Một
thay đổi văn hóa thiết yếu :
CHẤM
DỨT TÌNH TRẠNG NÔ LỆ KÉO DÀI TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM
Tôn
Thất Thiện
Thế
nào là "nô lệ" ?
Trong những năm qua, cuộc tranh đấu của một phần lớn, và
có thể nói là của hầu hết người Việt, ngoài cũng như trong nước,
nhằm vào những mục tiêu phổ thông, như tự do, dân chủ, nhân
quyền, dân quyền... Cuộc tranh đấu này nặng tính cách chính
trị, và đối tượng của nó là nhóm cầm quyền ở Việt Nam
hiện tại và chế độ cộng sản mà nhóm này chủ trương "kiên
trì". Điều được ít người để ý đến là tranh đấu chính
trị chỉ là một phần, và một phần nhỏ, của một vấn đề khác,
hệ trọng hơn đối với Việt Nam. Đó là vấn đề thay đổi/cải
thiện xã hội để chấm dứt tình trạng nô lệ của dân Việt
vẫn kéo dài cho đến ngày nay. Vấn đề này có hai phần : một
phần liên quan đến chính quyền và chính sách hiện tại, và một
phần liên quan đến tất cả những người Việt và tập quán
của họ.
Phần đầu, tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền, dân
quyền qua sự lật đổ, thay đổi, chính thể cộng sản hiện
tại, hay đòi nó phải cải tổ, biến thể, biến chất... là một
cuộc tranh đấu chính trị. Nó chĩa mũi dùi vào một nhóm người
có thể nhận diện rõ ràng, và có thể bị gán cho những nhãn
hiệu không đẹp. Nhưng dù vấn đề chính sách, thể chế chính
trị giải quyết xong thì vấn đề thứ hai, lớn hơn, vẫn còn
sờ sờ đó.
Phần thứ hai liên quan đến toàn thể xã hội Việt Nam. Nó
đòi hỏi một sự thay đổi rất lớn về tư tưởng, giá trị, tâm
lý, tập quán của tất cả mọi người Việt. Nó là một cuộc
tranh đấu nhằm thay đổi văn hóa, và khía cạnh tế nhị là nó là
một cuộc tranh đấu của mỗi người Việt chống chính bản thân
mình. Trong cuộc tranh đấu nội tâm này, ta khó gán những nhãn
hiệu không đẹp cho toàn thể người Việt. Thêm nữa, làm cho toàn
thể, hay ít nhất là đại đa số, người Việt thay đổi tư tưởng,
giá trị, tâm lý, tập quán lại là một điều cực kỳ khó khăn,
tế nhị. Nhưng nếu vấn đề này không được giải quyết ổn
thoả thì Việt Nam vẫn không tiến lên được.
Cho nên, ta cần phải xét kỹ vấn đề để thấy rõ những
khía cạnh phức tạp của nó, và tìm ra giải đáp thích ứng.
Để bàn luận một cách có hiệu quả, trước hết ta cần
phải định rõ nghĩa của "nô lệ", tìm hiểu bản chất,
và nhứt là đặc trưng của nó, để có thể nhận diện dễ dàng
những xã hội nô lệ, và giải thích tại sao, tuy Đảng Cộng
Sản Việt Nam tuyên bố cách mạng của họ đã thành công và đã
giải phóng dân tộc, xã hội Việt Nam ngày nay vẫn là một xã
hội nô lệ.
Nô lệ là một tình trạng, mà tình trạng đó còn, thì dân
tộc ở trong tình trạng đó vẫn là dân nô lệ. Nô lệ không
phải là một cái gì mới. Lịch sử nhân loại là một lịch sử
của con người giải thoát khỏi được thân phận nô lệ qua
thời gian dài, từ thời thượng cổ. Chúng ta quen thuộc với
những chuyện về nô lệ của những chế độ Hy Lạp, La mã, Trung
Đông, Phi Châu, Mỹ Châu, cho đến giữa thế kỷ 19. Những người
bị mang số phận "nô lệ" không có một quyền gì cả,
kể cả quyền sống. Họ chỉ làm lao động sản xuất, hay nô tỳ
phục dịch cho chủ nhân. Họ hoàn toàn là sở hữu của chủ họ,
có thể bị ngược đãi, đánh đập, ngay cả giết chết, mua, bán,
như một con vật. Đặc trưng của thân phận người nô lệ là
họ không có quyền bàn cãi về chính sự (không được tự do ngôn
luận), không có quyền làm đại diện cho người khác (không được
tự do ứng cử), hoặc lựa chọn người đại diện cho mình (không
được tự do bầu cử). Nói tóm, đặc trưng của người nô lệ là
không đuợc coi như người công dân bình thường, đặc biệt là
không được tham gia chính trị. "Tham gia chính trị" ở đây
phải hiểu theo nghĩa đúng của nó, là : "tham dự vào sự bàn
và lấy những quyết định nhỏ lớn, nhứt là những quyết định
lớn có tính cách chiến lược, về đời sống hiện tại của người
dân, và tương lai của đất nước".
Chính
trị : một đề tài cấm kỵ
Được, hay không được, tham gia chính trị là tiêu chuẩn đặc
trưng cho ta quyết định một người, một dân tộc nào đó, có
ở trong tình trạng nô lệ hay không. Vậy, để xác định người
dân Việt Nam hiện nay còn mang thân phận nô lệ nữa không, cần
nghe những nhân chứùng trực tiếp, những người đã đi Việt
Nam, nhứt là những người gốc Việt, vì người ngoại quốc, không
phải là người Việt và không biết tiếng Việt, nên không nghe,
không hiểu, không đoán được người Việt tại nơi thực sự nói
gì, nghĩ gì, muốn gì.
Những người đi Việt Nam về có thể chia làm bốn nhóm:
- Một nhóm viếng thăm gia đình. Họ chỉ thăm cha mẹ, bà
con họ hàng, săn sóc mồ mả tổ tiên, xong rồi đi, không để ý
gì đến chuyện gì khác. Nhóm này tương đối nhỏ.
- Nhóm thứ hai gồm những người về Việt Nam "làm ăn".
Họ không bị chính quyền gây phiền hà. Trái lại, họ rất được
chính quyền o bế vì, mang tiền về đầu tư, họ tạo cơ hội cho
cán bộ được chia chác. Tất nhiên họ có cách biện minh khá đẹp
cho hành động của họ : sự đầu tư của họ là một hành động
"yêu nước" - đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế
có lợi cho nước. Thực ra, thì họ chỉ "làm" để "ăn"
thôi, chớ không để ý gì đến chính trị, nghĩa là về số
phận của đồng bào và đất nước. Vô tình, hay cố ý, họ
khuyến khích chính quyền cộng sản hiện tại tiếp tục chính sách
nô lệ hóa dân tộc. Nhóm này cũng tương đối nhỏ.
- Nhóm thứ ba là nhóm đi Việt Nam để ăn chơi cho thỏa thích,
vì họ nghe nói rằng, ngày nay, về phương diện này, "Việt
Nam nay thay đổi, tiến bộ nhiều lắm, thứ gì cũng có, mà lại
rẻ tiền hơn ở Âu Mỹ nhiều". Nhóm này cũng như các nhóm trên,
không hề bị nhân viên Nhà nước cộng sản gây phiền hà, vì
họ "không làm chính trị, không theo, không chống ai, hoặc gì,
cả" ; trong "thứ gì cũng có" của họ không ghi các
mục như : thân phận của dân, hoặïc tương lai đất nước. Họ
là người Việt Nam, nhưng trên đất Việt Nam họ "chỉ là khách
du lịch" : đến, nhìn, rồi đi, không cần, và cũng không
muốn biết, những gì xảy ra cho những người Việt Nam sở tại,
trước đó hay sau đó. Họ cũng là những người đương nhiên
khuyến khích chính quyền cộng sản tiếp tục chính sách nô lệ hóa
dân tộc Viêt Nam hiện nay. Nhóm này là nhóm đông nhất.
- Nhóm thứ tư gồm một số rất ít người ưu tư về số
phận của xứ sở, của đồng bào, và tương lai của đất nước.
Vì vậy, họ để ý đến những gì xảy ra quanh họ trong thời
gian họ ở Việt Nam. Họ nhận xét một cách kín đáo, nhưng tỉ
mỉ, và nhờ vậy chúng ta có dữ kiện chính xác để nhận định
người dân Việt hiện nay ở Việt Nam còn ở trong tình trạng nô
lệ hay không.
Về phương diện này chúng ta may mắn có những bài tường
thuật rất chi tiết của những người như ông Hà Ngọc Báu và
Nguyễn Anh Tuấn, là những người đã đi về Việt Nam nhiều lần
trong những năm qua, đã có những nhận xét về tình hình trong nước,
và đã chia sẻ những nhận xét rất sâu sắc của họ với chúng
ta trên mặt báo Thông Luận (1).
Ông Hà Ngọc Báu đã chú ý đến nỗi ưu tư của giới trung
niên và giới trẻ tại Sài Gòn hiện nay, và nhận thấy rằng cả
hai giới đều coi chính trị như là điều cấm kỵ.
Về thành phần trung niên thì "tương lai đất nước hay
chính trị là những điều cấm kỵ, không ai nghĩ tới".
Quyền lợi và danh dự của đất nước "coi như không có và cũng
không cần biết tới".
Về thành phần trẻ tuổi, ý thức chính trị của họ cao
hay thấp, và họ sẵn sàng tham gia chính trị đến đâu, thì ông Hà
Ngọc Báu nhận xét như sau : "Chính trị hình như là một đề
tài cấm kỵ, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, không ai dám
bàn tới. Nếu có hỏi thì đại đa số đều nói không biết hay
không thích". Những thanh thiếu niên đang còn đi học, trong các
trường trung học và đại học công và tư, tất cả đều bị đoàn
ngũ hóa... "Ý thức chính trị của những thanh niên này
rất kém, nếu không muốn nói là không có". Những gì họ
biết về đều do Đảng Đoàn chỉ đạo, "sự giao tiếp và phát
biểu đều bị kiểm soát gắt gao... Một cách cụ thể hơn, 84
% thanh niên trong lứa tuổi này không quan tâm đến chính
trị..."
Sự thật đáng buồn,
ông Hà Ngọc Báu nói, là "đại đa số thanh niên Việt Nam ở
Sài Gòn không biết gì hết. Họ cũng chẳng nghe đài, chẳng đọc
báo nước ngoài...". Nếu tình trạng thanh niên Sài Gòn như
thế, thì ta có thể nghĩ rằng tình trạng thanh niên ở ngoài Sài
Gòn lại còn tệ hơn nữa.
Ông Nguyễn Anh Tuấn thì nhận xét như sau về tuổi trẻ
Việt Nam : "trong hoàn cảnh hiện nay, mỗi người cứ loay
hoay tìm một lối thoát riêng cho chính mình, không cần biết gì khác".
Những tin tức về những bạn can đảm, dám dấn thân tranh đấu
cho tự do dân chủ "gần như không được biết đến",
vì hệ thống thông tin bưng bít của nhà nước, và vì sự sợ hãi
mà gia đình và chế độ cố gây ra. "Không ai muốn con cháu mình
tham gia vào chính trị, vì sinh hoạt chính trị tại Việt Nam,
nếu không ở trong guồng máy Đảng, thì chỉ có đi ở tù".
Ngoài hai ông Hà Ngọc Báu và Nguyễn Tuấn Anh, còn có ông Vương
Sử, cũng có đi Việt Nam, và xác nhậïn rằng trong khi đa số người
Việt ở ngoại quốc rất quan tâm đến đất nước, thì đa số
người ở trong nước "lại bàng quan với chính sự". Lý
do của "nghịch lý" này là Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
đẩy mọi người vào cái thế ai cũng phải lo kiếm tiền nuôi gia
đình và để trang trải các khoản "lệ phí" do tham nhũng
gây ra, và "chính đảng cộng sản đã tạo ra nếp sống
buộc mọi người phải vào trong cái guồng máy đó... không còn
nghĩ gì đến cái chung nữa" (2).
Ta có thể tóm tắt tình trạng trên đây bằng một câu : người
Việt Nam không làm chính trị được, vì họ không được làm
chính trị. Mà không được làm chính trị là đặc trưng của người
nô lệ. Cho nên, tuy rằng họ đã tranh đấu gánh chịu những hy
sinh rất nặng trong một thời gian rất dài, để được giải phóng,
và tuy rằng chế độ phong kiến quan lại Việt Nam và chế độ
thực dân Pháp kết thúc đã hơn 50 năm rồi, tình trạng của họ
ngày nay vẫn không thay đổi : nó vẫn là một tình trạng nô lệ.
Phần khác, không những tình trạng này kéo dài, mà nó lại còn
tồi tệ hơn trước nữa, vì chính quyền hiện nay có nhiều công
an, cảnh sát hơn trước, sử dụng những phương pháp và dụng
cụ đàn áp tinh vi, và nhất là đàn áp triệt để, hơn trước
nhiều,
Tại
sao tình trạng nô lệ kéo dài ?
Câu hỏi tự nhiên cần đặt ra ở đây là : làm sao có tình
trạng lạ lùng như vậy ?
Để trả lời tường tận câu hỏi này, vấn đề phải được
xét dưới hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất liên quan đến
những người cai trị (nhân vật, tư tưởng, tổ chức, chính sách...),
nghĩa là khía cạnh thể chế. Khía cạnh thứ hai liên quan đến
những người bị trị (dân chúng, triết lý về cuộc sống, ưu tiên
giá trị, tập quán...), nghĩa là khía cạnh tâm lý. Nếu hai khía
cạnh này gom lại với nhau thì học giả chính trị sẽ xếp vấn
đề vào loại thể chế chính trị, và gọi Việt Nam là một
"quốc gia không dân chủ" (hay
"chuyên chế"), trong khi các nhà học giả xã hội và nhân
chủng sẽ xếp vấn đề vào loại văn hóa , và gọi Việt Nam là
một "văn hóa nô lệ".
Vì khía cạnh "không dân chủ"/"chuyên chế"
đã được bàn đến nhiều, và giới hạn hơn khía cạnh "nô
lệ"/"tâm lý", về phương diện địa bàn cũng như
về phương diện thời gian, nên bài này sẽ cứu xét vấn đề
từ góc độ của xã hội học. Từ góc độ này có thể thấy
rộng hơn, xa hơn, và nhứt là xác thực hơn là từ góc độ chính
trị. Thêm nữa, tính cách xác thực của những luận đề được
đưa ra sẽ được bảo đảm.
Phân tách vấn đề từ góc độ xã hội học phải dựa trên
những nhận xét của nhân chứng trực tiếp. Về những gì liên
hệ đến chế độ cộng sản Việt Nam hiện tại, tất nhiên
những luận đề mà ta đưa ra phải căn cứ trên những nhận xét
xuất phát từ những người đang, hay đã, ở trong hàng ngũ cộng
sản. Về điểm này, chúng ta rất may có những nhận xét rất sâu
sắc, của hai người đã suy tư nhiều về vấn đề đang bàn. Đó
là bàø Dương Thu Hương và ông Nguyễn Thế Việt.
Dương Thu Hương là một tên quen thuộc với tất cả người
Việt trong và ngoài nước. Bà đã viết và tuyên bố nhiều điều
lên án chế độ cộng sản hiện tại. Bà giúp ta hiểu rõ bản
chất của cộng sản Việt Nam hơn nhờ bà "nằm trong chăn nên
mới biết chăn có rận", như bà đã nói trong một cuộc
phỏng vấn với ký giả Đinh Quang Anh Thái, của Đài Little Saigon
Radio ngày 30-4-2001. Bài này chứa nhiều nhận xét rất căn bản và
sâu sắc về vấn đề tại sao dân Việt Nam vẫn nô lệ dài dài.
Nó chiếu sáng vấn đề, làm nổi bật những khía cạnh tế nhị
thường ít được để ý (3). Trong năm 2002 bà cũng có được ký
giả Đinh Quang Anh Thái phỏng vấn một lần nữa, và bà cũng có
đề cập đến vấn đề nô lệ, nhưng ít chi tiết hơn (4).
Nguyễn Thế Việt là một người ít được biết hơn, có
lẽ vì trong một thời gian dài, ông ta không xuất hiện dưới tên
thật, mà chỉ dùng bút hiệu Nguyễn Hữu Lê. Ông là một tiến sĩ
Ngữ Văn, hiện cư trú ở Đức. Ông ta đã phân tách chế độ
cộng sản Việt Nam một cách rất tỉ mỉ, và những nhận xét
của ông ta hết sức sắc sảo và chính xác. Cũng như bà Dương
Thu Hương, ông chú ý đặc biệt đến vấn đề nô lệ, và nhờ cũng
nằm trong chăn nên ông biết chăn có rậïn thế nào. Ông đã soi
chiếu rất nhiều ánh sáng vào vấn đề này trong một bài phân tích
bản chất chế độ cộng sản, "Những người cộng sản đã
tự mình thủ tiêu mình như thế nào ?", đăng trong Việt Luận
(5).
Là người từ ngoài cửa sổ nhìn vào, nhờ có bà Dương Thu
Hương và ông Nguyễn Thế Việt, là người ở trong, bật đèn nên
tôi thấy được rõ ràng hơn những khía cạnh tế nhị, nhưng
rất quan trọng, của vấn đề. Và những luận đề của tôi sẽ
dựa rất nhiều trên những nhận xét của hai tác giả này.
Như đã nói ở trên, vấn đề tình trạng nô lệ của dân
Việt kéo dài có hai khía cạnh : khía cạnh thể chế cộng sản, và
khía cạnh tâm lý của người dân.
Thể
chế cộng sản : chuyên chế, tàn bạo
Về thể chế tưởng không cần nói nhiều. Nó có thể tóm
tắt như sau, như ông Hà Ngọc Báu nhận xét : "Vấn đề là Đảng
Cộng Sản Việt Nam vẫn coi đất nước này là của riêng họ,
không ai được quyền chia sẻ. Chính vì thế mà không ai quan tâm
với đất nước. Mà có quan tâm cũng không làm gì được vì chính
quyền cộng sản không cần và không muốn. Họ chỉ muốn mọi người
Việt Nam đừng quan tâm tới họ và tới đất nước để họ
muốn làm gì thì làm, nhằm duy trì vô hạn định vai trò lãnh đạo
đất nước".
Vấn đề có vẻ chỉ giản dị như thế. Nhưng nó buộc ta
phải đặt câu hỏi : làm sao mà Đảng Cộng Sản chiếm được cái
thế "muốn làm gì thì làm" như vậy ? Ở đây, ông
Nguyễn Thế Việt, với tư cách một người xuất thân từ chế độ
cộng sản, đã giải thích một cách rất rõ ràng.
Theo ông Việt, đối với người cộng sản đã nhập tâm
chủ thuyết Mác-Lê, mô hình lê-ni-nít bôn-sê-vích mà Hồ Chí Minh
đã truyền cho đàn em, quan niệm thế giới đơn giản chỉ có hai
cực ("bạn/thù", "địch/ta") và trong cuộc đấu
tranh giai cấp một mất một còn, "ta" phải diệt "địch"
không nương tay để thiết lập một nền chuyên chế vô sản.
Những kẻ nắêm quyền lực trong nền chuyên chế này là những
"người cộng sản cơ chế", nhóm chóp bu của Đảng Cộng
Sản Việt Nam. Là những người thuộc loại "đểu cáng" và
"sở trường dùng thủ đoạn", sẵn sàng "dọa nạt,
áp chế, kể cả bạo lực" mà "mức độ tàn bạo và bỉ
ổi... khó mà lường được", họ tiêu diệt hết địch thủ,
và thiết lập một thể chế độc tài. "Địch" đây không
chỉ là những kẻ ngoài Đảng chống đối chủ nghĩa cộng sản,
mà ngay cả những người trong Đảng thuộc về loại "cộng
sản lý tưởng" bị coi là đối thủ cạnh tranh. Với chế độ
độc tài, và nhân danh chính thống, đám "cộng sản cơ
chế" này chỉ lo "củng cố và củng cố hơn nữa...,
bằng mọi giá" nền chuyên chế mà họ gọi là vô sản, bóp
nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, thủ tiêu trắng trợn những
quyền của con người.
Trong tình trạng trên, "muốn tiến thân thì phải biết
thỏa hiệp và đồng loã với người cơ chế... cái vòng luẩn
quẩn dưới nịnh trên, trên nẹt dưới, tạo thành một màng lưới
thỏa hiệp đồng lõa từ trung ương đến địa phương, đâu đâu
con người cơ chế cũng thắng thế và con người lý tưởng đành
vái thua để tìm chỗ yên thân". Con người cộng sản lý tưởng,
vì không biết thủ đoạn, phải "nhường vị trí thống soái
cho con người cơ chế" và nếu còn chút lương tâm, thì anh ta
cũng dập tắt nó đi bằng lời nói thực dụng : "Đấu tranh
thì phải biết tránh đâu".
Nếu có biết chuyện mờ ám của bề trên họ chỉ
"tắc lưỡi cho qua", nếu không nói là "phụ họa theo
để mong được tước lộc".
Cho nên, chế độ độc tài là môi trường lý tưởng của
con người cơ chế. "Nó nghênh ngang thách thức lương tri con người
nhưng không ai dám lên tiếng vì nó dựa vào sức mạnh của cơ
chế". Qua thời gian, những hành vi nói trên trở thành thói
quen, và một tâm lý nô lệ được nuôi dưỡng. Trong một bài phân
tích khác, Ông Nguyễõn Thế Việt viết : "Tâm lý nô lệ đã
định hình trong mọi người, trở thành một tâm lý cộng đồng,
một tín ngưỡng, không dễ gì một sớm một chiều mà phá vỡ
được" (6).
Về điểm này, nhận xét của ông Nguyễn Thế Việt rất
giống những nhận xét của bà Duơng Thu Hương, một người cũng
nằm trong chăn cộng sản nên biết nó có rận thế nào. Ở Việt
Nam, nói về quốc sự, chính trị, tất nhiên là nói đến những
hoạt động của đảng cộng sản. Nhưng, như nhiều người, bà
"thờ ơ" vì nó "rất nhàm chán". Xã hội chủ nghĩa
"chỉ là những câu nói đầu lưỡi", những "trò lừa
bịp của danh từ". Tất cả những lời lẽ của giới lãnh đạo
là "dối trá". Nhưng tại sao trò lừa bịp này còn tồn
tại ?
Tâm
lý dân : sợ bạo lực
Theo bà Dương Thu Hương, trò lừa bịp nói trên tồn tại
được vì nó dựa trên hai vế. Vế thứ nhất là kẻ cầm quyền
thì dùng sức mạnh và bạo lực đàn áp dân chúng ; vế thứ hai là
dân chúng hèn nhát vì sợ bạo lực và tinh thần nô lệ đã tâm
nhiễm quá lâu rồi. Đó là bức tranh chung của Việt Nam về vấn
đề nô lệ. Đi vào chi tiết, thì thế nào ?
Về vế đầu, giới lãnh đạo, tuy biết là những gì họ nói
chỉ là "chuyện đầu lưỡi" nhưng họ vẫn làm là vì
"họ dựa vào sự hèn nhát của dân chúng", dân chúng sợ
hãi họ vì bản thân của chế độ này là "chế độ dựa trên
nòng súng" theo đúng nguyên tắc của Lênin. Người dân "vì
sợ hãi mà phải hèn nhát cúi đầu" dù họ biết rằng những
điều họ nghe là những điều giả dối. Vì sợ hãi nên "họ
đành nuốt nước bọt". Ở đây, tưởng nên nhắc rằng trong
những tác phẩm quen thuộc, Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, và
Viết cho Mẹ và Quốc hội của Nguyễn Văn Trấn, cũng có nói
nhiều đến khía cạnh sợ hãi của mọi người trong chế độ
cộng sản, từ những đảng viên thường cho đến những cán bộ
cao cấp, và ngay cả các viên chức cao cấp nhứt của Đảng, như
chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.
Về vế thứ hai, sự cam phận, hèn nhát vì sợ bạo lực, và
bị tẩm nhiễm tinh thần nô lệ quá lâu rồi, bà Dưong Thu Hương
đề cập đến những khía cạnh có tính chất căn bản hơn, và
cần được suy ngẫm nhiều hơn. Những nhận xét của bà có lẽ
ít người đã nghĩ tới, hay sẵn sàng chấp nhận.
Ở đây, rõ ràng là có một nghịch lý. Như ông Đinh Quang
Anh Thái, người phỏng vấn, nêu ra : tại sao một dân tộc dũng
cảm biết bao trong chiến tranh mà lại tỏ ra hèn mọn như thế
trong hòa bình ? Bà Dương Thu Hương cho đây là một vấn đề tâm
lý. Nói chung con người "thường an phận" và có lẽ
"bản chất con người bao giờ cũng nương theo phe mạnh... cũng
tìm những lý do để bào chữa cho mình để được sống còn...
con người là yếu hèn, gió chiều nào che chiều ấy". Tâm lý
này là kết hợp của bốn yếu tố.
Một là nhu cầu tồn tại. Lòng can đảm của con người có
hạn. Con người là một thực thể rất dễ dao động, vì thế khi
đã ra khỏi lò lửa chiến tranh thì rất dễ nẩy sinh ra "tâm
lý dầu sao thì sống vẫn hơn chết". Cho nên tất cả người
Việt, "dũng cảm bao nhiêu trong chiến tranh thì hèn nhát bấy
nhiêu khi hòa bình". Vì họ đã khổ đau rồi nên "thà họ
cam chịu sự thống trị của một chính quyền hà khắc để còn
được tồn tại, còn ăn được miếng cơm với nước mắm hơn là
chết".
Hai là chiến tranh. Chiến tranh liên miên đã tạo ra hai loại
tâm lý con người : tâm lý của lớp tướng và tâm lý của lớp
quân sĩ. Chiến tranh dạy cho con người ta tâm lý tuân lệnh.
"Thái độ tuân lệnh đào tạo ra phẩm chất nô lệ". Cho
nên "sau khi hòa bình, lập tức người lính rất ngoan cường
trong chiến tranh đã trở thành những công dân hèn nhát".
Ba là thói quen. Thói quen "tuân lệnh, tuân lệnh, và tuân
lệnh" đã tẩm nhiễm vào tâm hồn người Việt rồi, nên họ
chỉ trở thành "người lính trong thời bình", nghĩa là
"những kẻ hèn, chỉ biết cúi đầu tuân lệnh mà thôi".
Và họ lại ra lệnh cho con cái họ, hoặc những kẻ yếu thế hơn
họ. Đây là "tâm lý song trùng" : hoăïc là làm xếp,
hoặc là làm đầy tớ.
Cuối cùng, người Việt Nam "vẫn chưa ý thức được
quyền sống, chưa ý thức được về nhân phẩm". Họ "chưa
có khái niệm về quyền công dân chưa có ý thức để làm một người
công dân, như công dân các nước tự do". Những người không
có ý thức về quyền công dân phần đông là dân cày, nghĩa là
90% dân tộc Việt Nam.
Làm
sao thoát khỏi vòng luẩn quẩn ?
Ông Nguyễân Thế Việt và bà Dương Thu Hương có vẻ quá
yếm thế. Nếu chỉ căn cứ trên những gì đã nêu trên đây về
tình trạng xã hội Việt Nam thì ta sẽ cho rằng dân Việt Nam đang
ở trong một tình trạng tuyệt vọng, không làm sao thoát khỏi vòng
luẩn quẩn nói trên, và phải vĩnh viễn mang thân phận nô lệ. Nhưng,
thực ra, họ không đến nỗi thả buông như vậy.
Ở đây, tưởng cần nhắc lại là vấn đề nô lệ có hai
khía cạnh: một khía cạnh chính trị, liên quan đến thể chế , và
một khía cạnh văn hóa, liên quan đến tâm lý.
Vấn đề chính trị là vấn đề thay đổi thể chế. Bà Dương
Thu Hương cho rằng dù ai nắm quyền đi nữa thì "cơ chế này
vẫn phải thay đổi". Không có một cá nhân nào có thể tử
tế được. Vấn đề là "phải có cơ chế để buộc con người
phải tử tế". Việt Nam muốn tiến bộ thì "phải xóa
bỏ chế độ độc đảng và người dân phải có quyền bầu cử
thực sự". Trước sau "phải có một chế độ cho dân được
quyền bầu lên những người đại biểu của mình". Bầu cử
thực sự là được sử dụng quyền công dân, là tham chính. Và như
vậy là ra khỏi tình trạng nô lệ. Nhưng, trong tình trạng độc tài,
khủng bố, người cộng sản cơ chế dùng bạo lực và thủ đoạn
triệt để tiêu diệt mọi đối kháng, mọi cạnh tranh, làm sao
thay đổi thể chế ? Về điểm này, ông Nguyễn Thế Việt đã cho
ta thấy chiều hướng của những biến chuyển trong nội bộ Đảng
Cộng Sản Việt Nam đẩy đến một tình trạng đưa đến sự
"phi chính thống hóa" và, lâm thời, chấm dứt cơ chế
cộng sản hiện tại.
Tôi đã có dịp trình bày vấn đề trên đây trong bài
"Một cuộc đấu tranh mới", trong Thông Luận nhân dịp
bàn về tướng Trần Độ (7). Ở đây chỉ xin nhắc lại một đoạn
tóm tắt đề luận chính: "ngày nay tướng Trần Độ được
coi như là biểu tượng và một tấm gương cho những người
tranh đấu cho dân chủ khắp nơi, và trong mọi giới người Việt,
trong cũng như ngoài Đảng. Chuyển biến này mở đường cho sự thành
hình của một mặt trận dân chủ rộng rãi gồm tất cả các «người
dân chủ», xuất phát từ hàng ngũ cộng sản hay chống cộng,
trong nước và ngoài nước. Sự thành hình này là điều kiện
thiết yếu cho sự dẹp bỏ chế độ cộng sản độc tài và thay
thế nó bằng một chế độ dân chủ thực sự. Đây cũng là một
chuyển biến mới, đầy triển vọng cho tương lai...".
Về phương diện tâm lý/văn hóa, vấn đề phức tạp hơn. Bà
Dương Thu Hương nhận xét rằng một dân tộc mà mang cái tâm lý
"song trùng" - hoặïc là làm xếp, hoặc là làm đầy tớ -
"thì rất khó mà trở thành một dân tộc có tự do-dân
chủ", bởi vì muốn có tự do/dân chủ thì "xã hội phải
hình thành được những người công dân tự do, biết quyền của
mình, biết mình được hưởng những gì và như thế họ phải có
ý thức về quyền công dân đã". Lúc đó họ mới "khao khát
làm công dân". Bà thú nhận rằng bà "không dám lạc quan
lắm", vì 90% dân Việt Nam là nông dân, và "không thể đòi
hỏi những người nông dân một sớm một chiều có ý thức về
quyền công dân được". Mọi việc đều phải cần thời gian.
Còn về dân chủ thì "cần có tri thức về xã hội, về
quyền sống của con người và tri thức về quyền công dân".
Cho nên chúng ta phải tập chờ đợi. Nhưng bà Dương Thu Hương cũng
tỏ ra "không đến nỗi tuyệt vọng", vì bây giờ, với phương
tiện của văn minh tràn ngập Việt Nam, "dù muốn hay không
muốn thì cộng sản cũng không giữ được cái chế độ ngu dân
tuyệt đối như trước nữa". Qua tivi, radio, người dân
"không đến nỗi bị người ta chọc mù mắt, bịt tai như ngày
xưa", họ cũng tỉnh ra, nhưng phải có thời gian, "không đốt
cháy giai đoạn được".
Loại
bỏ điều kiện tạo ra tâm lý nô lệ
Phải
cần thời gian. Những nhận xét của bà Dương Thu Hương và ông
Nguyễn Thế Việt, những người trong nước, trong cuộc, và đã
suy ngẫm nhiều về vấn đề, cho ta thấy rõ ràng như vậy. Và
những phân tách của họ gợi ý cho ta thấy rõ rằng trong thời
gian này, muốn sớm chấm dứt tình trạng nô lệ hiện tại của dân
Việt Nam, cần đẩy mạnh những hoạt động nhằm loại bỏ
những điều kiện tạo ra tâm lý chấp nhận nô lệ trong người dân
Việt. Những điều kiện này thuộc ba lãnh vực : giáo dục, hoà bình,
phát triển kinh tế.
Về giáo dục, điều căn bản là làm
cho người dân thường, đặc biệt là trong giới nông dân, có tri
thức về những quyền căn bản của một người công dân. Các
tổ chức, đoàn thể chính trị, phải có những chương trình, kế
hoạch, chiến dịch và tổ chức để đi đến tận người dân, vào
giữa người dân, để giải thích một cách cụ thể thế nào là
thân phận của một người công dân so với thân phận một người
nô lệ, thay vì chỉ ra tuyên ngôn, tuyên cáo từ hàng nghìn cây
số ở ngoại quốc đòi lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam
phải giải thể, sửa đổi Hiến pháp, thay đổi chính sách, v.v.,
hoặc kêu gọi nhân dân Việt Nam"nổi dậy" lật đổ chính
quyền cộng sản... Một việc rất cụ thể cần làm, và có thể
làm được dễ dàng, là lập một nhóm biên tập để soạn thảo
một quyển sách nhỏ loại bỏ túi như quyển sách dạy giáo lý
(catéchisme) mà các tôn giáo thường phát cho con chiên, trong đó dùng
văn giản dị, giải thích rõ ràng cho người dân hiểu thế nào là
một người công dân bình thường - người này có những quyền gì.
Các đoàn thể tự nhận tranh đấu cho dân chủ phải làm sao cho
quyển sách nhỏ này đến tay mọi người Việt Nam ở trong Việt
Nam, nhứt là trong giới lao động và nông dân.
Về hòa bình, có hai khía cạnh : đối
ngoại và đối nội. Nói chung, người Việt Nam phải từ bỏ lối
suy tư ("địch/ta")
về ngoại giao cũng như trong sự cư xử với nhau. Về ngoại giao
phải làm đủ mọi cách để tránh chiến tranh, hay tránh xung khắc
với các nước khác, để nguời dân khỏi bị ép vào thế
"song trùng" về kỷ luật (ra lệnh, tuân lệnh) trong tình
trạng phải luôn luôn sẵn sàng ứng chiến. Đối nội, phải
thực hiện hòa giải giữa mọi thành phần dân tộc, xóa bỏ não
trạng "đấu tranh" với "kẻ thù giai cấp" và
"những lực lượng chống đối", "chống cộng đến cùng",
để tránh sự đòi hỏi kỷ luật dẫn đến sự hạn chế những
quyền của công dân, và sự duy trì chế độ độc tài.
Điều thứ ba, phát triển kinh tế, có
lẽ là điều căn bản nhất. Tăng gia sản xuất hàng hóa và dịch
vụ, để nâng cao mức sống của người dân, đưa họ ra khỏi
cảnh nghèo đói, để họ khỏi bị nhu cầu tồn tại của bản thân
và của gia đình buộc phải cúi đầu, ngặm miệng, chấp nhận thân
phận nô lệ. Lịch sử các quốc gia Tây phương cho thấy là đây
là một tiến trình dài, nhưng lịch sử các quốc gia Á Đông cho
thấy rằng quá trình này có thể rút ngắn một cách ngoạn mục,
như trường hợp Nhựt Bổn thời Minh Trị ở thế kỷ 19, và gần
đây hơn của các quốc gia như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Mã Lai,
trong những thập niên sau 1970. Có một mức sống cao hơn, không còn
bị đói rách quá độ làm cho mất hết nhân phẩm, người dân
sẽ có điều kiện hơn để kềm chế sự hèn nhát, chống lại
những lấn áp quyền công dân của mình.
Tuy rằng những hoạt động trên đây
đều có tác động nhiều ít về việc chấm dứt tình trạng nô
lệ của dân Việt Nam, nhưng, xét một cách thực tế, nó cũng
chỉ có hiệu nghiệm giới hạn. Như ông Vương Sử nói, đất nước
Việt Nam đã bị đẩy theo "cái quái thai" lý thuyết xã
hội chủ nghĩa và thấy kết quả thảm bại của nó, "vậy mà
còn nhiều người vẫn còn muốn tiếp tục hoặc còn luyến tiếc
giữ lấy nó một cách tuyệt vọng". Ông cho đó quả thực là
"một điều phi lý khó tưởng tượng, không có sự phi lý nào
hơn thế nữa". Nhưng ông cũng công nhận rằng cuộc đấu
tranh vì dân chủ ở trong nước chưa có những đều kiện thuận
lợi "bởi vì nó chưa phải là mối quan tâm của đông đảo
quần chúng". Đó là sự thực phũ phàng hiện nay.
Rốt cục, chỉ có những người trong
nước, những người trong cuộc, tự trong hàng ngũ - nằm trong chăn
- cộng sản, đặc biệt là những giới trẻ, mới chấm dứt được
thân phận nô lệ của dân Việt. Ông Vương Sử cũng công nhận
rằng "tương lai của đất nước nằm trong tầm tay của
những người trong nước". Chỉ có họ mới có lý do thực
sự - tương lai của họ, khả năng, cơ hội, và thời gian để
phá vở "điều phi lý" mà ông cho rằng "khó tưởng tượng".
Một trong những "quy luật" phát
triển xã hội của Marx đưa ra, mà những người Mác-xít thường
nhắc đến để lập luậïn rằng xã hội chủ nghĩa nhất định
sẽ thắng, mà ta cũng sẵn sàng chấp nhận, nhưng với một kết
luận ngược lại về tương lai của chủ nghĩa xã hội, là : mỗi
chế độ xã hội mang trong bản thân nó hạt nhân của chế độ
sẽ tiêu diệt nó ; hạt nhân này sẽ lớn dần, và tới một lúc
nào đó, nó sẽ thành xã hội mới thay xã hội cũ.
Ông Vương Sử đã đề cập đến
"những hạt giống quý", những chiến sĩ trẻ hiện nay ở
trong nước, như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình,
Nguyễn Khắc Toàn... đang đấu tranh cho lợi ích chung cho dân tộc.
Đặc trưng của nhóm tranh đấu trẻ này là họ là đám tiên phong
của thế hệ mới, xuất thân từ ngay trong lòng chế độ hiện
tại. Họ là những hạt giống của chế độ không còn nô lệ
nữa sẽ thay thế chế độ cộng sản chuyên chế và tàn bạo
hiện nay. Dù rằng đám chóp bu Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện
nắm cơ chế Đảng đang dùng những biện pháp bạo lực tàn bạo
tối đa để bóp diệt phong trào đòi quyền công dân đang phát động
trong giới trẻ, nhưng ta có thể tin rằng rốt cục họ cũng không
thể ngăn cản những hạt nhân này nảy nở và lớn lên đến
tầm sức lật đổ chế độ phi dân chủ, phi dân tộc hiện tại,
mở đường cho một xã hội Việt Nam mới, trong đó sẽ không còn
vết nô lệ nữa.
Tôn
Thất Thiện
Ottawa, Tháng 3, 2003
Chú
thích :
(1). Ông Hà Ngọc Báu là một thương gia cư ngụ ở Bỉ, đã
đi về Việt Nam thường xuyên từ 1995, và ông đã ghi lại những
nhận xét của ông trong hai bài rất chi tiết đăng trong Thông
Luận : "Ưu tư và cuộc sống của tuổi trẻ Sài Gòn hiện
nay", Thông Luận, tháng 6-2002, và "Đời sống và nỗi
ưu tư của giới trung niên tại Sài Gòn hiện nay", Thông
Luận, tháng 7 & 8-2002. Ông Nguyễn Anh Tuấn, cư
trú ở Anh, đã đi về Việt Nam nhiều lần trong 10 năm
qua, và ông đã đúc kết về tình hình Việt Nam trong bài "Tình
hình đất nước", Thông Luận, tháng 10-2002.
(2). Vương Sử, "Chỉ có cộng sản mới được làm chính
trị?", Thông Luận, tháng 11-2002.
(3).. Bài này đã được đăng lại trên báo Ngày Nay, ngày
1-5-2000.
(4). Bài này được báo
Ngày Nay đăng lại, ngày 15-8-2002.
(5). Việt Luận, Sydney (Úc),
15-3-2000.
(6). "Sự kết thúc lịch sử vai trò chính thống của
một ý thức hệ". Bài
chỉ được đọc qua Internet.
(7). Thông
Luận, tháng 11-2002.