Nhận định về bài nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài (*)

Trí Thức Việt Nam : Người Là Ai ?

 Bửu Sao 

     Bàn về người trí thức Việt Nam, nhà văn Phạm Thị Hoài xin mọi người chấp nhận một quy ước : "nói đến người trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức, trình độ, môi trường sống, thói quen, hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí thức và tinh thần là thường trực, hoặc chủ yếu, hoặc đóng một vai trò đáng kể". Đúng thế : nhà thơ thì làm thơ, nhà văn thì viết văn, và người trí thức thì hoạt động trí thức : với một định nghĩa vô thưởng vô phạt như thế, mọi người đều đồng ý. Nhưng khi nói đến tư cách chính thống của người trí thức Việt Nam, đấy mới là "miếng trầu đầu câu chuyện".

     Theo bà Phạm Thị Hoài, người trí thức Việt Nam qua mọi diễn biến của thời cuộc vẫn còn là những cậu, những cô học trò quanh năm đèn sách nhằm đạt được vị thế của nho nhân, kẻ sĩ ; họ chưa dẹp bỏ được cái nếp học trò của mình. Cố nhiên, một định nghĩa hoàn hảo về người trí thức không thể có được, song lấy hai vế trên đây, vế quy ước và vế tóm lược nhập lại chúng ta có thể hình dung được một phần nào cái diện mạo của người trí thức Việt Nam cổ điển.

     Nay thử nhìn vào lịch sử chính trị và văn hóa Việt Nam: ba loại người trí thức sẽ hiện rõ nét với những bản chất cá biệt mà cấu trúc xã hội đã tác thành trong tiến trình diễn biến qua các thời đại :

     Vào thời phong kiến, từ nhà Lý đến cuối thời Tự Đức nhà Nguyễn, giới trí thức Việt Nam mang rõ bản chất "phò chính thống với tư cách quan văn". Dưới hai thời thực dân : thực dân Pháp và thực dân bản địa cộng sản, từ 1986 đến bây giờ, lộ diện giới trí thức "quan võ, võ sĩ, hay đạo sĩ, khi mà sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho sĩ...".

     Từ 1954 đến 1975, và sau 1989, với sự thế đổi dời, "cặp bài trùng trí thức và quyền lực được tách rời nhau ra" để tác thành những người trí thức dấn thân và đối lập. Tuy con số còn ít ỏi, nhưng loại trí thức này đang bành trướng mạnh. Với sự tiếp sức từ nước ngoài nó sẽ gây một đối lực chuyển hóa mãnh liệt trên chính trường quốc nội, phác họa một đường hướng sáng sủa hơn cho tiền đồ dân tộc.

     Trước khi bàn về tư cách "quan văn" của giới trí thức Việt Nam thời phong kiến, một sự kiện lịch sử cần được đính chính ngay tại đây. Phạm Thị Hoài nói : "... sau ít nhất là 2000 năm... chúng ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu nhất thế giới và chưa bao giờ chúng ta không như thế". Nếu đọc kỹ các tài liệu sưu tầm lịch sử tức sẽ nhận thấy rằng dưới các thời Trần, Lê, Nguyễn, và gần đây hơn, dưới thời kỳ Nam Bắc phân tranh, nghĩa là trong ít nhất là một ngàn năm lịch sử, dân Việt đã có ít nữa là một lần không như thế, theo tôi nghĩ thì rất có thể là nhiều lần không như thế. Các sử gia thời trước chưa dựa được vào các dữ kiện thống kê để phán quyết về tỷ số dân nghèo và lạc hậu, nhưng qua các tài liệu Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Trịnh Hoài Đức, và qua các tập viễn du ký của người Âu thì vào các thời đó, tỷ số dân nghèo là bao nhiêu trong xã hội ? khó mà quyết đoán được, nhưng điều chắc chắn là không đạt đến mức 80% dân số khiến nước Việt Nam phải "đội sổ" như hiện nay. Vậy không phải vào thời nào Việt Nam cũng đội sổ trong số phận một quốc gia nghèo đói nhất thế giới được.

     Bây giờ bàn về tư cách "quan văn" của giới trí thức Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XVII, do sự hội nhập nhanh chóng và tự do của người dân vào thị trường quốc tế, ngoài bọn "trí thức tác phong quan văn" của chế độ phong kiến, giới trí thức sinh ra từ giới nhà nông hạng trung lưu thời đó đã phát triển mạnh nơi chốn thôn dã là đất dụng võ của họ. Ngay từ thời nhà Lý giới trí thức bình dân này đã lập ra hương ước, cũng được gọi là lệ làng mà dân chúng còn trọng hơn cả luật vua nữa ! Sở dĩ nước Việt Nam còn tồn tại sau gần một ngàn năm Bắc thuộc là vì tinh thần hào hùng bất khuất của nòi giống Lạc Việt còn tồn tại trong đám trí thức nhà nông, đối lập với triều thần các vua chúa.

     Cuốn sách nhan đề Rêves, Souvenirs, Commentaires (Mơ Ước, Kỷ Niệm và Chú Giải ) của Nguyễn Khắc Viện tuy không đồng quan điểm với Phạm Thị Hoài về tình trạng tụt hậu và yếu kém của dân Việt, nhưng cũng mang cái dấu ấn mặc cảm tự ti của những người đã từng chịu sự chi phối của học thuyết duy vật sử quan. Trong khi lịch sử Việt Nam chứng minh bao nhiêu cuộc đấu tranh chống bạo quyền là do giới trí thức nông thôn thuộc giai cấp trung lưu lãnh đạo ; trong khi giới trẻ Việt Nam thời nay tự hào nhắc nhở phải "làm sao cho ngang thời xưa", thì những người đã một thời chịu ảnh hưởng của ý thức hệ mác-xít vẫn xem lịch sử Việt Nam như là một lịch sử tranh đấu trường kỳ và hầu như vô vọng của giới bần cố nông chống cường quyền dưới một thời phong kiến chưa dứt, phải chờ đến cuộc cách mạng vô sản Mác-Lê mới mong giải quyết được.

     Đến khi bà Phạm Thị Hoài mô tả tư cách chính thống, học trò, của trí thức Việt Nam dưới chế độ cộng sản, với bản tính yêu địa vị, duy ý chí, chuyên bạo lực, trong một chính quyền dở phong kiến dở thực dân, ở đây bà đã cung cấp một lời chứng trung thực và bi đát về tình trạng Việt Nam đương đại này. Trong khi quan thầy Mao Trạch Đông gọi bọn trí thức không hơn cục phân thì tìm đâu ra một người trí thức chính hiệu ngoài giới quan thầy "xếnh xáng"? Trong khi những người trí thức chính hiệu Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo v.v. vì đã trót hơn cục phân nên đã bị trù dập, phải ăn cóc ăn nhái để còn được sống thì các nhà trí thức "chính thống" u mê trong giới lãnh đạo học thuộc lòng cuốn sách đỏ để theo đường lối quan thầy Mác-Lê bần cùng hóa nhân dân Việt Nam ngõ hầu có cơ may toàn trị.

     Nhà trí thức mác-xít Nguyễn Khắc Viện, trong chức vụ lãnh đạo chính trị nhóm "Việt kiều yêu nước" tại Pháp vào các năm 1952-1963, và cố vấn chính trị của chính quyền Hà Nội từ 1963 đến 1984 đã đề cập đến Khổng Nho như một đường lối rất chính thống trong công cuộc lãnh đạo nhân dân. Nguyễn Khắc Viện đã dùng hơn một nửa cuốn sách của ông để trình bày về vai trò của học thuyết Khổng giáo trong công cuộc gọi là "giải phóng" quê hương Việt Nam. Ông nói : "Học thuyết mác-xít đã thừa kế khổng học để cống hiến một căn bản cho học thuyết chính trị, xã hội Việt Nam, giúp giải quyết những vấn đề thực dụng... Hai học thuyết này có liên hệ trong quá trình diễn biến lịch sử ngoài mọi cuộc đối chọi hàn lâm" (sđd. trang 96 : Le marxisme a succédé au confucianisme pour donner au pays une doctrine politique et sociale, pour lui permettre de résoudre des problèmes pratiques ; il se heurtera au confucianisme, il le rencontrera sur le terrain de l’évolution historique, et non au cours de joutes académiques) .

     Cuốn sách viết bằng tiếng Pháp này dưới nhan đề Mơ Ước, Kỷ Niệm và Chú Giải (Rêves, Souvenirs, Commentaires) của ông đã phác họa một chính sách Mác-Lê-Khổng hòa hợp trong niềm mơ ước ảo tưởng của chế độ. Chỉ khi thần chết gần kề, người trí thức Nguyễn Khắc Viện mới sáng mắt ra nhìn rõ sự thật vô cùng bi đát rồi nấc lên một tiếng than khóc rùng rợn trong hơi thở cuối cùng. Thật ra, từ đầu, nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện đã là khán giả cùng là cố vấn của màn bi kịch Việt Nam để phải gánh chịu một phần trách nhiệm : cuộc đấu tố trong vụ cải cách điền địa 1952-1956, cuộc sát hại và trù dập giới trí thức nhân vụ Trăm Hoa Đua Nở, và gần đây hơn, vụ dâng đất quê hương cho quan thầy Trung Quốc : tất thảy đều xuất phát từ sự vâng lời chấp nhất bề trên "xếnh xáng" của đám học trò u mê trong guồng máy lãnh đạo trung ương Hà Nội. Cũng như mọi trí thức chính thống khác, ông đã "há miệng mắc quai", nên không ú ớ được một lời nào.

     Tại đây làm sao nói ngược lại bài nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài được, ngoại trừ những câu chuyện đang nằm trong các trang sử như câu chuyện Nguyễn Trãi, câu chuyện Nguyễn Du, và gần đây, câu chuyện Phạm Quỳnh, câu chuyện Ngô Đình Diệm. Nhà sử học Pháp Fustel de Coulanges đem ví môn sử học với Quốc Hội lập pháp : cũng có ba bên : trái, phải, trung. Mỗi bên trình bày thoải mái quan điểm của mình "do trình độ học thức, hoặc do môi trường sống của mình", vậy không nên mất thời giờ để bàn cãi làm chi.

     Phần quan trọng đáng nói nhiều là từ đầu thế kỷ 20 trong cả nước, từ năm 1954 đến năm 1975 tại miền Nam, và từ 1975 đến bây giờ tại hải ngoại, đã có nhiều "cơ hội để cặp bài trùng trí thức và quyền lực có thể tách nhau ra được". Vào giai đoạn này một phần giới trí thức Việt Nam khi được cơ may thoát ra được khỏi xã hội đồng chí thì chỉ để bước vào xã hội đồng sàng, rồi đồng sàng dị mộng, bất đồng quan điểm. Họ bất đồng quan điểm vì được toàn quyền hành sử tự do, đúng mức có bừa bãi có, tùy trình độ học thức của mình, và cũng tùy môi trường sinh hoạt. Hệ quả là gây sự phân hóa, xích mích trong các cộng đồng người Việt địa phương.

     Nói về chuyện bất đồng quan điểm ở nơi đây nên lạm bàn một đôi chút cho thoải mái. Vào thời nước Việt bị chia thành hai xứ : xứ Đàng Ngoài và xứ Đàng Trong. Khi dân xứ Đàng Trong thấy cùng một lúc đến 3.000 người phương Bắc, nói tiếng lạ, đi tàu buồm năm lá khơi khơi cập bến, xin chúa Nguyễn cho tá túc, họ gọi nhau ơi ới : nè ! nè ! bà con ơi, mấy người tàu ! Thì ra người Việt từ Bắc vào Nam quen đi đường bộ, có mấy ai đi tàu ? Từ đấy người Trung Hoa được quen gọi là người Tàu. Đấy chỉ là một sự kiện xin được phối kiểm, không phải là một quan điểm để bàn cãi. Nói đến những người Việt vào năm 1954 đi tàu từ miền Bắc vào Nam, rồi vào năm 1975 từ miền Nam cũng đi tàu lan tràn khắp năm châu bốn bể, để rồi nay lại cũng đã mang cái tên là "người tàu", boat people.

     Từ chuyện này lại đặt ra vấn đề quan điểm. Sau gần 30 năm, số "người tàu" này đã đạt đến con số gần hai triệu rưỡi, trong đám này cũng tính đến trên dưới 400.000 người trí thức chuyên gia, tuy không chính thống, nhưng không còn bị chê là "cục phân" nữa. Thời thế đã đảo ngược quan điểm và Mao "xếnh xáng" lên tiếng sửa sai : các nị không pải cục pân mà đúng là cục bàng của tời tại. Rồi đám "người tàu" boat people này cùng đặt câu hỏi : chúng ta phải làm gì cho quê hương ? Giới trí thức chính thống bên kia bờ tức tốc đáp lại : xin mời bà con, cô bác, khúc ruột ngàn dặm, trở về với quê hương thân yêu !

     Đối với giới cầm quyền Hà Nội, mà nhà báo gọi là giới cầm tiền, nay choáng váng thấy lộ lộ trước mắt toàn là những cục vàng chính hiệu, những cục vàng có thể tạo ra vàng. Song xem ra thì những cục vàng này chỉ biến thành báu vật thơm tho khi nào nằm gọn trong lòng bàn tay ta để ta xài chơi ! Rơi vào lòng bàn tay của giới cầm tiền, giới trí thức cục phân nay đột biến thành những con bò vắt sửa, phương tiện để thăng tiến cho mình và thăng hoa cho cán bộ. Rồi từ đó hóa thân thành "cái hèn, cái nhu nhược, cái cầu an" !

     Ở đây, nếu nói thêm nữa thì chỉ lặp lại lời văn của Phạm Thị Hoài mà thôi. Tôi chỉ xin ghi thêm một câu, ghi bằng chữ vàng, là đủ : "khi tự đồng nhất mình ở mức độ cao như vậy với giai cấp thống trị, bất kể là giai cấp nào, thì cái bộ phận ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam là trí thức Việt Nam mặc nhiên đã đánh mất cái thôi thúc cải thiện, thay đổi, và cải cách xã hội".

     Người ơi ! Tại các quê hương thứ hai này, trong cảnh thanh bình an lạc, thay vì đi tìm sự đồng nhất để dồn nỗ lực vào công cuộc quang phục quê hương Việt Nam, người - tất cả chúng ta - đang bày ra cảnh đồng sàng dị mộng, cũng vì mấy chữ tự do tư tưởng. Tại đây có lắm vấn đề từ chủ trương, đến kế hoạch thực hiện, toàn là những vấn đề quan điểm và quan trọng cả, nhưng chỉ để quanh năm bàn đi tính lại. Và đây tôi xin ghi thêm một câu cuối cùng : "tại các chế độ dân chủ tự do, hoàn toàn không phải dính líu đến hệ lý luận mác-xít, hệ kiểm duyệt cộng sản... nhưng cái văn học ấy (của các ngươi) cũng không khá gì hơn ở trong nước, cũng trì trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt... vậy lời đáp nằm ở đâu ?" (Nguyễn Hưng Quốc).

Bửu Sao 
(Orlando, Florida)

(*) Buổi nói chuyện ngày 28-10-2000 tại Berlin, Đức.

<Trở về đầu trang>