[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  
Giai cấp tư sản mới tại Trung Quốc

 

Nguyễn Minh

      Trong hai thập niên phát triển vượt bực về kinh tế, một giai cấp tư sản mới đã xuất hiện tại Trung Quốc, với hơn 50 triệu người và một lợi tức bình quân đầu người trên 10.000 USD/năm. Cũng nên biết mứùc lợi tức này tại Trung Quốc tương đương với lợi tức một triệu USD/năm tại Hoa Kỳ, nghĩa là rất lớn.

     Giai cấp tư sản mới này là ai ?

     Đó là những thành phần giàu có mới tại Trung Quốc, tài sản kết sù mà họ có được là do nắm giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ sở kinh tế của nhà nước trong thời mở cửa, hoặc do dám mạo hiểm trong các ngành kinh doanh tư nhân và đã thành công.

     Cũng nên biết dưới thời Mao Trạch Đông, xã hội Trung Quốc chia ra làm ba giai cấp : công nhân, nông dân và trí thức. Giai cấp thương nhân bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, vì bị coi là thành phần bóc lột. Ngày nay sự phân chia này không còn hợp thời nữa, nếu không muốn nói là một sự miệt thị đối với những người đang đưa kinh tế Trung Quốc đi lên bắt kịp đà tiến bộ chung của thế giới phương Tây. Vai trò và sự hiện diện của thương nhân trong sinh hoạt kinh tế và xã hội Trung Quốc không thể đảo ngược được, họ là những thành tố tích cực của một nền kinh tế đang đi lên. Nhưng trong sự hấp tấp nào cũng có sai sót, đó là những người đã và đang lợi dụng chức vụ của mình hay thế lực của gia đình để làm giàu cá nhân, bất chấp quyền lợi của quốc gia và đồng loại đang sống khổ cực trong nước.

     Theo Viện khoa học xã hội Trung Quốc (Bắc Kinh), trong báo cáo mang tên "Nghiên cứu về các giai cấp xã hội Trung Quốc hiện nay" năm 2003, xã hội Trung Quốc được chia ra thành 10 giai cấp. Sự phân chia này dựa theo nghề nghiệp và tài sản sở hữu do vị thế xã hội mang lại, nó phản ánh thực trạng của một xã hội đã bước ra khỏi quỹ đạo của thời kỳ "cách mạng vô sản công nông". Đó là : 1. những người quản lý nhà nước và xã hội (đảng viên đảng cộng sản) ; 2. những nhà quản lý kinh doanh (các cấp cán bộ đảng và nhà nước) ; 3. những chủ nhân xí nghiệp tư nhân (hợp tác với nước ngoài) ; 4. những chuyên gia kỹ thuật ; 5. những công nhân, viên chức bàn giấy ; 6. những nhà công thương nghiệp cá nhân ; 7. những tư chức làm việc trong ngành thương nghiệp ; 8. những công nhân làm việc trong các ngành công nghệ ; 9. những người lao động nông thôn và sản xuất nông nghiệp ; 10. những người không nghề, thất nghiệp và bán thất nghiệp.

     Cũng theo Viện khoa học xã hội nói trên, còn có một cách phân chia khác, thực dụng hơn, dựa theo mức thu nhập và phong cách sống để xếp loại, theo đó xã hội Trung Quốc được chia ra thành 5 giai cấp (cho giống Mỹ) : 1. giai cấp thượng lưu ; 2. giai cấp trung lưu cao cấp ; 3. giai cấp trung lưu trung cấp ; 4. giai cấp trung lưu hạ cấp ; 5. giai cấp hạ lưu. Lối phân chia này cho thấy xã hội Trung Quốc đang tư sản hóa một cách triệt để, đúng hơn là đang vứt vào sọt rác chủ nghĩa vô sản đã một thời làm điêu đứng xã hội.

     Theo hai bản báo cáo trên, quá trình phát triển của xã hội Trung Quốc trong 20 năm qua mang tính thực dụng hơn là ý hệ. Người ta nhìn vào túi tiền (lợi tức) của người đối diện để xác định thứ bậc của người đó trong xã hội.

     Nội dung bài viết này tập trung vào giai cấp tư sản mới ở Trung Quốc, tức "những chủ xí nghiệp tư nhân" (giai cấp 3 trong báo cáo 1) và "giai cấp thượng lưu" (báo cáo 2).

     Năm 2003, những công ty tư bản nước ngoài chiếm 52% tổng sản lượng hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc, trong đó 80% là những công ty có vốn đầu tư của Hoa kiều. Cũng nên biết đại đa số những công ty tư bản nước ngoài tại Trung Quốc đều là của người Hoa ở Hồng Kông (34%), Đài Loan (12%), Mã Lai, Singapore, Thái Lan, Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác. Trong thực tế, hơn một nửa vốn của những công ty tư bản Hồng Kông đầu tư vào Trung Quốc là của Đài Loan (có mặt tại Hồng Kông từ trước 1999). Như vậy có thể nói hơn 30% những công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc là của Đài Loan, trong khi vốn của những công ty Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 8% và các nước Âu Mỹ : 8%.

     Cũng trong năm 2003, ngoại thương của Trung Quốc tăng 35%, đứng hàng thứ tư trên thế giới với 840 tỷ USD. Tổng sản lượng quốc nội (GDP) Trung Quốc là 1.209,5 tỷ USD, đứng hàng thứ sáu sau Mỹ, Nhật, Đức, Pháp và Anh, qua mặt Ý. Lượng tiêu thụ dầu lửa của Trung Quốc đạt tới mức 4 triệu thùng/ngày, đứng hạng thứ hai sau Mỹ. Lượng tiêu thụ các loại nguyên vật liệu khác như than đá, đồng, nhôm, sắt, thép, kẽm của Trung Quốc đứng đầu thế giới do nhu cầu xây cất và chế biến ngày càng tăng. Chính vì thế trị giá những cổ phần các xí nghiệp Trung Quốc được công khai bán trên thị trường chứng khoán New York tăng 59%, đứng đầu tất cả các tỷ lệ tăng trong năm.

     Tuy nhiên, do nguồn đầu tư đa dạng của tư bản Hoa kiều, những tập đoàn tài phiệt mới ở Trung Quốc xuất hiện ra dưới hình thức 5 nhóm sau đây :

     1. Nhóm tài phiệt đầu cơ : hoạt động trong các ngành xây dựng bất động sản, đường cao tốc, đường xe điện tốc hành, thủy điện, dầu khí kết hợp chặt chẽ với các ngân hàng nhà nước, các ngân hàng nước ngoài và 4 ngân hàng lớn của Nhật Bản, trụ sở đặt trong cao ốc Môi Trường (do thành phố Thượng Hải và công ty Mori Building của Nhật Bản cùng hợp tác xây dựng, chiều cao ngang bằng tòa nhà Freedom Tower ở New York).

     2. Nhóm tài phiệt đại lý của đảng cộng sản : còn gọi là "những thái tử đảng", vì do con cháu các vị lãnh đạo cao cấp trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc chủ chốt. Chẳng hạn như công ty của Đặng Bộc Phương, con trai ông Đặng Tiểu Bình, phát triển mạnh nhờ mua bán bất động sản ở các đô thị miền Nam Trung Quốc. Đặng Bộc Phương là người đã từng một thời lánh nạn tại Mỹ nay về đóng đô ở Chu Hải từ sau 1992 khi đường lối "ba đại diện" (cho phép công nhân, nông dân, đảng viên có quyền làm giàu một cách hợp pháp) được ban hành. Chẳng hạn như công ty của hai con trai ông Giang Trạch Dân, được coi là "vua tin học" nhờ kết hợp chặt chẽ với những công ty tư bản Mỹ và Đài Loan nắm giữ thị trường Thượng Hải.

     3. Nhóm tài phiệt trong ngành máy tính và điện thoại di động : đa số những người này là những cán bộ xuất thân từ các viện nghiên cứu trực thuộc bộ bưu điện và bộ văn hóa-thông tin và quân đội. Họ đã làm giàu nhanh chóng nhờ hợp tác với những công ty tư bản Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ và Phần Lan để khai thác thị trường Trung Quốc trong ngành điện tử và truyền tin.

     4. Nhóm tài phiệt phiêu lưu : thành phần này rất là độc đáo, lối làm ăn của họ giống như đánh bạc : được thì ăn hết, thua thì mất hết. Có những tập đoàn thành công như CITIC (đầu tư, đấu thầu, trung gian đổi chác ngoại tệ), Hải Âu (điện gia dụng). Có những tập đoàn thất bại như Đại Ngọ (giám đốc Tôn Đại Ngọ bị bắt hồi tháng 4-2002), Làng Hòa Lan ở Thẩm Dương bị dẹp, giám đốc Chu Chính Cốc (vua thẩm mỹ và bất động sản) ở Thượng Hải bị bắt, cựu giám đốc Vương Tuyết Băng của Ngân Hàng Công Thương Trung Quốc, thân tín của cựu thủ tướng Chu Dung Cơ, cũng bị bắt sau khi ông Chu bị thất sũng.

     5. Nhóm tài phiệt kinh doanh kiểu mới : thành công nhanh nhờ kinh doanh phần mềm (soft) về âm nhạc, điện ảnh, trò chơi điện tử và cung cấp mạng internet như No.com, Sofu.com, Net.tease (trò chơi điện tử kết hợp với cờ bạc), Sword.online, Dangdang (bán sách và CD qua mạng Internet), CTrip (đại lý du lịch trên Internet)...

     Những nhóm tài phiệt kinh doanh kiểu mới của Trung Quốc xuất hiện đa dạng và phức tạp như nấm mọc sau cơn mưa lớn. Nhiều người đã thành công nhờ biết nhìn rộng và xa như hai hãng Bảo Hiểm Nhân Thọ Trung Quốc và Bình An Bảo Hiểm do hợp tác với các công ty của Mỹ. Cũng có nhiều gương thất bại sau một thời bùng phát vì bị coi là đe dọa đến chính sách của đảng cộng sản. Một đặc điểm chung của những nhóm tài phiêït mới này là không cần biết tương lai của Trung Quốc ra sao, miễn sao có thật nhiều tiền bỏ vào túi là được rồi.

     Tuy vậy trong số những nhà tài phiệt mới này, có những người muốn thay đổi sinh hoạt kinh tế của Trung Quốc kiểu phương Tây để cạnh tranh với những quốc gia phát triển nhất thế giới. Thử quan sát trường hợp của những nhà kinh doanh đại diện trường phái của Trung Quốc trong ngành xe hơi và công ty Đại Ngọ.

     Giống như Toyota, Honda ở Nhật, nhóm tài phiệt đầu tư vào ngành sản xuất xe hơi tại Trung Quốc làm đầu tàu kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Đa số những người này xuất thân từ tỉnh Quảng Đông, thành phố  Quảng Châu được ví là "Detroit of China". Tổng số xe hơi được sản xuất năm 2003 là 4,44 triệu chiếc, đứng hạng thứ tư thế giới. Những nhà sản xuất xe hơi lớn nhất là : 1. Xe hơi Đệ Nhất, 2. Xe hơi Thượng Hải, 3. Xe hơi Đông Phong, 4. Xe hơi Hợp Âu Tân Hợp Phì, 5. Xe hơi Trường An, 6. Xe hơi Bắc Kinh, 7. Xe hơi Kim Bôi, 8. Xe hơi Quảng Châu, 9. Công nghiệp phi giới Xướng Hà, 10. Xe hơi Nam Kinh.

     Tập đoàn Đại Ngọ là một trường hợp điển hình khác trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản mới tại Trung Quốc. Ông Tôn Đại Ngọ sinh năm Ngọ (1954), năm nay 50 tuổi, đã thành lập được một cơ nghiệp khổng lồ, Liên Hiệp Công Nông Xí Nghiệp, tự chính mình chứ không do bất cứ một đỡ đầu nào của ai. Bản doanh đặt tại Huyện Trừ Thủy Tinh, Hà Bắc, từ năm 1985 lúc ông Ngọ 31 tuổi. Công ty chủ yếu buôn bán các hàng phân bón nông nghiệp, thức ăn gia súc, nông dược, hạt giống, cây con. Cuối thập niên 1990 ông Ngọ xoay qua bán thêm thực phẩm và lập trường tư thục ở các địa phương. Trong quá trình làm việc, ông Tôn Đại Ngọ thấy nhiều cảnh bất công nên trong bài diễn thuyết tại Đại học Bắc Kinh, tháng 4-2002, ông phê phán chính sách cho vay tiền tệ đối với nông dân và chính sách nông nghiệp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và cho phép báo Strait Times của Singapore đăng lại nguyên văn bài nói chuyện này. Ông còn lập ra một website trang nhà trên Internet để phê phán chính phủ trong chính sách cho vay tiền làm cho 800 triệu nông dân Trung Quốc phải quằn quại trong cảnh lầm than. Theo ông các ngân hàng nhà nước chỉ cho các công ty, xí nghiệp quốc doanh mượn tiền rồi sau chỉ lo đòi nợ hay xử lý những vụ vay tiền không trả khi đáo hạn, trong khi các xí nghiệp nhỏ tư nhân chỉ cần vay một ít tài chánh là có thể phát huy sáng kiến lại bị bỏ rơi. Ông phê phán trong khi các ngân hàng của Trung Quốc không cho các xí nghiệp tư nhân trong nước mượn tiền thì lại sẵn sàng cấp vốn cho các xí nghiệp nước ngoài vay : năm 2000 các ngân hàng Trung Quốc đã cho các công ty nước ngoài vay 32,5 tỷ USD, năm 2001 : 61,8 tỷ USD. Ông khuyến khích dân chúng rút tiền ra khỏi các ngân hàng nhà nước và bỏ vào các hợp tác xã tín dụng tư nhân để cho tư nhân vay. Cũng nên biết số tiền gửi vào tiết kiệm của dân Trung Quốc hồi đầu năm nay đã trên 1.200 tỉ Nguyên. Lo sợ thông điệp của ông Tôn Đại Ngọ gây ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt kinh tế của Trung Quốc, cuối tháng 4-2004, công an đã bắt ông khi định rút 36.000 USD tiền gửi ngân hàng để bỏ vào hợp tác xã tín dụng. Ông Tôn bị kết tội chống lại quốc gia, số tiền gửi tiết kiệm của ông bị niêm phong, website trang nhà của ông bị cắt mặc dù công ty của ông vẫn còn hoạt động.

     Qua trường hợp điển hình này, tương lai của những nhà tư bản mới Trung Quốc còn lắm gian nan. Luật pháp chưa rõ ràng, các cấp chính quyền địa phương có toàn quyền tác oai tác quái đối với những ai mà họ không ưa. Bắc Kinh sợ nhất là sự ra đời của đông đảo «netizen» (dân trên mạng internet) vì không kiểm soát  được. Thêm vào đó những nhà tư sản mới tại Trung Quốc thường tìm cách lách qua mọi cửa ngõ luật pháp để làm giàu. Họ còn mời được người em thứ ba của đương kim tổng thống Mỹ G.W. Bush là Neal Bush làm cố vấn cao cấp cho công ty Quảng Lực Bán Đạo Thể ở Thượng Hải, do Giang Cam Hằng, con cả của Giang Trạch Dân, và Vương Hàn Dương, con cả của Vương Vĩnh Khánh (giám đốc tập đoàn khổng lồ sản xuất plastic của Đài Loan), điều khiển.

     Giới tư sản mới tại Trung Quốc có trở thành một thế lực tư bản lớn trên thế giới không là đề tài của số báo tới.

Nguyễn Minh

(Tokyo)

 

  [an error occurred while processing this directive]