Tìm
hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam
Bài
4 : Thời vàng
son
Nguyễn
Văn Huy
Sau thời kỳ dựng nước và mở nước khó khăn, từ thế
kỷ thứ 4 vương quốc Lâm Ấp đã trở thành một thế lực chính
trị đáng kể trong vùng, dưới thời Bradravarman I (Phạm Hồ Đạt),
người sáng lập triều đại Gangaraja phía Bắc. Là một kết hợp
của nhiều tiểu vương quốc khác nhau, lãnh thổ phía Bắc giáp
ranh với quận Cửu Chân, lãnh thổ phía Nam trải dài đến mũi Kê
Gà (Varella, Phan Thiết). Hào quang của Lâm Ấp chiếu sáng vùng
trời Đông Nam Á, các quốc gia láng giềng đều tìm đến để làm
thân.
Cho đến nay không ai biết hai miền Nam Bắc đã thống nhất
như thế nào, nhưng từ thế kỷ 5 trở về sau thông thương giữa
hai miền trở nên liên tục và ồ ạt, lượng người và hàng hóa
di chuyển từ miền Nam lên miền Bắc thay đổi dần dần cán cân
quyền lực. Người Chăm phía Bắc, vì phải thường xuyên đối phó
với quân thù, trở nên thiện chiến ; khi mộ quân hay trên đường
chạy nạn, vì bị quân Trung Hoa truy đuổi, họ khuất phục luôn
những tiểu vương quốc khác đã có mặt dọc bờ biển miền
Trung từ lâu đời, quen sống trong hòa bình và an lạc. Với thời
gian, vương quyền miền Bắc suy yếu dần, vì dồn hết tài nguyên
nhân vật lực cho chiến tranh, vai trò lãnh đạo nhường lại cho các
vương triều phía Nam giàu có và hùng mạnh hơn.
Triều
vương thứ năm (758-854) : vương triều Panduranga hay Hoàn Vương
Quốc
Năm 757, môt tiểu vương phía Nam nổi lên hạ bệ Bhadravarman
II - nhà vua trẻ vừa lên ngôi - rồi tự xưng vương, hiệu Prithi
Indravarman, chấm dứt dòng Gangaraja phía Bắc.
Theo bia ký đọc được, Prithi Indravarman là người đã
thống nhất lãnh thổ Champa một cách chính danh nhất, vì được
triều thần công nhận là "người thống lãnh toàn bộ đất nước
như Indra, thần của các vị thần". Tuy đất nước đã được
thống nhất, lãnh thổ này vẫn chưa có tên. Khi sang Trung Hoa
triều cống, không biết sứ thần của Prithi Indravarman đã giải
thích như thế nào mà sử liệu cổ Trung Hoa đặt tên lãnh thổ
mới của người Chăm trong thời kỳ này là Hoàn Vương Quốc,
"vương quyền trở về quê cũ". Để xác minh điều này,
việc làm đầu tiên của Prithi Indravarman là dời kinh đô Sinhapura
(thành phố sư tử hay Trà Kiệu, Quảng Nam) về Virapura (thành phố
Hùng Tráng, nay là thôn Palai Bachong, xã Hòa Trinh, huyện An Phước -
cách Sài Gòn 310 cây số về phía Bắc trên quốc lộ 1, tỉnh Ninh
Thuận).
Dưới thời Prithi Indravarman, văn minh và văn hóa Ấn Độ
từ phía Nam đưa lên lấn át toàn bộ sinh hoạt của người Chăm
phía Bắc ; chữ Phạn được phổ biến rộng rãi trong giới vương
quyền và các nơi thờ phượng ; đạo Bà La Môn được đông đảo
người theo ; đạo Phật Tiểu Thừa (Thevada) phát triển mạnh trong
chốn dân gian ; đền đài, dinh thự và chùa tháp được xây dựng
lên khắp nơi, nhiều nhất là tại Khu Lật (Huế), Amavarati (Mỹ Sơn),
Sinhapura (Trà Kiệu)… để tạ ơn thần linh. Tuy vậy nguyên tắc
tự trị của các tiểu vương quốc phía Bắc vẫn được tôn
trọng, vì không thấy di ảnh hay hình tượng nữ thần Bhagavati -
vị thần bảo hộ Panduranga được Prithi Indravarman chọn làm
"Bà Mẹ xứ sở" để dân chúng thờ phượng – trong các
di tích khảo cổ trên lãnh thổ Chiêm Thành phía Bắc.
Về "Bà Mẹ xứ sở", ngôi tháp bằng gỗ trước kia
thờ nữ vương Jagadharma (646-653) được Prithi Indravarman cho xây
dựng lại bằng vật liệu cứng tại Aya Tră (Nha Trang), trên một
ngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng
nữ thần Bhagavati (bằng vàng). Tháp này về sau được biết dưới
tên Po Nagar, hay Tháp Bà.
Truyền thuyết Chăm cho rằng Hoàn Vương
Quốc trước kia do nữ vương Po Nagar cai trị trong suốt 200 năm,
từ 758 đến 958. Thời gian trị vì lâu dài này là thời gian mà vương
triều Panduranga thịnh hành. Nữ vương Po Nagar - còn gọi là Yan Pu
Nagara, Po Ino Nagar hay Bà Đen (nguời Việt Nam gọi là
Thánh Mẫu Thiên Y Ana) - là vị nữ thần được tạo nên
bởi áng mây trời và bọt biển, người tạo dựng ra quả đất,
sản sinh gỗ quí, cây cối và lúa gạo. Bà có 97 phu quân, trong đó
chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và được tôn
trọng hơn cả. Bà có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành
nữ thần, trong đó có ba người được người Chăm chọn làm
thần bảo vệ đất đai và còn thờ phượng cho tới ngày nay : Po
Nagar Dara, nữ thần Kauthara (Khánh Hòa) ; Po Rarai Anaih, nữ thần
Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk, nữ thần Manthit (Phan Thiết).
Prithi Indravarman là một quân vương tài giỏi, đất nước thái
bình và rất phồn vinh. Sự giàu có của Hoàn Vương Quốc hấp
dẫn các vương quốc lân bang, đặc biệt là Srivijaya (Palembang),
Malayu (Malaysia), Javadvipa (Java), Nagara Phatom (Thái Lan), Sriksetra
(Miến Điện) và Angkor (Chân Lạp) ; họ đến để trao đổi hoặc
chờ dịp cướp phá.
Năm 774, quân Nam Đảo từ ngoài khơi
đổ bộ vào Kauthara và Panduranga, chiếm Virapura. Vua Prithi
Indravarman đã chống trả lại mãnh liệt nhưng bị chết trong đám
loạn quân (sau này được dân chúng tôn thờ dưới pháp danh
Rudraloka). Một bia ký đọc được ở tháp Po Nagar ghi "những
người đen đủi và gầy yếu từ miền xa đến, ăn những thức
ăn khủng khiếp hơn xác chết, lại có tính hung ác. Bọn người này
đi mành đến lấy cắp tượng linga của thần Sri Sambhu, đốt phá
đền thờ [Po Nagar]". Sau cuộc tấn công này quân Nam Đảo cướp
đi rất nhiều báu vật, trong đó có tượng nữ thần Bhagavati
bằng vàng.
Ngay khi Prithi Indravarman vừa tử
trận, một người cháu gọi ông bằng cậu tên Satyavarman được
hoàng tộc tôn lên thay thế. Nhưng vừa lên ngôi, Satyavarman đã cùng
hoàng tộc chạy lên miền Bắc (Bình Định) lánh nạn. Tại đây,
nhà vua được cộng đồng người Chăm và người Thượng địa phương
(Bahnar, Hré) giúp thành lập một đạo quân hùng mạnh tiến xuống
Kauthara tấn công quân Nam Đảo. Trước uy lực của Satyavarman, quân
Nam Đảo lên thuyền bỏ chạy ra khơi, tân vương dẫn hoàng gia
về lại Virapura. Tại đây, nhà vua xây thêm một cung điện mới
trong thành Krong Laa và không ngờ đã sáng chế ra một phong tục
mới mà các đời vua sau bắt chước theo, đó là tục trồng cây
Kraik, biểu tượng của hoàng gia, trước cung điện. Đền Po Nagar,
bị quân Nam Đảo phá hủy, được Satyavarman cho dựng lại bằng
gạch, 10 năm sau (774-784) thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày
nay. Năm 786, Satyavarman mất (được dân chúng thờ phượng dưới
pháp danh Isvaraloka), em trai út của ông được hoàng tộc đưa lên
ngôi, hiệu Indravarman I (786-801).
Hay tin Satyavarman từ trần, năm 787, quân
Java từ ngoài khơi lại tràn vào Virapura cướp phá, sát hại rất
nhiều binh sĩ và dân chúng, phá tháp Hòa Lai thờ thần
Bhadradhipatisvara tại Virapura. Quân Nam Đảo chia ra làm hai nhóm,
một nhóm bắt theo nhiềuá phụ nữ cùng rbáu vật chở về nước,
một nhóm khác chiếm giữ Panduranga. Phải hơn mười năm vất vả
Indravarman I mới đuổi được quân Nam Đảo ra khơi để khiến
thiết lại xứ ở (năm 799). Tại Virapura, nhà vua xây lại tháp Hòa
Lai bằng ba tháp mới, gọi là Kalan Ba Tháp, thờ các thần
Indrabhadresvara, Sankara và Narayana. Cũng vất vả lắm Indravarman I
mới dẹp yên được một số giặc giã nổi lên từ khắp nơi, như
tại Candra (phía bắc), Indra (đông-bắc), Agni (phía đông), Yama (đông-nam),
quan trọng nhất là loạn Yakshas (phía nam). Yakshas là những bộ
lạc Thượng cư ngụ trên lãnh thổ đế quốc Angkor chứ không
phải là quân Khmer.
Đầu thế kỷ thứ 9, Indravarman I
mất, em rể là hoàng thân Deva Rajadhiraja lên thay, hiệu Harivarman I,
mở đầu một trang sử mới.
Trong hai năm đầu tân vương dồn
mọi nổ lực xây dựng lại đất nước và phục hồi thế lực
quân sự. Để nhận thêm sự ủng hộ của quần chúng, nhà vua sai
tể tướng Senapati Pangro trùng tu lại tháp Po Nagar và xây thêm hai
tháp mới cạnh tháp chính, một ở hướng nam và một ở hướng tây-bắc
để dân chúng đến chiêm bái tượng nữ thần Bhagavati, được
tạc lại bằng đá hoa cương.
Sau những cố gắng vượt bực, Hoàn
Vương Quốc hưng thịnh trở lại, Harivarman I quyết định trả thù
những quốc gia đã tấn công và cướp bóc đất nước của ông
trước đó. Tháng 1-803, quân Chăm tấn công châu Hoan (Tỷ Cảnh,
nay là Thanh Hóa) và châu Ái (Hải Âm, nay là Nghệ Tĩnh), mang về
rất nhiều phẩm vật. Với lượng lúa gạo mang về miền Bắc,
thủy quân Hoàn Vương Quốc xuất dương trừng phạt vương quốc
Kelantan ở Java và Patani ở Malaysia. Khi trở về, nhà vua cho người
lên Tây Nguyên mộ thêm binh sĩ và được sự hưởng ứng nồng
nhiệt của người thiểu số. Với đạo quân này, hai lần (nam 803
và 817), Harivarman I tiến vào cao nguyên Đồng Nai thượng, đánh
bại quân Khmer và kiểm soát một vùng đất rộng lớn.
Để có thêm nguồn lương thực, năm
808, Harivarman I xua quân đánh chiếm châu Hoan và châu Ái lần nữa,
nhưng bị thái thú Trương Châu đánh bại : 59 người trong hoàng
tộc bị bắt sống, nhiều thớt voi, tàu chiến và quân trang quân
dụng bị tịch thu, hơn 30.000 người bỏ xác tại trận. Về con
số ba vạn người bị chết này, tưởng cũng nên tương đối hóa
nó vì thời đó người Hoa chưa phát minh ra số "không" (zéro)
do đó cái gì nhiều quá, đếm không xuể đều được ghi là
"vạn" ; con số ba vạn ở đây có thể do nhiều đơn vị
khác nhau cùng báo cáo và cũng có thể được thổi phồng để
được triều đình trung ương khen thưởng, vì qua năm sau, năm 809,
Harivarman I tái chiếm châu Hoan và châu Ái một cách dễ dàng và
mang về rất nhiều phẩm vật.
Không rõ Harivarman I mất năm nào nhưng
con trai là tiểu vương (pulyan) đất Panduranga lên kế vị năm 817,
hiệu Vikrantavarman III. Vì tân vương còn nhỏ tuổi, triều thần
phong tể tướng Senapati Par, tiểu vương đất Manidhi (?), làm phụ
chính. Viên tể tướng này đã tổ chức nhiều cuộc tấn công vào
lãnh thổ Kambujas (Kampuchea ngày nay), do vua Jayavarman II cai trị, phá
nhiều thành trì khmer trên cao nguyên Đồng Nai thượng. Để tạ ơn
Bà Mẹ Xứ Sở, trong khuôn viên
Po Nagar, Senapati Par cho xây thêm hai tháp mới về phía tây và tây-nam,
thời gian sau xây thêm ba tháp khác : một tại khu trung tâm thờ Sri
Shambu, một phía tây-bắc thờ Shandhaka và một phía nam thờ
Ganesha. Mặc dù vậy, trung tâm chính trị và tôn giáo vẫn được
duy trì tại Virapura, thủ phủ Panduranga.
Dưới thời Vikrantavarman III, Hoàn Vương
Quốc rất là giàu có, quân
lực rất là hùng mạnh. Một bia ký, tìm được tại tháp Po Nagar,
mô tả Vikrantavarman III như sau : "[Người] đeo những dây
vàng có đính ngọc trai và ngọc bích, giống như mặt trăng tròn
đầy đặn, che một chiếc lọng trắng bao phủ cả bốn phương
trời bởi vì lọng còn sâu hơn cả đại dương, thân thể [Người]
trang sức phủ kín bởi vương miện, đai, vòng, hoa tai, những tràng
hồng ngọc... bằng vàng, từ đó phát ra ánh sáng giống như
những cây leo [sáng lấp lánh]". Thư tịch cổ Trung Hoa
(Cựu Đường thư) mô tả thêm : "[Vua] mặc áo cổ bối
bạch diệp... trên đeo thêm trân châu, dây chuyền vàng làm thành
chuỗi...". Đẳng cấp quí tộc và phụ nữ cung đình cũng
đeo trang sức quí : "Phu nhân mặc vải cổ bối triệu hà...
mình trang sức dây chuyền vàng, chuỗi ngọc trai".
"[...] Quân đội được trang bị nhiều loại vũ khí khác
nhau...".
Với thời gian, Hoàn Vương Quốc trở
thành nạn nhân của sự giàu có của mình, các thế lực lân bang
liên tục tràn váo cướp phá. Trong suốt hơn 20 năm, từ 854 đến
875, quân của đế quốc Angkor đã nhiều lần tiến đánh Hoàn Vương
Quốc, chiếm nhiều vùng đất rộng lớn dọc tả ngạn sông Đồng
Nai, đôi khi còn băng cao nguyên Langbian đột nhập vào lãnh thổ
Panduranga cướp phá.
Vikrantavarman III mất năm 854 (được
thờ dưới pháp danh Vikrantasvara), không người kế tự, nội bộ
triều đình xảy ra tranh chấp.
Triều
vương thứ sáu (859-991) : vương triều Indrapura hay Campapura (Chiêm
Thành)
Sống mãi trong xa hoa, vương triều
Panduranga trở nên yếu đuối. Sau hơn 20 năm chinh chiến với Angkor
quyền hành trong nước lọt dần vào tay các dòng vương tôn miền
Bắc, chính họ đã chống trả lại các đợt xâm lăng của đế
quốc Angkor.
Năm 859, một vương tôn mang nhiều
chiến công, tên Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin, được triều thần
đưa lên ngôi, hiệu Indravarman II.
Mặc dù là truyền nhân đích tôn
của các đời vua trước (ông nội là Rudravarman II, cha là
Bhadravarman II), Indravarman II lên ngôi do "dày công tu luyện, do
sức mạnh của trí tuệ trong sáng", vì Indra là thần trên các
vị thần. Sau khi qua đời ông được dân chúng thờ dưới tên
Paramabuddhaloka.
Dưới thời Indravarman II, trung tâm
quyền lực chính trị và tôn giáo được dời lên phía Bắc tại
Indrapura - thành phố Sấm Sét (nay là Đồng Dương, cách Đà Nẵng
hơn 50km về phía nam) trên bờ sông Ly Ly (một nhánh sông Thu Bồn,
cách thánh địa Trà Kiệu 15 cây số). Vị trí của Indrapura rất
thuận lợi trong việc phòng thủ chống lại những cuộc tiến công
của quân Khmer và quân Nam Đảo.
Phật giáo Đại Thừa cũng phát
triển mạnh trong giai đoạn này, nhiều nhà sư Trung Hoa được phép
đến Indrapura truyền đạo, xây chùa chiền và thu nạp giáo đồ,
nhưng không mấy thịnh hành. Indravarman II là người đã dung hòa
được hai tôn giáo lớn nhất thời đó (Bà La Môn và Phật giáo)
trong dân gian và xã hội : nhiều Phật viện (Vihara), Phật đường,
tu viện, đền thờ được xây dựng khắp nơi lãnh thổ, một
bảo tháp dài 1.330m tên Laksmindra Lokesvara được xây dựng cạnh đền
thờ Bà La Môn (một tượng Buddha thời này, cao 1,14m, được tìm
thấy tại Đồng Dương năm 1978).
Đẳng cấp tu sĩ (Brahman) rất được
trọng vọng, đạo Bà La Môn rất thịnh hành. Indravarman II rất
tự hào vì các đại thần dưới quyền đều là những người
Brahman và Ksatriya, và chính nhà vua cũng là một Brahman.
Quốc hiệu Campapura (đất nước
của người Chăm, theo tiếng Phạn cổ) được Indravarman II chính
thức sử dụng khi tôn vinh đất nước mình. Sử sách Trung Hoa phiên
âm là Chang Cheng (từ chữ Campapura hay Campa mà ra), tiếng Việt là
Chiêm Thành hay Chiêm Bà, tiếng Tây phương là Champa. Trong thực
tế, Campa là tên của một cây có hoa màu trắng, nhụy vàng, hương
rất thơm. Tiếng Việt gọi là hoa đại hay bông sứ. Loài hoa này
được trồng quanh cung điện của các vua Chăm và đền thờ của
người Chăm ; sau này được trồng tại nhiều nơi thờ tự của các
tôn giáo khác ở miền Trung và các gia trang có sân vườn rộng.
Mỗi dịp lễ lạc người Chăm thường hái bông sứ dâng lên bàn
thờ, mùi hương tỏa ngát không gian của đền thờ. Campa cũng là
tên một địa danh miền bắc Ấn Độ, trên con sông Hasdo, tỉnh
Madhya Pradesh, gần thành phố Bhagalpur (Bilaspur). Thời đó, vì mến
mộ văn minh và văn hóa Ấn Độ, các vị lãnh đạo Champa thường
đặt tên triều vương, lãnh thổ và thành phố của mình theo tên
các địa danh đã có tại Ấn Độ.
Chiêm Thành dưới thời Indravarman II
rất là hùng mạnh, hai miền Nam-Bắc đã được thống nhất trong
hòa bình. Trong những năm 861, 862 và 865, quân Chiêm Thành tổ chức
nhiều cuộc tấn công vào phủ An Nam, mang về rất nhiều lương
thực và của cải. Năm 889 vua Angkor là Yasovarman hai lần tiến quân
vào Chiêm Thành nhưng đều bị đánh bại và chết trong rừng sâu
(năm 890), một phần đất trên Đồng Nai thượng và lãnh thổ đông-bắc
Angkor (cao nguyên Rattanakiri và Mondolkiri) đặt dưới quyền kiểm soát
của Chiêm Thành.
Năm 890 Indravarman II mất, cháu là hoàng
thân Jaya Sinhavarmadeva Campapura Paramesvara kế vị, hiệu Jaya
Sinhavarman I. Tân vương được nhiều
danh tướng Ajna Jayendrapati, Ajna Narendranpavitra, Sivacarya, Po Klun Pilih
Rajadvara… tận tình giúp đỡ. Nhà vua tiếp tục cho xây thêm
nhiều đền đài tráng lệ, tu viện Phật giáo quanh thánh địa Đồng
Dương. Tượng nữ thần Bhagavati được cho đúc lại bằng vàng
thờ trong chính điện tháp Yan Po Nagara.
Uy quyền của vương triều Indrapura
nới rộng lên đến Tây Nguyên. Cao nguyên Darlac-Kontum do một tiểu
vương người Thượng, tên Mahindravarman, cai trị. Nhiều đền đài
Chăm được xây cất trong thung lũng sông Bla gần Kontum (đền Kon
Kor được xây cất năm 914 thờ thần Mahindra Lokesvara).
Jaya Sinhavarman I mất năm 898, con là
Jaya Saktivarman lên thay (899-901). Những vị vua tiếp theo -
Bhadravarman II (901-918) và con là Indravarman III (918-959) - tiếp tục
sự nghiệp của cha ông trong lãnh vực tôn giáo : đạo Bà La Môn
trở thành quốc giáo.
Qua trung gian những gia đình hoàng
tộc gốc Nam Đảo - Rahdar Ahmed Abu Kamil, Naqid Amr Ali - trốn chạy
chính sách cai trị khắc nghiệt của những tiểu vương Java, được
tể tướng Po Klun Pilih Rajadvara nhận vào tị nạn, đạo Hồi chính
thức được phổ biến trong chốn hoàng gia. Với thời gian, đạo
Hồi được đông đảo quần chúng bình dân tin theo. Nhân cơ hội,
những gia đình quí tộc tị nạn này truyền bá luôn văn minh và văn
hóa Nam Đảo, đặc biệt là lối kiến trúc và cách điêu khắc,
cho nghệ nhân Chăm. Vào thời này, người Chăm đã nắm vững kỹ
thuật đi biển, biết buôn bán và giao hảo tốt với các quốc gia
lân bang : Trung Hoa và Java.
Vừa lo ngại vừa ganh tị sức mạnh
và sự giàu có của Chiêm Thành, năm 945 vua Khmer là Rajendravarman II
cùng binh sĩ băng rừng từ Angkor vào Kauthara, cướp tượng nữ
thần Bhagavati bằng vàng - vị thần bảo vệ xứ sở và là biểu
tượng uy quyền của Chiêm Thành - trong tháp Yan Po Nagara mang về nước
; từ sau ngày đó, vương triều Indravarman III suy yếu hẳn.
Dưới thời Indravarman III, biến cố
quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của vương quốc Chiêm
Thành là sự hình thành một vương quốc độc lập phía Bắc : nước
Đại Cồ Việt, nhưng chỉ thực sự để lại hậu quả qua các
triều vua sau. Năm 959, Indravarman III từ trần, con là Jaya Indravarman
I lên thay năm 960.
Việc làm đầu tiên của tân vương là
cho tạc lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá hoa cương để dân
chúng đến thờ, năm 965 mới xong. Năm 972, Jaya Indravarman Iraq từ
trần, con là Phê Mi Thuế, Paramesvaravarman I (972-982), lên thay.
Sinh hoạt chính trị của Chiêm Thành
trong giai đoạn này rất là hỗn độn, năm 978, một người tên
Kinan Tache mang phẩm vật sang Trung Hoa triều cống để được phong
làm vua Chiêm Thành nhưng không được nhà Tống nhìn nhận. Trong lúc
đó, lợi dụng tình trạng loạn lạc tại Đại Cồ Việt (loạn
thập nhị sứ quân, từ 944 đến 972), quân Chiêm Thành nhiều lần
tiến lên đánh phá những quận huyện ở phía nam, gây nhiều
thiệt hại nhân mạng và tài sản.
Năm 979, hay tin Đinh Tiên Hoàng bị ám
sát, Ngô Nhật Khánh, một sứ quân Đại Cồ Việt, thuyết phục
vua Paramesvaravarman I, dẫn hơn một ngàn chiến thuyền từ Chiêm Thành
vào chiếm Hoa Lư, nhưng không thành. Ngô Nhật Khánh bị giết, quân
Chăm phải rút về.
Tình hình chính trị của Đại Cồ
Việt trong giai đoạn này cũng không lấy gì làm sáng sủa : triều
đình không có vua, Hạng Lang tức Đinh Vệ Vương còn quá nhỏ (6
tuổi), mẹ là thái hậu Dương Vân Nga không thể một mình đảm
đương việc nước vì phía Bắc quân Tống lăm le tiến xuống, phía
Nam quân Chiêm sẵn sàng tiến lên. Năm 980, Dương Vân Nga nhường
cho Lê Hoàn làm vua Đại Cồ Việt, hiệu Lê Đại Hành hoàng đế.
Tân vương sai sứ sang Trung Hoa báo tin, dâng vài tù binh Chiêm vừa
bắt được làm quà biếu. Vua Tống nhận tặng phẩm nhưng lại
muốn duy trì ảnh hưởng tốt với Chiêm Thành, sai thống đốc
Quảng Châu cho những tù binh Chiêm ăn uống rồi thả về nước.
Bực mình trước tin này, Lê Đại Hành
sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành yêu cầu vua Chiêm sang
bái kiến. Paramesvaravarman I, sau khi nhận lại tù binh từ nhà Tống
và tin chắc sẽ được Bắc triều bênh vực nếu bị Lê Đại Hành
tấn công, đã không những không sang bái kiến mà còn bắt giam
sứ giả. Lê Đại Hành rất giận nhưng chưa có phản ứng.
Sau khi đánh đuổi quân Tống ra khỏi
lãnh thổ phía Bắc cuối năm 980, Lê Đại Hành củng cố lại
lực lượng chuẩn bị tấn công Chiêm Thành. Đầu năm 982, nhà vua
dẫn đại quân tiến vào Indrapura. Đây là cuộc Nam chinh đầu tiên
của người Việt vào đất Chiêm Thành. Paramesvaravarman I tử trận
ngay tại cửa thành, chấm dứt triều đại Indrapura.
Lê Đại Hành tiến vào kinh đô
Indrapura (Đồng Dương), giết tướng giữ thành Tỳ My Thuế, bắt
sống hàng trăm vũ nữ trong hậu cung, tịch thu rất nhiều báu
vật mang về nước. Bên ngoài binh lính Việt đốt phá thành trì,
san phẳng lăng tẩm các vị vua Chiêm, bắt theo hàng ngàn tù binh,
trong đó một nhà sư Ấn Độ tên Thiền Trước Tăng (bhiksu). Lãnh
thổ Bắc Chiêm Thành (Bình Trị Thiên) bị chiếm đóng từ 982 đến
983.
Sau chiến thắng này, văn hóa và
nghệ thuật (nhất là âm nhạc) Chiêm Thành chính thức được du
nhập vào đời sống cung đình và dân gian Việt. Đền đài, dinh
thự tại Hoa Lư được trang trí bằng những chiến lợi phẩm do các
thợ Chiêm Thành chạm trổ và sản xuất ra.
Indravarman IV (Xá Lợi Đà Ngô Nhựt Hoàn)
– được hoàng triều tôn lên làm vua khi Paramesvaravarman I vừa
tử trận - chạy vào Panduranga lánh nạn và chịu triều cống nhà
Lê mới được yên. Năm 985 Nhựt Hoàn sai pháp sư Kinkoma sang Trung
Hoa xin nhà Tống cứu viện nhưng được khuyên là nên duy trì quan
hệ tốt với Đại Cồ Việt.
Nội bộ nhà Lê cũng xảy ra tranh
chấp về quyền lãnh đạo trên lãnh thổ Bắc Chiêm Thành, người
thì đề nghị cai trị trực tiếp, người thì khuyên tản quyền.
Cuối cùng một giải pháp trung gian được áp dụng : nơi nào còn
đông đảo người Chăm cư ngụ thì giao cho người địa phương
quản lý, nơi nào đông dân cư gốc Kinh sinh sống thì triều đình
Đại Cồ Việt đặt quan cai trị trực tiếp. Sự kiện này chứng
tỏ sự cộng cư giữa các nhóm cư dân địa phương sau khi Lâm
Ấp giành được độc lập vẫn còn khắng khít, nhưng từ khi người
Kinh bắt đầu cai trị trực tiếp lãnh thổ Bắc Chiêm Thành
chống đối bắt đầu xảy ra.
Năm 983, một quản giáp (trưởng làng)
người Kinh sinh sống trên lãnh thổ Bắc Chiêm Thành tên Lưu Kỳ Tông
nổi lên chém đầu một người con nuôi của Lê Đại Hành, lúc đó
là một quan cai trị trực tiếp, xây thêm thành lũy quanh Phật Thành
(Fo Che) phòng thủ lãnh thổ Bắc Chiêm Thành, rồI mộ hơn 10.000 người
và nhiều voi ngựa đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành tiến quân
xuống đánh nhưng cuộc chiến đã không xảy ra, vì sau khi vượt núi
Đông Cổ và sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đại quân của nhà Tiền Lê
chịu không nổi sương lam chướng khí phải rút về.
Năm 986, hay tin vua Indravartman IV (Ngô
Nhựt Hoàn) của người Chăm từ trần, Lưu Kỳ Tông liền tự xưng
vương và xin nhà Tống thừa nhận. Sự tiếm quyền này xúc phạm
đến tín ngưỡng của người Chăm vì Lưu Kỳ Tông không xuất thân
từ vương tộc hay đẳng cấp tôn giáo nào, và là một đe dọa
cho cộng đồng người Hoa địa phương. Một người Chăm gốc Hoa
tên Poulo Ngo dẫn theo khoảng 150 người đổ bộ lên đảo Hải Nàm
và vùng duyên hải nam Quảng Châu tị nạn. Năm 988, thêm 300 người
khác do Ho Siuan dẫn đầu đổ bộ lên bờ biển Quảng Châu. Người
Chăm gốc Nam Đảo còn lại theo Bằng Vương La (Cu-thì-lợi Hà-thanh-bài
Ma-la), một người Champa sinh sống tại
Phật Thành, kháng chiến chống Lưu Kỳ Tông.
Nguyễn
Văn Huy