|
Viện trợ ODA
VIỆT
NAM DƯỚI MẮT NGƯỜi NHẬT
Keiko Yoshioka
LTS : Nữ ký giả Keiko Yoshioka
là đặc phái viên của báo Cờ Đỏ (Asahi Shinbum) ở Hà Nội. Trong bài báo ra
ngày 24-7-2004,bà đưa ra một cái nhìn khác về chương trình viện trợ ODA của
Nhật. Trong một số báo trước Thông Luận có nhận xét là Nhật gắn liền ODA với
nhân quyền và chỉ tiếp tục viện trợ ODA khi nào Việt Nam thật sự tôn trọng
nhân quyền.
Trong khi dự toán ngân
sách của chính phủ Nhật về ODA giảm hẳn, phần ODA của Nhật dành cho Việt Nam
trong 5 năm qua lại tăng. Điều này cho thấy Nhật xem Việt Nam là quốc gia có
tiềm năng phát triển kinh tế lớn trong khối ASEAN và Nhật hy vọng Việt Nam
có thể đảm nhiệm vai trò kiềm chế Trung Quốc. Tăng phần viện trợ ODA với lãi
suất nhẹ là một "lợi ích quốc gia" của Nhật.
I. Việt Nam là nơi đầu tư
thích hợp
Cách Hà Nội khoảng 150
cây số về hướng Đông, Hạ Long với thắng cảnh nổi tiếng nhất trong vịnh Bắc
Bộ thường, được gọi là "Quế Lâm trên biển", trải dài ra trước mắt. Cạnh đó
là Cái Lung, hải cảng duy nhất ở miền Bắc mà tàu lớn có thể cập bến được vừa
do Nhật giúp Việt Nam xây xong. Chiếc tàu định kỳ từ Nhật sang Việt Nam, sau
khi đã ghé qua mấy bến cảng ở Trung Quốc, đã lần đầu tiên cập vào cảng mới
này ngày 18-7 vừa qua. Chi phí xây dựng hải cảng tốn khoảng 10 tỷ yen do ODA
của Nhật cho Việt Nam vay với lãi suất nhẹ. Việt Nam cũng đã mượn thêm 30 tỷ
yen để xây vài chiếc cầu mới trong cảng và mở rộng hệ thống đường bộ tới sân
bay Hạ Long.
Cạnh sân bay này là một
khu công nghiệp chế xuất của các công ty Nhật vừa được khánh thành hồi tháng
3-2004, trong đó có công ty chế tạo dụng cụ sành sứ vệ sinh Toto của Nhật.
Hãng này đã bắt đầu đi sản xuất các mặt hàng Toto nổi tiếng chở đi khắp thế
giới. Cho đến tháng 7, hàng xuất phải chở bằng xà lan qua các cảng sông rất
bất tiện. Ông Toshiyori Maya, giám đốc hãng Toto Việt Nam, đã mừng rỡ nói :
"Bây giờ tàu lớn đã vào được rồi, chúng tôi sẽ tích cực sử dụng cảng".
Các xí nghiệp Nhật đã đầu
tư vào "thị trường thế giới" Trung Quốc, không thích tập trung nguồn vốn của
mình vào một cực nên đã xem Việt Nam là nơi đầu tư đầy hấp dẫn. So với các
nước ASEAN, dân số Việt Nam có trình độ giáo dục cao, làm việc chăm chỉ
nhưng lương lại thấp. Chỉ so sánh lương công nghiệp không thôi, tôi thấy
lương cao nhất Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ bằng từ 30 đến 60%
mức lương ở Mã Lai.
Việt Nam lại là quốc gia
đi trước các nước ASEAN khác trong việc ký kết đầu tư với Nhật, đã chỉnh đốn
lại các định chế để nhận đầu tư từ Nhật, trong đó có việc tăng cường bảo hộ
quyền sở hữu trí thức của phía Nhật.
Gần đây Việt Nam cũng đã
cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Cuối tháng 5-2004, thủ tướng Phan Văn Khải
đã hội đàm với thủ tướng Ôn Gia Bảo và cho biết mục tiêu của Việt Nam là sẽ
tăng tổng ngạch mậu dịch với nước ngoài lên gấp đôi vào năm 2010.
Phong trào đầu tư qua
Trung Quốc của các nước ASEAN từ 1995 đến 1997 đã giảm vì cơ sở vật chất kỹ
thuật tại Trung Quốc còn quá yếu. Rút kinh nghiệm đó, ông chủ tịch Hội Công
Thương Việt-Nhật, S. Mitose (Công ty thương mại Sumitomo) hồ hởi nói : "Nếu
viện trợ ODA của Nhật giúp cải thiện môi trường đầu tư (tại Việt Nam), đầu
tư của xí nghiệp tư nhân (của Nhật) sẽ gia tăng".
Ông cục trưởng Cục hợp
tác kinh tế đối ngoại của Bộ đầu tư kế hoạch Việt Nam cũng nói thêm : "Việc
tạo được môi trường thích hợp để xí nghiệp Nhật hoạt động dễ dàng sẽ lôi kéo
thêm các xí nghiệp đầu tư nước ngoài khác".
II. Mượn Việt Nam để kềm chế
Trung Quốc
Từ năm 2000 trở đi viện
trợ ODA của Nhật cho các quốc gia khác bắt đầu sút giảm. Năm 2004 nguồn viện
trợ này chỉ còn 819,9 tỷ yen, giảm 30% so với đỉnh cao nhất năm 1997. Trong
khi đó viện trợ ODA cho Việt Nam với đỉnh cao 105 tỷ yen năm 1999, vẫn duy
trì mức 90 tỷ yen 4 năm sau đó, năm 2003 là 91,7 tỷ yen.
Lý do là vì các nước nhận
viện trợ ODA của Nhật trong khối ASEAN như Thái Lan, Mã Lai đã có mức tăng
trưởng kinh tế cao, không cần viện trợ nữa. Các nước như Lào, Campuchia chỉ
cần viện trợ cho không mà thôi, chưa thể đón nhận viện trợ lãi nhẹ. Năm 2002
khối ASEAN chỉ nhận viện trợ Nhật dưới 50% so với 1999, Trung Quốc trong hai
năm 2001-2002 cũng bị giảm viện trợ đến 43%.
Còn Việt Nam, từ khi được
nhận viện trợ lại từ năm 1992 cho đến 2003, đã nhận tổng cộng khoảng 1.000
tỷ yen từ Nhật. Trong lịch sử hơn 50 năm viện trợ của Nhật, Việt Nam là nước
nhận viện trợ đứng hàng thứ 7 sau Nam Dương, Trung Quốc, Ấn Độ... Riêng tài
khóa 2004, Việt Nam đứng thứ 4 sau Ấn Độ, Pakistan, Iraq.
Cũng nên lưu ý là mục
tiêu của ODA Nhật vừa được tu chỉnh vào tháng 8-2003. Từ trước đến nay mục
tiêu chính của viện trợ là "vì lý do nhân đạo" nay đổi thành "vì lợi ích
quốc gia". Phần mở đầu của Kế hoạch Viện trợ cho Việt Nam của chính phủ Nhật,
đã được sửa đổi hồi tháng 4-2004, nói rõ như sau : "Trong quan hệ ngoại giao
với Trung Quốc của nước ta, Việt Nam là một quốc gia quan trọng vì có biên
giới tiếp giáp với Trung Quốc".
Người ta được biết thêm
là quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa Nhật Bản và Việt Nam, viện trợ ODA của
chính phủ Nhật dành cho Việt Nam trong những ngày tháng tới sẽ càng gia tăng.
Giới ngoại giao của Nhật còn tiết lộ : "Việt Nam đóng vai trò làm thế thăng
bằng trong quan hệ chính trị, quân sự giữa Nhật Bản và Trung Quốc hiện nay".
Nguyễn Minh
tóm lược
(Tokyo)
|