo và thô bỉ. Ông Lê
Khả Phiêu đã chỉ có rất ít thực quyền, ông Nông Đức Mạnh
hầu như không có gì hết. Từ chỗ không muốn dân chủ hóa,
đảng cộng sản đã đi đến chỗ không thể dân chủ hóa.
Ngày hôm nay chính đảng cộng sản cũng
cần đấu tranh để giành lại quyền hành. Một điều mà
họ còn có thể làm là bãi bỏ những vụ án thô bạo và trả
tự do cho những người dân chủ. Họ mất cái gì ? Quyền hành không
còn là của họ nữa. Nếu họ không làm thì chỉ vì mù quáng mà
thôi. Nếu còn một chút sáng suốt họ phải coi những người dân
chủ như những đồng minh khách quan. Ngược lại những người dân
chủ cũng cần ý thức rằng đối thủ thực sự hiện nay là bọn
tài phiệt lưu manh. Nhận định này đảo lộn những quan hệ cũ :
có những người trước đây chống cộng sản bây giờ có thể
hợp tác với chế độ vì tiền, ngược lại cũng có những người
mà trước đây tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản nay căm thù
chế độ vì nó chỉ là dụng cụ của lớp tài phiệt đỏ. Nếu
chỉ nhắm vào đảng cộng sản, chúng ta có thể chỉ đánh vào cái
bóng. Nông Đức Mạnh có thể bị thay thế, nhưng một tổng bí thư
mới cũng sẽ không làm khác hơn Nông Đức Mạnh. Họ không có
quyền quyết định, họ chỉ chấp hành.
Việt Nam đã thay đổi nhiều lắm.
Tuy nhiên có một điều vẫn không thay đổi sau 28 năm, đó là
vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ có tầm vóc. Sự
kiện này phải chất vấn mọi người Việt Nam, trước hết là
những người đấu tranh cho dân chủ. Những giải thích quen thuộc
từ trước đến nay đều hụt hẫng, ít nhất vô tác dụng.
Bởi vì không có tổ chức chính
trị nào xứng đáng được ủng hộ ? Nhưng tại sao lại không
có ? Bởi vì thiếu những người lãnh đạo xứng đáng ? Càng
sai, lãnh đạo chỉ là sản phẩm của một dân tộc. Một nhà phân
tích chính trị phương Tây cuối thế kỷ 19 đã từng nói một câu
châm biếm để đời: "Trong lúc nước Áo thua trận thì có
nhiều Napoléon vẫn phải đi cày ruộng". Cũng thế, trong lúc
chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua liểng xiểng vì lãnh đạo tồi
dở thì có vô số những người đầy khả năng và thiện chí mòn
mỏi trong các chức vụ trưởng phòng, đại úy. Một dân tộc thông
minh biết nhìn ra những người xứng đáng trong vai trò lãnh đạo.
Không thiếu những người có khả năng lãnh đạo, nhưng chúng ta
không nhận diện được họ vì một lý do văn hóa. Chúng ta coi vai
trò lãnh đạo như một phần thưởng cho những người có công,
thay vì một trách nhiệm khó khăn đòi hỏi những người có khả
năng. Nhưng trong hoàn cảnh bi đát của đất nước hiện nay, ai có
công ? Và chúng ta lẩn quẩn trong bế tắc.
Vì người Việt Nam, thiếu ý chí
bất khuất và ít quan tâm tới đất nước ? Không phải, hay đúng
hơn chưa phải, là lý do chính. Quả thực tinh thần dân tộc và ý
chí bất khuất của người Việt Nam là một huyền thoại tiện
lợi hơn là một thực tế. Những hy sinh dũng cảm của Việt Nam
Quốc Dân Đảng sau năm 1930 đã chỉ được tiếp nối bằng một
trào lưu của nhạc trữ tình, thơ lãng mạn, tranh ấn tượng. Ngay
trong thế chiến 2, một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và
mất nước vẫn có thể tiếp tục cai trị Việt Nam một cách tàn
bạo, dùng chính người Việt để đàn áp người Việt. Họ đã
chỉ bị quân Nhật, chứ không phải người Việt Nam, đánh bại.
Hơn ai hết, Đảng Cộng Sản Việt Nam biết rõ điều này bởi vì
chính họ đã là những nạn nhân. Sở
dĩ Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục cai trị một cách thô
bạo như hiện nay là vì họ biết một bí mật : ý chí bất
khuất và sự quan tâm với đất nước của người Việt Nam không
cao. Tuy nhiên, mặt khác, người Việt Nam đã hồ hởi tham gia Cách
Mạng Tháng 8 và đã rất dũng cảm để chống Pháp, chống Mỹ,
chống Cộng, chống nhau. Dân tộc nào cũng thế thôi. Nếu chúng ta
có kém thì cũng không kém một cách quá đáng đâu. Các dân tộc
chịu ách độc tài khác như Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Triều
Tiên, Cuba, Iraq, Iran, Syria cũng không hơn chúng ta. Vấn đề là
quần chúng cần được thức tỉnh và hướng dẫn. Trách nhiệm chính
vẫn là của thiểu số có khả năng và ý muốn làm nòng cốt
của cuộc vận động dân chủ. Vả lại đấu tranh chính trị có
những giai đoạn của nó, trong đó giai đoạn vận động quần chúng
chỉ đến sau khi đã có một dự án chính trị và một đội ngũ
cán bộ nòng cốt, những điều mà chúng ta chưa có. Và nếu nhìn
vấn đề như vậy thì khuyết tật lớn của chúng ta ở chỗ khác.
Trước hết là chúng ta thiếu một
thái độ dũng cảm trí thức, dám tìm hiểu, suy nghĩ đến nơi
đến chốn, dám nói thẳng, nói thực và nói hết. Đây là một di
sản nặng nề của văn hóa Khổng Mạnh trong đó con người được
đánh giá theo bằng cấp và chức vị thay vì thực học, sĩ phu
chỉ lặp đi lặp lại những điều đã cũ kỹ cả nghìn năm và
một phát biểu bộc trực có thể là một tai họa cho bản thân và
gia đình. Hậu quả cụ thể là chúng ta không có được một thông
điệp minh bạch có khả năng thức tỉnh và động viên quần chúng.
Thí dụ như vấn đề dân chủ. Không phải quần chúng Việt Nam không
muốn dân chủ, trái lại nếu có một cuộc trưng cầu dân ý thì
chắc chắn trên 99% cử tri Việt Nam sẽ tán thành dân chủ hóa đất
nước. Nhưng họ chưa được thuyết phục tới mức có thể dấn
thân và do đó chưa thể vận động được. Người dân cần được
thuyết phục rằng dân chủ là một phương thức sinh hoạt tốt
nhất cho mọi dân tộc trong mọi hoàn cảnh và mọi trình độ ;
rằng có một qui luật là mức độ dân chủ quyết định mức độ
phát triển tối đa mà một quốc gia có thể đạt tới. Nhưng thay
vì một thông điệp minh bạch như vậy chúng ta có quá nhiều
biện luận mông lung, viện dẫn những thí dụ hời hợt mà chính
người nói cũng không hiểu (như một trí thức gần đây sau cuộc
viếng thăm Trung Quốc viết một bài trên một tờ báo có uy tín nói
rằng Trung Quốc đã phát triển nhanh nhờ chính sách độc tài toàn
trị, những phát biểu kiểu này không chứng tỏ một kiến thức
nào mà chỉ là một sự xúc phạm đối với trí tuệ). Trong hoàn
cảnh đó làm sao ngạc nhiên khi dân chúng không hưởng ứng nhiệt
tình cuộc vận động dân chủ ?
Khuyết tật trầm trọng nhất đủ
để giải thích tình trạng hiện nay là chúng ta thiếu một văn hóa
tổ chức. Chúng ta vẫn thường coi tổ chức là những buổi
hội thảo, những cuộc biểu tình, những đêm văn nghệ. Ai làm
được những việc đó được coi là người giỏi tổ chức. Chúng
ta có một quan niệm rất sơ sài về tổ chức và về chính trị.
Hình như chúng ta coi đó là những bộ môn không cần phải học,
ai nói cũng được, ai làm cũng được, đúng hay sai tùy tư chất
thông minh và kinh nghiệm sống của mỗi người chứ không cần
một lý thuyết nào cả. Điều đáng ngạc nhiên là sau hơn một
nửa thế kỷ thất bại hình như chúng ta vẫn chưa tỉnh ngộ. Môn
tâm lý xã hội không phát triển ở nước ta, nó không được tưởng
thưởng, lại cần nhiều từ ngữ đặc biệt ngay trong các ngôn
ngữ phương Tây và chưa có tiếng Việt nên ít người học, dù nó
không khó và rất cần. Do đó văn hóa căn bản của chúng ta vẫn
là một văn hóa lẻ loi, chúng ta không cảm thấy nhu cầu phải
sinh hoạt trong một tổ chức, chúng ta nhìn các tổ chức một cách
khinh khi. Chúng ta không ý thức được khó khăn của việc thành
lập, duy trì và phát triển một tổ chức, nhất là một tổ
chức chính trị, rồi hài lòng với những giải thích dễ dàng và
quen thuộc, nhưng không đúng, về lý do tại sao chúng ta vẫn chưa
có được một tổ chức đối lập dân chủ có tầm vóc.
Văn hóa tổ chức là những kiến
thức về bản chất và cuộc sống của một tổ chức. Nó cũng là
một cách suy nghĩ và ứng xử trong khuôn khổ của một tổ chức,
khiến con người không quên vai trò thành viên có nhiệm vụ bảo
vệ và phát triển tổ chức của mình. Một tổ chức là một
thực thể riêng, có trí khôn và những yêu cầu riêng, khác với
những thành viên của nó. Những vấn đề của một tổ chức khác
với những vấn đề cá nhân và gia đình không phải chỉ ở tầm
vóc mà ở cả bản chất, cho nên những kinh nghiệm cá nhân và gia
đình không áp dụng được cho một tổ chức. Một người rất bình
thường trong cuộc sống cá nhân có thể là một thành viên rất
không bình thường trong một tổ chức, và những con người rất
thông minh có thể tạo ra một tổ chức rất dại khờ. Một đứa
trẻ sinh ra phải mất hai mươi năm thực tập toàn thời gian mới
tạm biết sống cuộc sống cá nhân và gia đình, nhưng mấy ai có
được kinh nghiệm sinh hoạt tổ chức một vài giờ mỗi tuần
trong vài năm ? Vì vậy sinh hoạt tổ chức bao giờ cũng lủng
củng, đầy thiếu sót. Có điều nơi người Việt chúng ta sự
thiếu sót quá trầm trọng. Chúng ta không hiểu rằng gia nhập
một tổ chức chính trị là một việc rất ngoại lệ và tiếp
tục sinh hoạt trong tổ chức lại càng ngọai lệ hơn. Một người
bình thường có tất cả mọi lý do để không gia nhập một tổ
chức nào mà chỉ có rất ít lý do để gia nhập, và một khi đã
ở trong một tổ chức thì có nhiều lý do để bất mãn và ra đi
hơn là hài lòng và ở lại. Cụm từ "xã hội dân sự" mà
chúng ta dùng để chỉ toàn bộ các tổ chức ngoài chính quyền
của người dân trong xã hội là dịch từ những cụm từ civil
society, société civile, societas civilitas. Những cụm từ này cũng
có nghĩa là "xã hội văn minh". Việc kết hợp thành tổ
chức là hành động của những con người rất văn minh, biết vượt
lên trên cá nhân mình mà kết hợp với nhau để đủ sức làm ra
lịch sử thay vì chịu đựng lịch sử, làm tác nhân thay vì tù nhân
của lịch sử. Vấn đề kết hợp chỉ đặt ra giữa những con người
tự do. Họ cũng phải là những con người rất lớn, không thể hài
lòng với khuôn khổ cá nhân hay nhóm nhỏ, chấp nhận mọi hệ
lụy để xây dựng một thế lực lớn. Trong mọi kết hợp này,
kết hợp chính trị là khó nhất và phức tạp nhất ; trên tất
cả mọi loại tổ chức nó đòi hỏi kiên nhẫn, hy sinh và bản lãnh
ở mức độ cao nhất. Một tổ chức, nhất là một tổ chức chính
trị, luôn luôn có vấn đề. Tổ chức càng phát triển vấn đề
càng nhiều và tăng lên không phải một cách tỷ lệ mà một cách
lũy thừa với tầm vóc của tổ chức, những vấn đề thực sự
dĩ nhiên là có nhưng những vấn đề giả tạo lại càng nhiều hơn.
Tổ chức luôn luôn bị đe dọa, khó bảo vệ và phát triển nhưng
dễ bị phá hoại và đả thương do cả những đối thủ từ bên
ngoài lẫn những ngộ nhận ở bên trong. Chính vì thiếu văn hóa
tổ chức mà chúng ta không thấy có nhu cầu tham gia một tổ chức
và nếu có tham gia thì cũng thiếu phản xạ tổ chức, không thể
chịu đựng những hệ lụy của tổ chức, không hiểu sự phức
tạp của tổ chức và cũng không thấy cần phải tìm hiểu thêm.
Chính vì thiếu văn hóa tổ chức mà người Việt Nam chưa có được
một tổ chức đối lập dân chủ có tầm vóc, mà không hiểu
tại sao, cho nên thường đưa ra những giải thích hời hợt và xúc
phạm đối với những người đấu tranh cho dân chủ. Ở mức độ
quốc gia, sự thiếu sót này đã là một thảm kịch cho nhiều dân
tộc. Trên thế giới có những nước rất thiếu tài nguyên mà
vẫn dân chủ và phồn vinh, trong khi những nước khác rất được
thiên nhiên ưu đãi mà vẫn quằn quại trong độc tài, hỗn loạn
và lạc hậu. Vẫn một nguyên nhân : thiếu văn hóa tổ chức, do
đó rời rạc, chia rẽ và bất lực.
Ngày hôm nay, sau 28 năm bế tắc, có
lẽ là lúc chúng ta cần một suy tư dữ dội về lý do thực sự
tại sao của ta vẫn bế tắc. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng đó là
vì chúng ta thiếu văn hóa tổ chức, nhưng cùng một lúc chúng ta cũng
sẽ khám phá ra rằng một vốn liếng vừa phải về văn hóa tổ
chức cũng đủ để giải tỏa phần lớn các khó khăn, bởi vì
phần lớn những trục trặc làm tê liệt hay tan vỡ một tổ
chức cũng là những điều đã được trình bày rõ ràng trong mọi
cuốn sách về tâm lý và sinh hoạt tổ chức, chỉ cần biết tới
chúng là chúng sẽ không xảy ra hay sẽ không tác hại. Có những
điều rất giản dị nhưng nếu không biết thì hậu quả sẽ rất
lớn.
Nguyễn
Gia Kiểng
(Paris, 30-4-2003)