[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Thời sự quốc tế và Việt Nam 

Arafat : thiên anh hùng ca của sự tuyệt vọng 

     Yasser Arafat đã từ trần tại Paris ngày 4-11-2004. Từ trần vì từ nay Arafat không còn biết đến thế giới này nữa. Ông chưa chết thực sự vì thể xác vẫn còn duy trì trong tình trạngï sống nhân tạo, nhưng bộ óc đã hết hoạt động. Người ta vẫn còn phải duy trì tình trạng này cho đến khi giải quyết xong một số vấn đề, đặc biệt là tìm ra người thay thế ông.

     Sinh năm 1929 tại Ai Cập, Yasser Arafat tham gia kháng chiến giải phóng Palestine năm 19 tuổi, thành lập và lãnh đạo tổ chức quân sự Fatah năm 1958, lúc mới 29 tuổi, trở thành chủ tịch Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO) năm 1969. Vinh quang lên tột đỉnh năm 1974 khi ông đọc diễn văn trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc trong quân phục với khẩu súng ngắn bên hông, trở thành lãnh tụ khủng bố đầu tiên và có lẽ cuối cùng đoạt giải Nobel về hòa bình năm 1994, và sau cùng là chủ tịch chính quyền Palestine năm 1996. Uy tín và thế lực của ông sút giảm một cách rõ rệt từ năm 2001 khi ông tung ra đợt intifada (ném đá) chống Do Thái lần thứ hai thay vì chấp nhận giải pháp hòa bình rất thuận lợi mà thủ tướng Do Thái Ehud Barak đề nghị. Có lẽ Arafat đã không thể hành động khác hơn được vì bị các lực lượng cực đoan đe dọa và khống chế. Từ năm 2002, ông bị quân Do Thái phong tỏa trong bản doanh tại Ramallah. Cuối tháng 10-2004, ông lâm bệnh nặng và được chở qua Paris chữa chạy, nhưng đã quá trễ.

     Arafat có lẽ là một trong những người được thế giới nói đến nhiều nhất và lâu nhất của thế kỷ 20. Ông có sức cuốn hút đặc biệt. Cuộc đời ông đầy biến động và sóng gió. Từ lúc thành lập tổ chức Fatah, ông đã là đối tượng ám sát thường ngày của vô số tổ chức kháng chiến Palestine khác trong các cuộc thanh toán đẫm máu để giành nhau vai trò lãnh đạo. Cái gọi là Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO) thật ra gồm hàng trăm nhóm võ trang, chống Do Thái một cách quyết liệt nhưng cũng sẵn sàng tàn sát lẫn nhau một cách dã man để giành quyền chỉ huy PLO. Chính quyền Do Thái cũng coi Arafat là đối thủ nguy hiểm nhất và dồn mọi cố gắng để triệt hạ. Người ta không thể đếm hết những lần mà Arafat bị mưu sát và cũng không thể đếm hết xác các đối thủ mà Arafat giết chết để giành và giữ quyền lực trong tổ chức PLO. Cho đến khi về Palestine làm chủ tịch chính quyền, Arafat không bao giờ dám ngủ hai đêm liền ở cùng một địa điểm. Arafat cũng rất may mắn. Một lần Do Thái cho máy bay chiến đấu được tiếp liệu trên không oanh tạc phá tan tư dinh của ông tại Tunis (thủ đô Tunisia), nhưng Arafat không chết vì không ngủ ở đó đêm ấy. Một lần máy bay của ông bị rớt nhưng Azrafat chỉ bị thương.

     Arafat cũng là một nhà chiến lược chính trị lỗi lạc, có tài hùng biện và biết uyển chuyển. Năm 1988, ông tuyên bố từ bỏ mọi hình thức khủng bố và chấp nhận sống chung hòa bình với Do Thái, chuyển sang đấu tranh chính trị. Chủ trương này đã đưa đến kết quả là ông giành lại được một phần đất Palestine để xây dựng tại đó một quốc gia. Quốc gia này tới nay chưa hình thành được vì Arafat bị suy yếu cả về thể chất lẫn tinh thần (ông mắc bệnh Parkinson). Từ đó ông trở thành con tin của các lực lượng khủng bố quá khích vì bất lực. Ông dần dần mất uy tín và sau cùng bị bỏ rơi. Mặc dù vậy Palestine sẽ không thể tìm được một con người có tầm vóc của Arafat. Sự kế tục ông sẽ rất phức tạp dù ông chỉ còn là một biểu tượng.

     Cuộc đời Arafat là cả một thiên anh hùng ca của một cuộc chiến đấu tuyệt vọng. Không ai có thể phủ nhận sự xuất chúng của Arafat. Có lẽ sai lầm dẫn tới mọi khó khăn khác là ông đã đặt những mục tiêu vượt quá xa những phương tiện mà ông có được. Arafat không sống đủ lâu để nhìn thấy sự ra đời của quốc gia Palestine. Ước vọng cuối cùng của ông là được chôn cất tại thành phố Jerusalem chắc cũng sẽ không được toại nguyện, ít nhất trong một thời gian dài.

     Arafat có lẽ là người anh hùng kháng chiến cuối cùng. Ông chết đi, chủ nghĩa lãng mạn bạo lực cũng chết theo.

 

Fallujah : trận đánh quyết định vận mệnh Iraq 

     Tình hình chiến sự tại Iraq phức tạp đến nỗi người ta không thể biết những gì đã và đang thực sự xảy ra. Điều chắc chắn là tổng thống George W. Bush đã lầm lớn khi tuyên bố hồi tháng 4-2003 là Mỹ và đồng minh đã thắng, phần chính của cuộc chiến đã xong. Thực ra nó mới chỉ bắt đầu. Chế độ Saddam Hussein đã bị đánh gục, nhưng các lực lượng khủng bố Hồi giáo đã thay thế nó với một quyết tâm lớn hơn gấp bội.

     "Sa lầy" có thể là một từ chưa đủ để mô tả tình trạng của Hoa Kỳ hiện nay tại Iraq. Trung bình mỗi ngày có khoảng 100 vụ khủng bố đẫm máu. Chính quyền do thủ tướng Allawi cầm đầu hầu như không kiểm soát được gì hết, quân đội tân lập của Iraq vẫn chưa có khả năng chiến đấu và cũng chưa tin tưởng được vì thành phần khủng bố xâm nhập quá nhiều. Khi một người lính Iraq ra khỏi trại lính để về thăm nhà, anh ta không được phép mang theo vũ khí vì anh ta có thể đào ngũ và trao vũ khí cho loạn quân. Nhưng không có vũ khí thì, nếu thực lòng với chính quyền mới, anh ta trở thành mồi ngon cho quân khủng bố.  Tháng 7 vừa qua, tướng Hashimi, vừa được bổ nhiệm tổng tham mưu trưởng quân đội Iraq trước đó không lâu, bị cách chức vì tình báo Mỹ khám phá ra là văn phòng của ông chuyển tin cho loạn quân ; một thiếu tướng khác bị bắt vì cấu kết với loạn quân. Loạn quân cũng đã thành công trên một điểm quyết định : họ đã gieo kinh hoàng trong dân chúng, làm trí thức, doanh nhân và hầu hết những ai có phương tiện bỏ chạy khỏi Iraq. Những người còn lại, dù có ghét loạn quân, cũng không dám bày tỏ thái độ, đôi khi còn phải miễn cưỡng tiếp tay cho chúng.

     Iraq là cuộc chiến đầu tiên trong đó lực lượng khủng bố sử dụng tất cả mọi phương tiện của khủng bố, không bị giới hạn bởi bất cứ một quan tâm về nhân đạo nào, kèm với một sự dũng cảm điên cuồng chưa bao giờ có. Một trong những đặc điểm của cuộc chiến này là nó cho các chuyên viên quân sự biết hiệu quả tối đa mà chiến thuật khủng bố có thể có.

     Nếu Mỹ và đồng minh chưa tuyệt vọng thì chỉ vì họ có một hy vọng : đó là quyết tâm rất cao của thủ tướng Allawi và ê-kíp của ông. Nhóm người này cũng dũng cảm không kém các đám loạn quân và, với hỗ trợ tận tình của Mỹ, cũng lôi kéo được những người quyết tâm xây dựng dân chủ khác. Dần dần họ cũng đã thành lập được một số đơn vị quân đội và cảnh sát tương đối tin tưởng được.

     Nhờ hỏa lực của Hoa Kỳ, chính quyền Allawi đã vô hiệu hóa được tổ chức loạn quân Mahdi của giáo sĩ Moqtada Al Sadr, buộc đạo quân này phải hạ vũ khí đầu hàng. Cũng nhờ hỏa lực của Hoa Kỳ, họ cũng đã buộc loạn quân Sunni tập trung vào một số địa điểm, quan trọng nhất là thành phố Fallujah. Tại đây, một trận đánh quyết liệt sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới, trong đó lần đầu tiên các tiểu đoàn tân lập của chính quyền Allawi sẽ thực sự tham chiến.

     Trận đánh Fallujah có tầm quan trọng quyết định. Nếu chiến thắng, chính quyền Allawi và Hoa Kỳ đã dứt điểm được ổ đề kháng quan trọng nhất còn lại, giáng một đòn tâm lý trên các ổ còn lại và dần dần tiêu diệt chúng. Nếu không Hoa Kỳ sẽ phải nghĩ đến một kế hoạch triệt thoái.

     Còn một yếu tố khác mà người ta không thể quên : Hoa Kỳ quá mạnh cho nên có thể thắng bất cứ cuộc chiến nào, sau bất cứ sai lầm nào, nếu có quyết tâm và chấp nhận trả giá cần có. Tổng thống Bush vừa tái đắc cử vẻ vang, ông có phương tiện và cũng đủ quyết tâm.

 

Quan hệ Pháp - Việt : Chirac chọn lá bài Hà Nội 

     Tổng thống Pháp, Jacques Chirac, đã thực hiện một chuyến công du dài nhất trong suốt hai nhiệm kỳ làm tổng thống của ông tại châu Á, từ 5 đến 12-10-2004, chỉ để viếng thăm chính thức Việt Nam và Trung Quốc.

     Với Trung Quốc, Chirac chỉ muốn tăng cường chỗ đứng kinh tế và thương mại của Pháp so với trước, vì so với các quốc gia châu Âu khác tại Trung Quốc phần của Pháp trong thị trường này còn quá khiêm nhường (1,4%), tương đương với 4 tỷ USD, đứng hạng 11.

     Với Việt Nam, tổng thống Chirac để lộ một ưu ái đặc biệt : ông muốn được nhìn nhận là người trực tiếp dẫn dắt Việt Nam đi vào quỹ đạo tiến bộ. Từ 10 năm qua, Pháp đã tích cực hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào cộng đồng thế giới và khu vực, gần đây nhất là giúp Việt Nam tham dự những cuộc hội thảo với Liên Hiệp Châu Âu và hỗ trợ đơn xin gia nhập vào Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới. Pháp cũng đã tích cực ủng hộ Việt Nam trong việc ứng cử vào ghế thành viên không chính thức tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

     Cũng nên biết Pháp là quốc gia phương Tây đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam : gần 3 tỷ USD và cũng là quốc gia cho Việt Nam vay tiền nhiều thứ nhì sau Nhật Bản. Hiện nay có hơn 60 đơn vị hành chánh của Pháp từ cấp vùng đến cấp tỉnh, hơn 180 hội đoàn thiện nguyện, hơn 220 trung tâm nghiên cứu và hơn 50 bệnh viện của Pháp đã có những liên hệ trao đổi trực tiếp với những cơ quan chuyên môn của Việt Nam.

     Tất cả những cố gắng này không phải tình cờ, Pháp đặït rất nhiều kỳ vọng vào Việt Nam. Trong thế kỷ 21 này, khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ là trung tâm kinh tế và thương mại lớn nhất thế giới, Pháp bắt buộc phải có mặt trong khu vực này nếu muốn giữ cương vị một cường quốc hàng đầu. Để hiện diện trong vùng này, Pháp chỉ có thể hy vọng vào Việt Nam như một đầu cầu. Các nước khác đã gắn bó với Mỹ và Anh rồi. Nhiều nước nước châu Á khác như Nhật, Đài Loan và Nam Hàn cũng đã phát triển không thua gì Pháp và là đối thủ hơn là bạn đồng hành.

     Trong mục tiêu chiến lược này, gần như tất cả các chính đảng và nhân vật chính trị hàng đầu của Pháp đều muốn thấy Pháp có một chỗ đứng quan trọng trong khu châu Á - Thái Bình Dương. Nhưng hợp tác với chính quyền Việt Nam nào, đó là điều mà chính giới Pháp chưa nhất trí. Ông Chirac và đảng UMP của ông ta chọn lá bài Hà Nội.

     Vấn đề còn lại thuộc người Việt Nam. Chúng ta sẽ rất lầm nếu nghĩ rằng "đã là hữu thì chống cộng", điều này có thể đúng với những quốc gia khác nhưng không đúng với Pháp. Trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam từ 1960 đến 1975, đảng cánh hữu cầm quyền của cố tổng thống De Gaulle đã không ngừng ủng hộ phe cộng sản và tạo mọi điều kiện để phe cộng sản có tiếng nói trên diễn đàn Pháp. Đảng duy nhất ủng hộ phe Việt Nam Cộng Hòa là Đảng Xã Hội. Trong chuyến viếng thăm chính thức Việt Nam năm 1993, cố tổng thống François Mitterrand đã nhiều lần phát biểu "phát triển phải đi đôi với dân chủ và nhân quyền", bất chấp sự bực bội của ban lãnh đạo đảng cộng sản. Người Việt Nam không nên chờ đợi một thái độ như thế ở Jacques Chirac, vì không có.

 

Đảng Cộng Hòa Mỹ thắng lớn 

     Một cách khá bất ngờ, tổng thống George W. Bush đã thắng lớn trong cuộc bầu cử ngày 2-11ười vừa qua. Trái với các cuộc thăm dò dư luận, cho tới vài ngày trước các bầu cử, cho rằng ông có thể thua ứng cử viên đảng Dân Chủ John Kerry, hoặc chỉ thắng một cách khít khao. Bush đã thắng một cách khá rõ rệt, hơn Kerry 3% số phiếu với hơn 3,5 phiếu. Hơn nữa, đảng Cộng Hòa của ông cũng đã gia tăng đa số tại hai viện quốc hội Mỹ.

     Bush đã thắng mặc dù những yếu tố rất bất lợi. Kinh tế Mỹ vẫn còn khó khăn sau hơn 40 năm trì trệ, một tình trạng rất không bình thường vì chưa bao giờ kinh tế Mỹ trì trệ trong một thời gian dài như vậy. Nạn thất nghiệp, 5%, tuy không phải là cao theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn là cao đối với Mỹ, vẫn chưa khắc phục được. Mỹ đã sa lầy trầm trọng tại Iraq sau một cuộc chiến mà lý do chính thức là Saddam Hussein tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt, một lý do đã bị thực tế phủ nhận.

     Thắng lợi của Bush có thể giải thích phần nào ở chỗ Bush đã có một bộ tham mưu tranh cử xuất sắc, biết động viên tích cực cử tri của mình và khai thác những yếu điểm của John Kerry. Tuy nhiên cũng phải nói là hình ảnh của George W. Bush đã có tác dụng quyết định. Ông tỏ ra là một người chân thực, có lý tưởng, có đạo đức và quyết tâm. Nước Mỹ cần một tổng thống như thế vào giữa lúc mà họ đang phải đương đầu với cuộc chiến chống khủng bố và các giá trị truyền thống bị chao đảo. Tổ chức khủng bố Al Qaeda, qua cuộc khủng bố ghê rợn ngày 11-9-2001, đã làm rung động nước Mỹ và đặt ưu tư an ninh lên hàng đầu. Các giá trị đạo đức truyền thống của Mỹ cũng đã bị thử thách lớn trong thời gian qua : một số giám mục, mục sư bị truy tố vì tội dâm ô với thiếu niên, một mục sư được bầu làm quản hạt một địa phận lớn đã công khai tự xác nhận là đồng tính luyến ái, những người đồng tình luyến ái tranh đấu rầm rộ để được kết hôn một cách chính thức, v.v.

     Chính ứng cử viên John Kerry cũng phần nào đóng góp cho thắng lợi của Bush và thất bại của chính mình. Ông tỏ ra thiếu kiên trì và quyết tâm. Hai tháng trước cuộc bầu cử, khi thấy khả năng thắng lợi của mình bị sút giảm, ông đã thay đổi bộ tham mưu tranh cử, thay thế ê-kíp thân cận với gia đình Kennedy, chủ trương tranh cử một cách trang nhã trên những vấn đề kinh tế xã hội, bằng ê-kíp Clinton, chủ trương hạ bệ Bush bằng mọi giá. Đây là một sai lầm trầm trọng. Một mặt tranh luận trên các vấn đề kinh tế xã hội sẽ đặt Bush vào tình trạng khó khăn vì Bush yếu trên các lãnh vực này. Mặt khác tố giác cuộc chiến Iraq sẽ có hậu quả hiển nhiên là Mỹ phải rút lui và chấp nhận thất bại tại Iraq, một điều mà người Mỹ không thể chấp nhận dù họ nghĩ rằng Bush đã lầm khi phát động cuộc chiến.

     Tệ hơn nữa, trong một cuộc tranh cử mà hai vấn nạn quan trọng là quyết tâm để chiến thắng bọn khủng bố và bảo vệ các giá trị đạo đức, Kerry đã vận dụng hai cựu tổng thống có hình ảnh ngược lại : cựu tổng thống Jimmy Carter tuy được kính trọng về mặc đạo đức nhưng nổi tiếng là nhu nhược, cựu tổng thống Bill Clinton rất bê bối về mặt đạo đức.

     Thắng lợi của Bush đặt nước Mỹ vào một tình trạng chiến tranh và buộc Mỹ phải hy sinh nhiều trong thời gian trước mắt, nhưng nó cũng mang lại cho chính quyền Bush sự chính đáng và hậu thuẫn cần thiết để chiến thắng bọn khủng bố tại Iraq và trên thế giới. Nó cũng tăng cường cuộc đấu tranh chống các chế độ độc tài và thiết lập một trật tự dân chủ cho thế giới.

 

Indonesia bước vào kỷ nguyên dân chủ 

     Ngày 20-10-2004, ông Susilo Bambang Yudhoyono đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống Indonesia sau một thủ tục bầu cử và chuyển tiếp kéo dài hơn ba tháng. Ông đánh bại đương kim tổng thống, bà Megawati Sukarnoputri, trong cuộc bầu cử chung kết ngày 20-9-2004. Trước đó ông cũng đã dẫn đầu với 34% trong vòng đầu, vượt xa bà Sukarnoputri. Quá trình dân chủ hóa của Indonesia có thể coi như là đã hoàn tất.

     Indonesia trước thế chiến 2 là một thuộc địa của Hòa Lan. Sau thế chiến 2 được độc lập và do nhà độc tài Sukarno cai trị. Sukarno là một trong những khuôn mặt lớn, cùng với Nehru trong số những người thành lập ra Khối các quốc gia không liên kết chủ trương trung lập. Đảng cộng sản Indonesia, đồng minh của Sukarno, đã khéo léo dựa vào ông để phát triển, dần dần trở thành rất mạnh với hơn ba triệu đảng viên, và khống chế hoàn toàn chính quyền Sukarno nhưng lại không nắm được bộ chỉ huy quân đội. Năm 1965 đảng cộng sản tổ chức đảo chính và tàn sát các tướng lãnh, nhưng để sót tướng Suharto, chỉ huy trưởng lực lượng trừ bị chiến lược. Ông này phản công, nắm được toàn bộ quân đội, đập tan cuộc đảo chính và tàn sát gần một triệu đảng viên cộng sản. Suharto truất phế Sukarno, thiết lập một chế độ độc tài quân phiệt do ông làm tổng thống. Chế độ Suharto sụp đổ năm 1998 sau cuộc khủng hoảng tài chính tại châu Á. Sau một thời gian xáo trộn, Indonesia lập được một chế độ dân chủ chuyển tiếp do ông Wahid, lãnh tụ Hồi giáo ôn hòa nổi tiếng là có đức độ, cầm đầu. Đức độ tỏ ra không đủ để lãnh đạo một nước lớn và nhiều vấn đề như Indonesia, Wahid làm mọi người thất vọng rồi năm 2000 phải nhường chức cho bà Megawati Sukarnoputri, con gái của cố tổng thống Sukarno. Từ sau ngày đó Indonesia có một hiến pháp mới theo chế độ tổng thống. Đây là cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên.

     Yudhoyono là một tướng lãnh, bộ trưởng an ninh trong chính phủ Sukarnoputri, đã từ chức trước khi ra ứng cử. Ông được coi là một người trong sạch và nhiều nghị lực.

     Với Indonesia, nước lớn nhất Đông Nam Á với 240 triệu dân chuyển hóa về dân chủ, châu Á và khối ASEAN vừa thật sự bước vào một kỷ nguyên mới.

 

Dấu vết người xưa 

     Quần đảo Nam Dương (Indonesia) không ngừng tiết lộ những bí mật của nó. Các nhà nghiên cứu khảo cổ của Viện đại học New England (Úc) vừa công bố một phát giác cách đây một năm : họ đã tìm được một sọ người tiền sử rất đặc biệt cách đây 18.000 năm. Về tuổi tác, 18.000 năm không nhiều so với đời sống của loài người, nhưng điều đáng chú ý là giống người này rất đặc biệt : chỉ cao có 1 mét nhưng có tất cả mọi đặc tính của loài người.

     Sọ người này là của một phụ nữ, tìm thấy ở địa điểm cách Bali 600 km về phía Đông. Theo các nhà bác học, đây là sọ của một người thuộc một tập thể đã sống cách biệt với phần còn lại của loài người và đã tiến hóa một cách riêng biệt. Họ sống chung, và tranh đấu để sống, với một loài voi nhỏ và một loại chuột lớn. Giống người này, vẫn theo các nhà bác học, đã bị tiêu diệt vì núi lửa.

     Người Việt Nam  sẽ phải xúc động trước khám phá này vì biết đâu, chẳng phải đây là di tích của tổ tiên mình ? Theo các nhà nghiên cứu địa chất, cách đây 20.000 năm, biển Đông chưa có mà chỉ có một vài vùng biển nhỏ. Người Việt cổ đã có thể đi bộ từ bán đảo Đông Dương sang Philippines và Nam Dương để săn bắt hay trao đổi.

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]