Bao-dung, bất-bao-dung và bất-khả-bao-dung

Trần  Nhân  Đạo

"Bao dung đảm bảo khác biệt
Khác biệt đòi hỏi bao dung“

Michael Walzer

      Tại sao tôi lại viết về bao-dung, một vấn đề "cổ lỗ" và "nhạt nhẽo" này ?  Thưa chính bởi sự bất-bao-dung trường kỳ và vô cùng tàn nhẫn của nhà nước Việt Nam, như hiện nay đối với toàn thể mọi người dân và cách riêng đối với những người đang đòi hỏi dân chủ. Cũng chính bởi quán tính bất-bao-dung hóc hiểm của những "người Việt xấu xí" không ngớt thóa mạ và chụp mũ lẫn nhau, trong đó còn có thêm một số người mang thêm tính giáo điều cực đoan phát xuất từ Tin Lành Toàn Thống (fondamentaliste) Bắc Mỹ. Tôi viết về bao-dung, vấn đề "cổ lỗ" và "nhạt nhẽo" này, cũng bởi bao-dung chân chính không thể chấp nhận được những điều "bất-khả-bao-dung".

      Vấn đề bao-dung ngày nay lại càng trở nên bức bách khẩn trương, bởi đất nước chúng ta đang bước tới một hình thức xã hội hiện đại trong đó bao-dung không thể thiếu sót : một xã hội dân chủ, đa văn hóa, đa tôn giáo, nhiều truyền thống, nhiều khác biệt, một xã hội trưởng thành trong tư duy và trong tâm thức vươn mình thoát khỏi những mặc cảm ức bách. dồn nén và tự ti đã trở nên quán tính do những truyền thống chuyên chế và gia trưởng cha chú để lại.

      Tôi đề nghị chúng ta cùng nhau tìm hiểu bao-dung thực chất là gì, dựa trên những cơ sở nào và làm sao để xã hội đất nước và các thế hệ người Việt trong tương lai có được đức hạnh bao-dung cần thiết.

1. Bao-dung là gì và bởi những lý do nào?

      Bao-dung thường được hiểu là quảng đại và độ lượng, khoan hồng, nhẫn nhịn và tha thứ. Một số trường hợp quen biết đối với phần đông trong chúng ta : có những người xin tị nạn đã được cấp giấy cư trú theo chế độ "bao dung" tuy không đủ bằng cứ chính trị, có những người tù đã được "ân xá" tự do trước ngày mãn hạn án tù. Một trường hợp lịch sử nước ta thường được nhắc đến : vua Nhân Tông sau khi làm hòa với quân Nguyên năm 1289 đã "khoan hồng" cho đốt sạch cái tráp biểu hàng của các quan quân trước đó đã thông đồng và đầu hàng với giặc. Trong tôn giáo, chúng ta có nhiều lời dạy bảo phải thực hiện lòng quảng đại bao dung : Hãy "lấy đức báo oán" (Đạo Đức Kinh-ĐĐK 63), "lấy lòng từ mà đối xử với nhau" (Kinh Từ Bi), "Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình" (Phúc Âm Matthêu 5:44)... 

      Bao-dung như thế là một đức hạnh, và chỉ là đức hạnh khi người ta có quyền và có khả năng không độ lượng, không khoan hồng, không nhẫn nhịn, không tha thứ. Đó thường là trường hợp của kẻ mạnh, kẻ có quyền hành, của thành phâàn đa số. Còn nếu khi ta "phải chịu đựng" kẻ khác bởi bị áp bức, bị đè nén, bị bất công, bị tước lột đi các quyền làm người của mình thì sao ? Trong những trường hợp này, truyền thống dân chủ chân chính đòi hỏi phải phản kháng, phải tự vệ, phải chống đối. Nhưng truyền thống dân chủ nhân bản hiện đại cũng lại đã phân biệt được giữa sự ác và người làm điều ác, giữa phản kháng có tính bạo động và phản kháng bất bạo động.

      Hai sự phân biệt về đối tượng và về hình thức phản kháng nầy là một đóng góp quan trọng cho việc thực hành đức hạnh bao-dung ngày hôm nay : bao-dung với người có tội nhưng vẫn nắm giữ công bình và chân lý, tiêu diệt sự ác nhưng tâm hồn vẫn không căm giận oán thù người lầm lạc và được thực hiện qua những hình thức bất bạo động. Nói cách khác: bao dung được triệt đêå thực hiện, nhưng bao dung chân chính lại không thể chấp nhận những sự „bất-khả-bao-dung“, nghĩa là những sự ác, sự bất công, sự phi nhân phi pháp.

      Có những gương hạnh mô phạm cho sự phản kháng triệt để nhưng bất bạo động như thế mà ngày nay khắp thế giới đều nêu cao: những Mahatma Gandhi (1869-1948), những Martin Luther King (1929-1968)... Còn trong đất nước ta hôm nay, và trong một mức độ nào đó, chúng ta cũng có những gương hạnh bao dung vừa đầy nhân ái đối với người có tội, nhưng cũng vừa đầy quyết liệt phản kháng chống lại mọi "bất-khả-bao-dung" của sự ác : những linh mục Nguyễn Văn Lý, những hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ và nhiều người đang tranh đấu cho tự do và dân chủ...

      Nhìn về phương Tây : Lịch sử bao dung tây phương đã ghi lại biến cố bao dung đầu tiên với Sắc chỉ Nantes (Edit de Nantes) năm 1598 do vua Henri IV nước Pháp ban hành, thực hiện chính sách bao dung tôn giáo đối với hệ phái Tin Lành Calvin mang tên Huguenots trong nước Pháp gồm đa số công giáo. Chính sách bao dung tôn giáo này là một chủ trương hòa bình thực tiễn, nhăèm chấm dứt tám cuộc chiến vừa có tính tôn giáo vừa mang sắc thái xã hội kéo dài trên 30 năm (1562-1598) của nhóm Tin Lành Huguenots chống đối chế độ quân chủ tuyệt đối. "Sắc chỉ Nantes" với chính sách bao dung tôn giáo nầy không những đã đem lại hòa bình xã hội, mà còn đưa lại cho nước Pháp hôài bấy giờ những đóng góp rất quan trọng trong các lãnh vực kinh tế và văn hóa do người Tin Lành Huguenots gầy dựng. Bởi hệ phái Tin Lành Calvin nầy gồm nhiều thành phần quý tộc và đại tư sản, và nhờ vậy họ đã thành lập được nhiều trung tâm thương mại và xí nghiệp sản xuất giàu mạnh, như trong các vùng miền Tây Bắc, Tây Nam và Đông Nam nước Pháp, cũng như đã xây dựng được nhiều trung tâm văn hóa tại các thành phố như Nimes, Orthez, Montauban, Sedan và Saumur. 

      Ích lợi của một chính sách bao dung còn được minh chứng một cách ngược lại : gần 90 năm sau, với Sắc chỉ Fontainebleau (1685), vua Louis XIV (1643-1715) đã thu hồi sắc lệnh bao dung Nantes, dẹp bỏ "một quốc gia trong một quốc gia", làm cho trên 200 000 người dân Tin Lành Huguenots phải bỏ nước di tản đến các nước láng giềng Anh, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Đức. Sự ra đi của một số người đông đảo và nhiều khả năng như thế đã gây tổn thương kinh têá nặng nề cho nước Pháp, đồng thời lại đã đưa lại cho các nước tiếp nhận họ những đóng góp quan trọng trong các lãnh vực kinh tế, văn hóa và nghệ thuật.

      Bước qua thời đại Khai Sáng thế kỷ 17-18, các nước Âu châu lại đã có nhiều nhà tư tưởng nêu cao tinh thần bao dung, dựa trên cơ sở tính tự chủ và tinh thần phê phán của con người. Một số người điển hình như : Spinoza với Khái luận thần học chính trị (1670), John Milton với Về tự do báo chí (1644), John Locke với Một lá thư nói về bao dung (1689), Montesquieu với Về tinh thần của pháp luật (1748), Voltaire với Khái luận về bao dung (1763)... Vào thế kỷ 18, với các cuộc cách mạng Bắc Mỹ và Pháp, các nước Âu Mỹ cũng lại đã có những nhà chính trị và tư tưởng đòi hỏi các quyền tự do của con người : tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo. Một soùáố người tên tuôåi trong đó như : Thomas Jefferson, Mirabeau, Jean-Jacques Rousseau, Gotthold Ephraim Lessing, Emmanuel Kant, Johann C.F. Schiller, Johann Wolfgang von Goethe...

      Một điều đặc sắc và một điều rất hi hữu mà tôi không thể không ghi lại nơi đây : điều đặc sắc là các nhà khai sáng đã đòi hỏi sự bao dung không phải chỉ vì tính tự chủ trừu tượng của con người, nhưng là để bảo đảm cho cuộc sống chung hòa bình trong xã hội ; còn điều rất hi hữu là chính Karl Marx năm 1841 đã trích một số đoạn của các nhà khai sáng nói trên để đề cao bao-dung và phản kháng sự bất-bao-dung của nhà nước. Đoạn văn "trích lục" của Marx nói đây đã được rút ra từ tác phẩm "Khái luận thần học chính trị" (1670) của triết gia khai sáng Baruch Benedictus Spinoza (1632-1677) và đã được xuất bản trong bộ "Marx Engels Toàn Tập" của nhà nước Dân Chủ Nhân Dân Đức. Đoạn văn trích lục đó có những câu như sau [Trích chương XX] : "Sau đây sẽ nói về việc mỗi công dân trong một nước tự do đều được phép suy nghĩ điều mình muốn, và nói ra điều mình nghĩ : ... Điều gì người ta không ngăn cản được, thì cũng phải cho phép. Bởi cuối cùng, tự do phê phán là một đức hạnh. Khoa học và nghêä thuật chỉ có thể phát triển trong bầu không khí tự do. Nếu nhà nước ngăn cấm sự phát biểu những ý kiến và những quan điểm khác biệt, thì rồi người ta ngày nào đó sẽ nghĩ khác điều người ta nói và nói khác điều người ta nghĩ, và như thế thì sẽ không còn sự tín cẩn lẫn nhau - điều rất quan trọng cho một quốc gia - và rồi cũng chỉ còn giả hình, gian trá và nham hiểm...". Và, với kinh nghiệm bản thân về những chêá độ độc tài toàn trị trong chính đất nước mình, chúng ta có thể thêm : những chế độ độc tài toàn trị như thế càng ngày càng cần đến một bộ máy công an tinh vi và tàn bạo. Bởi một khi nhà nước không còn tin vào lời nói của người dân (vì họ không được phép nói), thì nhà nước lại phải tạo ra không biết cơ man nào là công an chìm công an nổi, gián điệp gần gián điệp xa để tìm cho ra người dân đích thực nói gì, nghĩ gì, làm gì. Thật là oan trái nầy đưa đến oan trái khác !

      Từ trên mấy trăm trang của Spinoza, Marx đã rút ra một số câu ông cho là quan trọng để nói lên sự nguy hại của sự bất-bao-dung. Cũng trong cùng một quyển thuộc bộ "Marx Engels Toàn Tập" nói trên, Marx còn có một số đoạn trích lục từ tác phẩm "Về vấn đề tôn giáo" của tác giả Benjamin Constant và Marx đã ghi lên hàng đầu tiêu đề: "Bất-bao-dung chỉ có thể bao dung sai lầm" !

      Nhưng bao dung trong nghĩa khoan hồng và chịu đựng, với mục đích thực hiện một sự chung sống hòa bình thực tiễn hay bởi lý do tôn trọng sự tự chủ của con người, sự bao dung đó thực ra mới chỉ là bước đi thứ nhất. Những bước đi tiếp theo của bao dung sẽ là nhìn nhận và chấp nhận kẻ khác trong tính khác biệt của họ. Không ai khác hơn là chính đại thi hào khai sáng Goethe (1749-1832) đã nói : "Bao dung thực ra chỉ là một tâm trạng bước đầu, nó phải đưa đến thái độ chấp nhận. Bao dung [như là nhâãn nhịn, tnđ] có nghĩa là lăng mạ và làm sỉ nhục". Bước chuyển tiếp từ nhẫn nhịn đến nhìn nhận, và rồi từ nhìn nhận đến chấp nhận những quan điểm và xác tín của tha nhân trong tính khác biệt của họ : đó là những bước đi mà tinh thần khai sáng khuyến khích đòi hỏi.

      Hơn nữa, trong những xã hội đa văn hóa và mang tính dân chủ hiện đại, quan niệm về bao dung còn chủ trương thái độï tôn trọng, nhu cầu trao đổi và tính liên đới sâu rộng toàn cầu. Cơ sở lý do của những ý nghĩa mới về bao dung nầy là những giá trị về nhân phẩm, nhân quyền và sự liên đới với từng mỗi một con người trong thực trạng sinh sống của họ ; và cuối cùng là bởi chính tiêán trình nhận thức sự thật : tiến trình nhận thức nầy vừa đa nguyên đa dạng tùy theo các chủ thể nhận thức, vừa đòi hỏi sự phân biệt giữa biểu tượng nhận thức có tính tương đối và đối tượng nhận thức (hay niềm tin) trên nguyên lý có tính thiết yếu (trong niềm tin : có tính tuyệt đối).

      Ở đây ta gặp phải một vài khó khăn lớn : khó khăn thứ nhất là quan niệm độc quyền sự thật của một số người, một số ý thức hệ hay tôn giáo. Đây là trường hợp đảng cộng sản cùng với ý hệ cộng sản tự cho mình có sự thật toàn diện và tuyệt đối, dựa trên một sự giải thích sai lạc về lịch sử và "sứ mệnh lịch sử" dành cho một giai cấp xã hội nhất định. Quan niệm độc quyền sự thật này đã đưa người cộng sản đến một chính sách bất-bao-dung cực kỳ thô thiển, giáo điều và tàn nhẫn như chúng ta đều biết. Nhưng thực tại lịch sử cùng với một tri thức luận khoa học đã cho thấy sự sai lầm vô cùng bi đát của người cộng sản. Chúng ta trông mong và đòi hỏi người cộng sản Việt Nam sớm tỉnh ngộ, để toàn dân được cùng nhau bắt tay xây dựng lại đất nước trong bao dung và nhân ái.

      Một trường hợp khác bao thầu và độc quyền sự thật là giáo hội Kitô Giáo, dựa trên quan niệm được "mạc khải" từ Trời những sự thật độc nhất và tuyệt đối, cùng với "sứ mệnh thiên thượng" đưa cả nhân loại vào Nước Sự Thật của Kitô Giáo này. Quan niệm độc quyền sự thật của giáo hội Kitô Giáo cũng đã đưa lại những hình thức bất-bao-dung không kém phần bi đát - cách riêng từ thời Trung Cổ đến thế kỷ 18, qua những cuộc viễn chinh thập tự giá, những tòa án pháp đình, những bắt bớ, tra tấn và hành xử những người được gọi là lạc đạo hay phù thủy... - như lịch sử đã từng ghi lại. Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, đã có khá nhiều thay đổi trong một số trào lưu thâàn học và tâm linh học về sự đa nguyên và đa dạng của sự thật tôn giáo; nhưng nơi một số nhóm tín đồ hay hệ phái như "Công Giáo Toàn Thủ" (intégristes) và nhất là "Tin Lành Toàn Thống" (fondamentalistes) thì quan niệm độc quyền sự thật và sự cứu rỗi vẫn tiếp tục là những giáo điều cực đoan không chút khoan nhượng . Cho đến những năm gần đây, vẫn còn có một số tiểu bang tại Bắc Mỹ không cho phép các trường trung học của họ dạy về thuyết tiến hóa của Darwin ; và ngay vào thời điểm năm 2002 nầy, Tin Lành Việt Nam (phát xuất từ truyền thống thanh giáo và toàn thống Bắc Mỹ) cũng đã từng "lên án tuyệt thông" (sic) những ai trình bày (chứ chưa nói là chấp nhận) thuyết tiến hóa này.

      Có thể nào và làm thế nào bao-dung sự bất-bao-dung của các nhóm Kitô Giáo toàn thủ và toàn thống này ? Tôi thiết nghĩ một số dữ kiện như  tư duy khoa học, giao lưu văn hóa, tôn kính đối thoại, tiến trình trưởng thành tâm lý và tâm linh... sẽ giúp tất cả tìm ra được sự phong phú và đa dạng của sự thật.

      Bên cạnh khó khăn thứ nhất của bao dung do quan niệm độc quyền sự thật như vừa trình bày trên đây, còn có một khó khăn thứ hai là quán tính bất-bao-dung của người Việt truyền thống ("người Việt xấu xí") vẫn thường xuyên và hóc hiểm ưa thích thóa mạ và chụp mũ lẫn nhau. Thái độ bất-bao-dung nầy là sự phản ứng của một tâm thức bị ức bách dồn nén và là dấu hiệu của một bản ngã non yếu (xin xem bài "Người Việt ác độc - Người Việt nhân ái" của tôi trong Thông Luận số 154, tháng 12-2001). Nguyên do cơ bản là cả một lịch sử dân tộc ta bị đô hộ từ bên trong cũng như từ bên ngoài, một cấu trúc xã hội cùng với một nền văn hóa chuyên chế, từ chương, giáo điều, ức hiếp và kìm hãm tâm thức con người mãi mãi trong tình trạng vị thành niên. Có thể nào và làm thế nào chuyển hóa được sự bất-bao-dung của người Việt truyền thống chúng ta ? Về câu hỏi này, tôi xin phép được góp ý trong phần thứ hai kế tiếp theo đây.

 2. Làm thế nào thực hiện bao dung cho xã hội đất nước và cho các thế hệ người Việt trong tương lai ?

      Trong khung cảnh giới hạn của bài viết này, tôi xin sơ thảo đóng góp một vài ý nghĩ về việc thực hiện bao dung trong hai lãnh vực : bao dung trong lãnh vực chính trị xã hội và bao dung trong lãnh vực giáo dục có quan hệ trực tiếp đến quán tính và tâm thức của con người.

      Trong lãnh vực chính trị xã hội, nhân loại ngày nay đang tiến đến những nền dân chủ đa nguyên và đa văn hóa. Nếu quan niệm dân chủ cổ điển đòi hỏi "nhất trí" và không chấp nhận đối lập, thì nền dân chủ đa nguyên hiện đại trái lại không thể không có tiếng nói khác biệt, phát xuất từ những thành phần thiểu số về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và chính trị, thông qua các cấu trúc những đoàn thể, hiệp hội và chính đảng. Và dĩ nhiên điều kiện thiết yếu đầu tiên của một xã hội nhiều thành phần và nhiều tiếng nói như thế sẽ phải là tính bao dung : bao dung bằng cách nhìn nhận, chấp nhận và tôn trọng đối lập và sự khác biệt của đối lập.

      Những điều kiện thiết yếu tiếp theo đảm bảo cho nền dân chủ đa nguyên, nhiều khác biệt và mang tính bao dung như thế sẽ phải là : thượng tôn pháp luật, khả năng đích thực của chính đảng, chịu phê phán trước công luận, trách nhiệm của đảng cầm quyền đối với các đảng và các thành phần thiểu số, trò chơi dân chủ sòng phẳng bằng tự do thông tin và tự do bầu cử có khả năng đưa đến những thay đổi trên chính trường của xã hội.

      Những điều nêu ra trên đây hầu hết đều đã trở nên rất quen thuộc đối với một công dân Việt Nam bình thường, nhưng trên thực tế thì lại đã vẫn không được thực hiện trên đất nước chúng ta. Và đó là trách nhiệm của tất cả mọi người dân ta hôm nay. Nhưng còn một lãnh vực phải thực hiện bao dung cũng không kém phâàn quan trọng : đó là lãnh vực tâm thức của người Việt truyền thống mang đầy quán tính bất-bao-dung, điều mà chúng ta sẽ bàn đến trong phân đoạn sau đây.

      Chúng ta đã nghe nhiều, nói nhiều và cũng đã đích thân kinh nghiệm nhiều về "người Việt xấu xí" truyền thống của chúng ta - trong đó cũng có chính bản thân chúng ta nữa! - với những quán tính bất-bao-dung ác độc và hóc hiểm: đặt điều, nói xấu, thóa mạ, chụp mũ lẫn nhau... Sự kiện này có nhiều nguyên do cá nhân, tâm lý và xã hội. Nhưng một trong những nguyên do quan trọng nhất được các ngành tâm lý học chuyên sâu ngày hôm nay đưa ra : đó là những mặc cảm ức bách và tự ti bị dồn nén nay phải tìm cách phản ứng lại. Những măëc cảm này - như  đã được trình bày trong một đoạn trên - là hậu quả của cả một lịch sử và một nền văn hóa chuyên chế của đất nước ta không làm cho tâm thức cá nhân con người được trưởng thành lên trong quân bình, tự tín và tôn trọng.

      Để chuyển hóa tâm thức bất-bao-dung truyền thống của người Việt chúng ta, tôi thiết nghĩ chúng ta phải bắt đầu ngay ở vị trí mặc cảm của đương sự, bằng cách nhìn nhận, chấp nhận và tôn trọng với tất cả chân thành, tâm cảm (empathie) và không chút lên án (luân lý) bản thân họ trong sự khác biệt của họ. Tự ái (nghĩa tốt), tự trọng và được kính trọng : đó là những giá trị cơ bản và cũng là những quyền cơ bản của con người. Những bước đi tiếp theo sẽ là trao đổi, đối thoại, học hỏi lẫn nhau và cộng tác với nhau trong một số công việc hữu ích và ý nghĩa nào đó.

      Xã hội hiện đại là một xã hội thông tin. Nhưng một xã hội thông tin không nhất thiết là một xã hội thông cảm, lại càng không nhất thiết là một xã hội thông hiểu và thông hiệp. Trong một xã hội nhiều thông tin, nhưng cũng lại nhiều nguy cơ hời hợt, bôi bác, cạnh tranh, định kiến, thủ đoạn, thanh toán lẫn nhau, tôi thiết nghĩ các thêá hệ con em chúng ta cần được giúp đỡ để có được một thái độ cởi mở: cởi mở để cảm thông, cởi mở trước sự thật và cởi mở trong liên đới. Trong một xã hội đa văn hóa, đa tôn giáo, đa chủng tộc và đa truyền thống như xã hội chúng ta ngày hôm nay, không ai có thể độc quyền sự thật. Vả lại tiến trình nhận thức là một tiến trình tương đối, và sự thật mỗi chủ thêå thâu nhận được do đó cũng là những sự thật tương đối. Hiểu được như thế thì xã hội chúng ta ngày hôm nay đã tránh được biết bao nhiêu là thái độ cuồng tín, cũng như đã loại bỏ được biết bao nhiêu là những cuộc khủng bố ngông cuồng và tàn bạo.

      Nhưng nếu nhận thức là tương đối và sự thật nhận thức được cũng là tương đối, điều ấy không có nghĩa cuộc sống là bất chấp, bất kể, tùy nghi, tùy tiện, vô định hướng, rồi từ đó đi đến cá nhân chủ nghĩa và hỗn loạn chủ nghĩa. Xã hội đa nguyên và đa phức ngày nay có nhiều tiềm lực giá trị rất lớn, nhưng cũng có nguy cơ làm cho con người thành những hải đảo cô độc khủng khiếp (đã từng có trường hợp nhiều người chết trong các thành phố lớn trên thế giới mà láng giềng mãi hai ba tuần sau mới biết được).

      Trong phân đoạn  trên, chúng tôi có nói đến thông hiệp và liên đới : đức hạnh bao dung ngày nay còn có nghĩa là dấn thân và liên đới. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, nhà tôn giáo nhân bản Johann-Baptist Metz trong một bài diễn thuyết tại Muenchen có nêu ra hai thách thức lớn đối với con người thời đại : đó là sự lựa chọn đối với người nghèo và lựa chọn đối với kẻ khác (tha nhân) trong tính khác biệt của họ. Hai lựa chọn nầy phải được diễn tả thông qua những hình thức văn hóa cụ thể : thông qua một nền văn hóa chính trị của tự do và công lý triệt để và thông qua một nền văn hóa biết nhìn nhận kẻ khác trong tính khác biệt của họ. Metz nêu ra hai thách thức trên đây trên hai bình diện kinh tế và văn hóa xã hội trong bối cảnh hai nước Đông Đức và Tây Đức, cũng như trong bối cảnh các nước nghèo nam bán phâàn trái đất và các nước giàu bắc bán phần trái đất. Đòi hỏi bao dung như thế còn có nghĩa là đòi hỏi phải chia sẻ đến cả số phận của nhau, số phận với những giá trị trân quý cũng như số phận với những gánh nặng và khổ đau.

      Trong kho tàng văn hóa đông phương, Lão Tử đã có lời dặn bảo hãy "lấy đức báo oán" (ĐĐK 63). Đức nói đây không những là đức độ khoan dung của cảm tình và luân lý ; Đức của Đạo Đức Kinh thiết yếu có nghĩa là "phản diện của Đạo", là chính "Đạo trong tác động": "Đạo sinh chi, Đức súc chi" (Đạo sinh ra vạn vật, Đức bao bọc vạn vật [vì là nguyên lý của mỗi vật, Nguyễn Hiến Lê], ĐĐK 51). Và như thế, bao-dung cuối cùng có nghĩa là đưa kẻ đối tác về với bản thân họ (Identité), về với "Đạo" - "Nguyên Lý của sinh thành, phát triển và hiện hữu".

Trần  Nhân  Đạo (Frankfurt, 5-2002)

Trần Nhân Đạo là bút hiệu một nhà nghiên cứu và triết gia về đời sống tâm linh của con người rất có uy tín trong giới trí thức châu Âu từ nhiều năm nay. Ông sinh hoạt chủ yếu với người châu Âu nhưng cũng hướng dẫn nhiều chương trình văn hóa liên hệ tới Việt Nam.

<Trở về đầu trang>