[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Tài Liệu Mật của Đảng Cng Sản Việt Nam:

Thực chất từ đại hội đảng lần thứ IX là vấn đề gì ?

Nguyễn Chí Trung

LTS. Sau đây là một tài liệu mật được phổ biến trên mạng Internet từ một dịa chỉ email có tên là "Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam". Vì không trực tiếp nhận được từ tay người viết, chúng tôi đăng lại nội dung tài liệu này với tất cả dè dặt. Tuy nhiên có nhiều yếu tố cho phép tin rằng tài liệu này có thực. Nguyễn Chí Trung, tác giả bài viết này là thư ký riêng của ông Lê Khả Phiêu. Bài viết cho phép độc giả nhận định về tình hình nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam và tự trả lời câu hỏi mà tác giả đặt ra : "Thực chất là vấn đề gì ?".

     Một chi tiết đáng lưu ý là từ trước đến nay dư luận vẫn cho rằng việc trì hoãn ký hiệp định Việt-Mỹ là do áp lực của hai ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Theo tác giả bài này thì hai ông này không những không chống đối mà còn vận động cho hiệp ước này, người chống đối chính là ông Lê Khả Phiêu.


      Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ đã tác động mạnh mẽ vào xã hội và nội bộ đảng ta, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội phát sinh, phát triển trong đa số cán bộ cao cấp và đảng viên. Đến đại hội đảng lần VI nổi lên từ Trần Xuân Bách, ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương đảng, đã ngóc đầu dậy đòi đa nguyên đa đảng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, thực hành kiểu dân chủ phương Tây, theo con đường tư bản chủ nghĩa. Lúc đó, trung ương và bộ chính trị đảng ta còn mạnh, quật ngã Trần Xuân Bách ngay. Tháng 3-1990, hội nghị Bộ chính trị, Ban chấp hành đã cách chức một số trung ương ủy viên và khai trừ đảng đối với Trần Xuân Bách.

     Bước vào thời kỳ đổi mới, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tư tưởng cá nhân thực dụng… làm cho cán bộ, đảng viên càng sa sút phẩm chất, đảng bị suy thoái. Một bộ phận đồng chí mơ hồ lập trường phương Tây, muốn quay lưng với đảng, với chủ nghĩa xã hội… Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ, ủy viên bộ chính trị, đòi xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa trung lập. Cuối đại hội đảng lần thứ VII, ngày 9-8-1995, Võ Văn Kiệt đưa ra cương lĩnh trình bộ chính trị (dài 30 trang), lúc đó anh (Nguyễn Văn) Linh (đương nhiệm tổng bí thư) nghiên cứu đưa vào báo cáo bộ chính trị. Đến đại hội đảng lần thứ VIII đòi bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, bỏ kinh tế quốc doanh, bỏ hợp tác xã, bỏ "Điều 4 hiến pháp", thực hiện dân chủ triệt để.

     Lúc đó, Nguyễn Mạnh Cầm đưa ra luận điểm "không còn đấu tranh giai cấp". Mỹ không phải là đối tượng chiến lược (kẻ thù) của Việt Nam. Thế giới đang cần hợp tác, đến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau như kẻ thù (đường lối ấy phù hợp với chiến lược Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ).

     Ngày 10-10-1995. Bộ chính trị đưa vấn đề của Kiệt, Cầm nêu trên, ra thảo luận một ngày không xong. Ngày hôm sau đưa ra thảo luận tiếp. Lê Khả Phiêu (chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị, ủy viên bộ chính trị) phát biểu trước. Đương nhiên là đấu tranh quyết liệt với quan điểm sai trái trên đây của Kiệt và Cầm. Sau khi phát biểu xong, anh Linh hỏi ai có ý kiến gì phát biểu thêm thì Lê Đức Anh nói: "Đúng". Anh Linh và bộ chính trị không ai phát biểu gì cả. Kiệt xin lỗi anh Phiêu và nói : "Anh phê phán tôi như vậy là quá đáng", và phân trần : "độc lập dân tộc, xóa chủ nghĩa xã hội, tài liệu đó là anh em họ viết ra, tôi chỉ ký mà thôi". Phiêu đấu tranh tiếp : "Anh nói vậy hóa ra anh là người hai mặt à".

     Ngày hôm sau tiếp tục đưa vấn đề này ra thảo luận, giữa Kiệt và Phiêu đấu tranh qua lại rất căng thẳng. Bộ chính trị cũng không ai có ý kiến gì. Đỗ Mười nói : "Còn khó quá, hãy hoãn lại, sau sẽ thảo luận". Nhưng rồi cũng tạm gác… Tiếp tuần sau đưa ra thảo luận. Ý kiến của Cầm và Mười cũng lừng chừng, bảo Phiêu phát biểu trước. Cầm thấy không ai có ý kiến gì cũng làm thinh. Đến đó, Bộ chính trị dừng lại không có kết luận cuối cùng. Vũ Oanh thì muốn bỏ chủ nghĩa xã hội.

     Đến đại hội 9 Ban chấp hành trung ương khóa VII (từ 16 đến 23 tháng 2-1996), hội nghị Bộ chính trị trung ương thông qua dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng lần thứ VII, một số trung ương ủy viên buộc Đỗ Mười đưa vấn đề của Kiệt, Cầm ra thảo luận lại. Lúc bấy giờ chỉ có một số ủy viên trung ương khu vực miền Trung đấu tranh phê phán quyết liệt quan điểm của Kiệt, Cầm. Các đồng chí ấy phân tích "nếu một quần chúng có quan điểm như Kiệt thì có thể kết nạp vào đảng được không, nếu một đồng chí có quan điểm như vậy có bầu đi dự đại hội đảng, vào trung ương hay không ? Đây là phần xem xét tư cách đưa ra khỏi đảng". Đỗ Mười lại thỏa hiệp đứng ra bào chữa, thanh minh cho Kiệt. Mười cho đó là nhận thức lệch chứ không có vấn đề gì đâu. Đỗ Mười lúc này muốn ổn định nội bộ. Lê Đức Anh vẫn làm thinh. Nguyễn Chản phê phán Cầm là mơ hồ giai cấp : tại sao cho Mỹ là bạn chứ không phải là thù ? Chản phân tích đập mạnh quan điểm của Cầm. Cần tự ái phản ứng, cho Chản là lên mặt dạy đời.

     Bước vào hội nghị trung ương lần 10 trù bị lần 1. Kiệt, Anh bị thiểu số phiếu (Kiệt 20, Anh 60 phiếu), không đủ phiếu ở lại trung ương và đủ điều kiện để loại Kiệt. Nhưng đến hội nghị trung ương lần thứ 11, trù bị chính thức nếu bầu, thì Đỗ Mười quay ngoặt 180 độ : "Yêu cầu Kiệt ở lại Bộ chính trị, chứ một mình tôi không làm nổi".

     Đại hội đảng lần thứ VIII (từ 26-6 đến 1-7-1996), Đỗ Mười : tổng bí thư. Anh, Kiệt, Cầm, Phiêu ở lại Bộ chính trị. Trong hội nghị trù bị, đấu tranh về nhân sự đã diễn ra rất gay cấn. Ra đại hội, anh Linh công khai vạch thẳng hiện tượng tiêu cực, suy thoái trong đảng ở ngay trong Bộ chính trị. Anh Linh nói : "Dột từ trên nóc dột xuống". Đỗ Mười thanh minh : "Mía sâu có đốt, nhà dột có chỗ".

     Họp Ban chấp hành trung ương lần 4 khóa 8 từ ngày 23 đến 29-12-1997 xem xét vấn đề nhân sự cấp cao và thảo luận 11 vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng. Vấn đề thứ 11 là : "Khắc phục tình trạng thoái hóa trong cán bộ, đảng viên", rồi đi đến quyết định một số vấn đề về nhân sự : Kiệt, Anh, Mười còn ở lại hay nghỉ ? Anh Năm (Võ Chí) Công cố vấn đề nghị : "Cả ba nên nghỉ" (nhưng cả ba đều muốn ở lại Bộ chính trị). Vấn đề là chọn tổng bí thư thay cho Đỗ Mười ?

     Lúc đầu thì anh Đồng, anh năm Công giới thiệu Cầm. Nhưng sau đó có nhiều ý kiến về Cầm nên thôi không chọn. Năm Công lại giới thiệu Nguyễn Văn An. Anh Linh thì muốn giới thiệu Nguyễn Xuân Tùng, nhưng Tùng có vụ lộn xộn ở Sài Gòn nên thôi. Sau đó anh Linh xem lý lịch của Phiêu, thấy Phiêu chưa làm bí thư tỉnh hoặc thành phố lớn nào, anh Linh ngập ngừng hỏi Lê Đức Anh xem giới thiệu ai ? (bấy lâu nay ta đã hiểu lầm Anh đưa Phiêu làm tổng bí thư để dễ điều khiển, song không phải như vậy. Vì khi Anh làm chủ tịch nước, Đoàn Khuê làm bộ trưởng quốc phòng, Anh làm phó bí thư quân ủy trung ương nhưng Mười giao hẹn quyền hạn cho Anh. Vì quyền hạn chức bí thư quận ủy trung ương hơn nên Anh muốn làm tổng bí thư để kiêm luôn chức ấy). Sau đó. Anh bị tai biến mạch máu não. Đoàn Khuê và một số cán bộ tích cực ủng hộ đưa Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư để giữ chủ nghĩa xã hội.

     Kiệt, Mười, Anh, mặc dù có ý kiến của anh năm Công đề nghị nghỉ, ba vị cứ bấu víu ở lại. Khi anh Đồng xin rút khỏi cố vấn (cả anh Linh và anh Công cũng vậy), anh nói với Kiệt, Mười, Anh là không ở lại Bộ chính trị thì làm cố vấn. Mười tỏ vẻ phấn khởi. Anh lừng khừng. Nhưng rồi cả ba đều phải rút khỏi Bộ chính trị để làm cố vấn.

     Đến đây, tháng 12-1997, Đỗ Mười chuyển giao chức tổng bí thư cho Lê Khả Phiêu (xem tài liệu riêng). Bộ chính trị lúc này gồm : cũ có Phiêu, Trần Đức Lương, Trương Tấn Sang, Lê Minh Hương, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng. Mới có (Phan Văn) Khải, (Phạm Thanh) Ngân, Lê Minh Triết, Phan Diễn, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, (Đào Duy) Tùng, Thị Mỹ.

     Thế là từ tháng 12-1997 đến đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu đảm nhiệm cương vị tổng bí thư.

     Phiêu làm được nhiều việc, tiêu biểu cho ý chí đấu tranh, kiên định đường lối, dương cao ba ngọn cờ :

     1. Kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

     2. Đối ngoại giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế (hòa nhập chứ không hòa tan).

     3. Đối nội đề ra cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng, tập trung và khắc phục sự suy thoái trong đảng, mục tiêu đấu tranh chủ yếu là chống tham nhũng. Trong vấn đề này Lê Khả Phiêu đã mạnh tay xử lý một số cán bộ ở cấp cao, cách chức phó thủ tướng Ngô Xuân Lộc, cảnh cáo bãi chức Kiêm tổng giám đốc ngân hàng và hàng mấy chục cán bộ cấp tỉnh tập trung ở phía Nam.

     Với tác phong giản dị, chan hòa trong quần chúng, sát dân, xông pha trong bão lũ, giải quyết kịp thời những vấn đề cứu dân trong lúc khó khăn… nói thẳng, phân biệt đúng, sai, có uy tín đối với quần chúng, khôi phục uy tín đảng và mối quan hệ dân với đảng, dân tin đảng.

     Cũng trong thời điểm cuối 2000 đầu 2001 địch và phần tử xấu trong, ngoài nước tung dư luận đòi ta thay đổi đường lối. Mỹ ép ta bỏ Điều 4 trong hiến pháp, đòi gác lại chủ nghĩa xã hội, đổi tên đảng, tên nước, sửa đổi quốc kỳ, quốc ca… Song ta không ngờ và không hề nghĩ tới việc thay đổi đường lối chính trị, tổ chức lật đổ lại chính nằm trong âm mưu của ba anh cố vấn (đến đại hội IX bột phát ta mới hiểu). Thời kỳ đương nhiệm (trước đại hội IX) có mấy hoạt động nổi bật của tổng bí thư Lê Khả Phiêu, và cũng chính những hoạt động này bị ba anh cố vấn lên án :

     - Xử lý Ngô Xuân Lộc (bị Đỗ Mười phản đối).

     - Thành lập tổ chức A10.

     - Hoãn ký hiệp ước thương mại Việt – Mỹ.

     - Thăm Trung Quốc - Hội đàm với GiangTrạch Dân.

     - Thăm châu Âu (có Thị Dung cùng đi trong đoàn).

     - Trực tiếp đối thoại với Bin Clintơn.

 

     Chuẩn bị đại hội đảng IX : Một mặt đưa dự thảo báo cáo chính trị thu thập ý kiến tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, tổng bí thư Lê Khả Phiêu đi sát cơ sở dự Đại hội đảng bộ cơ sở tận chi bộ. Không khí dân chủ tin tưởng, phấn khởi trong đảng và ngoài xã hội tăng cao.

     Đồng thời trong lúc này ba anh cố vấn cũng bàn mưu, tính kế chuẩn bị đảo chính trong đảng trước khi khai mạc đại hội. Họ lập kế hoạch, tạo chứng cớ giả, tập trung mũi nhọn nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu (Phiêu không biết).

     Ba anh cố vấn mớm cho Hữu Thọ (trưởng ban Tư TưởngVăn Hóa trung ương) tung dư luận trong cuộc họp báo tại thành phố Hồ Chí Minh : "Nhiệm kỳ đại hội đảng tới Lê Khả Phiêu nên nghỉ". Thọ phát biểu rất vô nguyên tắc vì Bộ chính trị, trung ương chưa có ý kiến gì về nhân sự đại hội.

     Trong lúc tổng bí thư Lê Khả Phiêu lo chuẩn bị cho đại hội thì ba anh cố vấn ráo riết chuẩn bị vùi dập, vu khống, lật đổ Phiêu. Trực diện vu khống, đả kích, thực hiện mưu đồ đảo chính trong đảng trước đại hội IX khai mạc lần lượt diễn ra như sau :

     - Sáng 10-10-2000 Phiêu mời ba cố vấn họp để thăm dò chuẩn bị nhân sự cho đại hội IX. Phiêu nêu ý kiến một số đồng chí nên rút ra khỏi Bộ chính trị là : Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, Nguyễn Mạnh Cầm, Tùng, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Xuân Giá ra khỏi trung ương, rồi nêu thôi chế độ cố vấn…

     - Cùng lúc này Lê Đức Anh bắt tay Trần Đức Lương, mớm : "Lần này anh sẽ phải làm tổng bí thư". (Lương hí hửng mừng thầm).

     Chiều 10-10 cố vấn ra đòn tấn công đợt 1 : Cố vấn đưa ra đề nghị trẻ hóa trung ương Bộ chính trị dưới 50 tuổi (như vậy thì Bộ chính trị chỉ còn một, trung ương còn 60 người). Nhưng ba cố vấn cảm thấy khó thực hiện, khó có sự đồng tình.

     Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2 : Trong đại hội này Lê Đức Anh đột ngột buộc Lê Khả Phiêu 10 tội :

     1. Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.

     2. Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.

     3. Độc đoán thiếu dân chủ.

     4. Thành lập A10 âm mưu lật đổ nội bộ.

     5. Quan hệ bất chính với gái và quan hệ với gái gián điệp.

     6. Hoãn ký hiệp định thương mại Việt-Mỹ.

     7. Trực tiếp đối thoại với Clin-tơn quá cứng rắn.

     8. Đề bạt Lê Hải Anh là một tên đào ngũ lên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng.

     9. Địa phương chủ nghĩa (Thanh Hóa hóa, Hà Nội hóa, lôi kéo người Thanh Hóa lên trung ương).

     10. Lôi lại vụ Xiêm Riệp.

     Trong lúc này Lê Đức Anh mắng thẳng vào mặt Phạm Thanh Ngân là đồ ngu, và tập trung vu khống Phiêu về tội vô nguyên tắc trong việc thành lập A10 (tổ chức chuyên theo dõi nội bộ) và bán đất, bán biển cho Trung Quốc… làm cho toàn bộ những người có mặt trong đại hội ngơ ngác. Phiêu và Ngân có thanh minh. Cố vấn không kết tội Phiêu được lại buộc Phiêu nhận kỷ luật và bảo : Phiêu phải từ chức ngay. Phiêu bị đột ngột, bất ngờ nên thanh minh vài điểm xung quanh vụ A10 và nói : "Nếu tín nhiệm thì tôi tiếp tục làm, không thì thôi". Sau đó các cán bộ lão thành cách mạng gây áp lực, động viên Phiêu ở lại không nên rút lui…

     Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 2-2001, không kết tội được, chưa đánh bại được ý chí của Lê Khả Phiêu, ban cố vấn phân công nhau đi vận động để tìm kiếm sự ủng hộ của các đặc ủy viên trung ương, ủy viên Bộ chính trị, tướng lĩnh về hưu để lật đổ các đ-c cầm đầu bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, nhưng vẫn tập trung mũi nhọn vào tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

     Ngày 13-1-2001, Đỗ Mười gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Tâm (nguyên ủy viên Bộ chính trị, trưởng Ban tổ chức trung ương cũ) đang ở Hải Phòng, báo sẽ gặp Tâm để thông báo một số tình hình, nhưng Tâm bận. Đến 6-2-2001 Mười mới gặp Tâm (Lê Đức Anh đã cho người thông báo tình hình với Tâm trước), hỏi Tâm có ý kiến như thế nào về những điều đã được Anh thông báo ? Mười phân tích phê phán việc Phiêu quyết định thành lập A10 là sai nguyên tắc, rồi trao cho Tâm một bản án Lê Khả Phiêu dài 7, 8 trang trong đó đặt vấn đề : Phiêu quan hệ trai gái với Thị Hà, Thị Dung là gián điệp Mỹ… Mười còn trao cho Tâm một tấm ảnh nói là : "Ảnh chụp được từ nước ngoài". Mười còn vận động Tâm đòi thay đổi 50% ủy viên Bộ chính trị, nhất là ba người chủ chốt : Phiêu, Lương, Khải và điều Nông Đức Mạnh sang công tác khác. (Xem bản báo cáo của Tâm với Bộ chính trị).

     Đòn tấn công thứ 3. Sau một tháng ráo riết vận động đến 5-2-2001 hội nghị trung ương 11a họp trù bị. Lê Đức Anh chính thức đưa 10 tội của Lê Khả Phiêu ra trước hội nghị : buộc hội nghị tập trung thảo luận đấu tranh phê phán Phiêu về quyết định thành lập A10, cho Phiêu là lộng quyền, vi phạm nguyên tắc nghiêm trọng, định lật đổ trung ương và Bộ chính trị, gây nghi ngờ nội bộ... Anh tiếp tục buộc Phiêu từ chức trước khi khai mạc đại hội IX.

     Vấn đề thành lập A10 như sau : Nguyên từ trước năm 1995 Lê Đức Anh nắm hội đồng an ninh, quyết định nâng Cục II lên thành Tổng cục II (TCII), giao cho nó quyền hạn, nhiệm vụ vượt quá chức năng (thành cơ quan tình báo chiến lược quốc gia) lại làm cả nhiệm vụ của an ninh phản gián. Võ Văn Kiệt ra QĐ-96, sau đó Nông Đức Mạnh ra pháp lệnh thành lập cơ quan phối kiểm tin (gồm CA, TCII, cục bảo vệ Quân Đội).

     Để nắm vững TCII, Lê Đức Anh nhận Nguyễn Chí Vịnh (một thanh niên hư hỏng, con trai Nguyễn Chí Thanh) làm con nuôi, nâng đỡ, ô dù đưa vào quân báo, đề bạt nhanh lên đại tá phụ trách tổng cục phó TCII. Dựa vào thế Lê Đức Anh, TCII ngày càng lộng hành cho nên công tác phối kiểm tin không còn chuẩn xác, nội bộ TCII phức tạp, đưa tin không chính xác và nhiều việc làm sai trái.

     - Ví dụ tên Nguyên, thư ký cho Phan Văn Khải, cùng tên Tô Luyến cục 11, TCII định bắt cóc Võ Thị Thắng, bức cung buộc Thắng phải nhận làm việc cho địch khi Thắng bị địch bắt trong kháng chiến để lập hồ sơ giả trị tội chị Thắng. May là ta đã phát hiện kịp thời chặn đứng lại.

     - Ví dụ khác là, chúng đã đưa một số tài liệu, cán bộ của ta bị địch bắt trước đây đã đầu hàng và nhận nhiệm vụ địch giao. Họ nói tài liệu này do cơ sở điệp báo của ta từ nước ngoài cung cấp. Song thực tế tài liệu đó là ta thu được của địch từ khi giải phóng miền Nam. Trước đó Vũ Chính, thiếu tướng là cục trưởng Cục II (xem thêm tài liệu vương triều Vũ Chính, cha vợ của Vịnh), có đề nghị Lê Khả Phiêu đề bạt Nguyễn Chí Vịnh lên hàm thiếu tướng và đưa vào trung ương nhưng bị Phiêu bác bỏ.

     Trong lúc này, có tên Kế đại tá TCII bí mật lập đường dây viễn thông liên lạc với nước ngoài bị cục bảo vệ an ninh phát hiện. Đứng trước tình hình lộn xộn đó Lê Khả Phiêu họp với Trà, Ngân định thành lập nhóm A10, thành phần gồm TCII, Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục chính trị, thành lập một bộ phận phối kiểm tin địch-ta, tránh tình trạng mạnh ai nấy báo (một việc mà hai nguồn tin đưa ra khác nhau). Cử Trà làm tổ trưởng A10, Trà lại đề cử Ngân làm. Phiêu giao Vũ Chính làm kế hoạch.

     Vũ Chính đưa bản thảo cho Phiêu xem. Phiêu thấy Vũ Chính đề ra nhiệm vụ, quyền hạn A10 quá to. Phiêu xóa đoạn "theo dõi lực lượng cấp tiến trong và ngoài quân đội". Chính về viết lại thành một bản chính theo nội dung Phiêu đã sửa, kèm theo phụ lục hướng dẫn nhưng lại để nguyên không sửa. Chính đưa cho Ngân thông qua. Ngân xem bản chính, không xem phụ lục, Ngân ký chuyển cho Phiêu. Phiêu thấy Ngân ký rồi tưởng đã chữa theo ý Phiêu, Phiêu cũng không xem phụ lục, Phiêu ký. Trong văn bản đề chức danh là "Bí thư quân ủy trung ương" chứ không đề thay mặt quân ủy trung ương.

     Sau khi Phiêu ký, Chính thấy Phiêu sơ hở, sai sót, đem văn bản đó giao cho Lê Đức Anh. Anh chớp lấy lên án là Phiêu lộng quyền, độc đoán, phạm nguyên tắc không qua tập thể quân ủy trung ương. Từ đó quy ra tội như thế là Phiêu chủ trương theo dõi cán bộ cao cấp trung ương, cán bộ trong và ngoài quân đội. Như thế là theo dõi cả Bộ chính trị, mang ý định âm mưu lật đổ, và đòi Ban chấp hành trung ương phải kỷ luật Phiêu, buộc Phiêu phải từ chức ngay.

     Qua đấu tranh thẳng thắn, có một số ý kiến bảo vệ Phiêu, Phiêu chỉ sơ hở về hành chính, không phạm sai nguyên tắc. Phiêu chứng minh bằng cách lấy bản thảo mà Phiêu đã gạch bỏ đoạn "theo dõi thượng cấp" đến "..." mà Chính không sửa khi ký vào bản chính thức. Chỉ có thiếu sót là không xem lại kỹ phụ lục kèm theo, không phải độc đoán mà có họp thường vụ đảng ủy quân sự trung ương (Phiêu, Trà, Ngân) quyết định thành lập A10. (Lúc này Trà cứ ngồi im ậm ừ để một mình Phiêu thanh minh).

     Phiêu bình tĩnh : "Thưa anh Sáu Nam tức Lê Đức Anh), nếu anh nói tôi lộng quyền thì việc lộng quyền ấy đã xảy ra từ năm 1995 khi anh đưa Cục II lên thành TCII, cho nó hoạt động quá phạm vi hoạt động của nó đấy ! Nếu anh nói tôi nghi kỵ thì anh hãy nhớ lại khi anh lâm bệnh tai biến mạch máu não, anh không chịu uống thuốc, không dám ăn. Chị khóc lóc sợ anh chết, chị chạy sang nhà tôi, nhờ tôi động viên bảo anh ăn, uống thuốc. Vậy chính anh mới là người nghi kỵ nội bộ... từ đó".

     Ngày đó không quật ngã được Phiêu về A10 thì đến ngày 6-2-2001 Lê Đức Anh dở thủ đoạn đểu cáng đổ cho Ngân cử người theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng. Ngân thanh minh không có chỉ thị, văn bản nào giao nhiệm vụ đó. Chị Mỹ, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trung ương, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ thành lập cũng như hoạt động của nhóm A10 đều không có dấu hiệu gì là theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng như Anh vu khống. Lê Đức Anh đuối lý quay sang dùng thủ đoạn đê hèn hơn gán cho Phiêu là "Anh rỉ tai cán bộ phụ trách A10 theo dõi". Phiêu phản bác lại...

     Trần Đức Lương, ôm mộng sẽ được làm tổng bí thư (như Lê Đức Anh mớm), trực tiếp chất vấn thiếu tướng cục trưởng Cục bảo vệ an ninh : "Phiêu, Ngân có rủ anh không?" và đe dọa "Nêáu anh không nói tôi kỷ luật anh". Trước hành động bỉ ổi của Lương, thiếu tướng An phản bác vì sự thực không có.

     Lê Đức Anh dùng ngón cuối cùng là gọi Nguyễn Chí Vịnh làm chứng là Phiêu và Ngân có rỉ tai y. Chứng cứ như vậy Phiêu, Ngân thanh minh sao được. Thấy sự thực là chúng vu khống nên hội nghị bỏ ngỏ, cho qua không kết luận gì. Hội nghị trung ương 11a giải tán.

     Sau Hội nghị trung ương 11a, Lê Đức Anh phái Sơn, thư ký riêng, đến từng nhà cán bộ cao cấp lão thành từng là ủy viên Bộ chính trị, ủy viên trung ương, một số tướng lĩnh quân đội về hưu như Chu Huy Mân, Trần Văn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Quyết, Tố Hữu, Đồng Sỹ Nguyên... đến Nguyễn Đức Tâm. Sơn nêu tội Phiêu về vụ A10 và trao bản vạch tội Phiêu dài 6-7 trang để thuyết phục và nói các đồng chí lão thành ủng hộ lật đổ Phiêu. Song tất cả đều khước từ và có đơn tố giác phản bác gửi đến Bộ chính trị và tổng bí thư.

     Đồng thời sau hội nghị 11a việc vu khống, đả kích của ba vị cố vấn dùng để lật đổ, đảo chính trong đảng, trước hết là hạ bệ Lê Khả Phiêu, lan ra khắp nước. Trong cán bộ lão thành cao cấp, nhiều nơi, nhiều cá nhân, tập thể của chi bộ biên thư, kiến nghị dồn dập gửi về Bộ chính trị, ban bí thư, trung ương, bảo vệ đoàn kết, bảo vệ tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lên án cố vấn chủ yếu là Lê Đức Anh, đòi kỷ luật cố vấn, thông báo cho toàn đảng biết không thể bỏ qua. Như vậy trải gần một tháng đến hội nghị trung ương 11b khai mạc vẫn tiếp tục đấu tranh.

     Tấn công Phiêu lần thứ 4. Lê Đức Anh nêu vụ Phiêu đi thăm Trung Quốc, đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất, bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó...

     Sự thật vụ việc này là xuất phát từ phía Trung Quốc, Giang Trạch Dân mời Phiêu sang thăm. Ta thăm dò ý của họ : chỉ tổng bí thư gặp tổng bí thư ? Họ trả lời mỗi bên bốn người : tổng bí thư, thư ký tổng bí thư, trưởng ban đối ngoại trung ương, chánh văn phòng trung ương. Ta cũng muốn nhân dịp này thăm dò thái độ của Trung Quốc đối với Mỹ, đối với chủ nghĩa xã hội. Kế hoạch đi thăm do Ban đối ngoại trung ương làm, Mạnh Cầm thông qua… Khi vào phòng họp, do sơ xuất, Cầm bước vào phòng bị ngăn lại ngay vì không dúng thành phần quy định.

     - Nội dung bàn thảo : ta thỏa hiệp chữa lại cột mốc biên giới ở vĩ tuyến (…) do Trung Quốc yêu cầu. Họ lập luận trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.

     - Về biển : hai bên đấu tranh cuối cùng đã đi đến thỏa thuận xác định ba vùng biển, ở ngoài khi Vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá chung của cả hai bên.

     Quan hệ với Trung Quốc ngày nay rất tế nhị. Ta ở cạnh một nước to, không thể căng với họ vì họ sát nách ta. Khi Lê Đức Anh phê là Cầm không được vào dự là thậm thụt, Phiêu chứng minh kế hoạch đi hội đàm do Cầm thông qua, không dự vì không đúng thành phần do Trung Quốc quyết định.

     Khi họ nói độc đoán về không báo cáo Bộ chính trị, Phiêu chứng minh, có Khải làm chứng. Khải nói : "Lúc đó Phiêu có báo cáo Bộ chính trị", Phiêu đem văn bản ngày 4 có báo cáo với Bộ chính trị, có Lê Đức Anh dự, ngày 28 mới đi (Cầm ngồi đó ậm ừ). Phiêu chứng minh khi về có báo, giở văn bản ngày 1-5, Phiêu báo cáo trong phiên họp Bộ chính trị, tập văn bản có ghi : Phiêu chỉ thị cho Trần Đình Hoan triển khai (Hoan ngồi đó ậm ừ).

     Đuối lý, Lê Đức Anh lại quay sang phê bình Phiêu tại sao tranh chấp với Trung Quốc vùng Biển Đông lại không đưa ASEAN vào ? Phiêu giải thích :"Khu Tư Chính, Tây Trường Sa là thuộc chủ quyền của ta, chỉ tranh chấp với Trung Quốc không dính gì đến ASEAN. Nếu thực hiện đa phương đưa ASEAN vào thì ta không còn chủ quyền hai khu vực ấy. Nên vấn đề này chỉ có song phương, không đa phương, mà trong nguyên tắc đa phương có song phương…". Anh đuối lý.

     Anh tiếp tục quay sang chỉ trích và kết tội Phiêu làm lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại cho Giang Trạch Dân biết ta xác định Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược (kẻ thù) ? Vấn đề này thực chất như sau :

     - Khi Phiêu gặp Phi-đen (Castro) tại Cuba, hai bên thống nhất thế nào cũng phải giữ Trung Quốc lại, đừng để Trung Quốc vượt đà. Phi-đen nói : "Giang Trạch Dân thì được, còn Chu Dung Cơ chưa rõ… cần theo dõi xem sao".

     - Chu Dung Cơ khi sang thăm ta, ngồi trên chuyến chuyên cơ có bộc lộ với ta "năm 1997 đã cho ta là sai", ta cũng không muốn Trung Quốc thỏa hiệp với Mỹ nên nhân chuyến đi này xem Trung Quốc xác định đối tượng chiến lược như thế nào.

     - Qua đàm đạo Giang Trạch Dân nói : "Mỹ chĩa hai tay tôi phải chĩa hai tay, phải cảnh giác, phải nắm chắc lực lượng vũ trang". Rồi Dân rỉ tai Phiêu : "Mỹ là đối tượng chiến lược của Trung Quốc, không phải là đối tác". Do đó Phiêu mới nói : "Chúng tôi vẫn coi Mỹ là kẻ thù". Chứ không phải cố ý làm lộ bí mật quốc gia gì cả. Các cố vấn im.

     Họ quay sang tấn công đòn thứ 5, mạnh hơn. Lê Đức Anh, Đỗ Mười xúm nhau tố Phiêu quan hệ với gái gián điệp, tình báo Mỹ khi đi công tác sang châu Âu : Thị Hà, Thị Dung và một phụ nữ khác nữa, đồn là tình báo của Mỹ và nước ngoài. Đỗ mười đưa bức ảnh ghép Phiêu và Hà, một bức Phiêu ngồi cạnh Thị Dung ở Pháp để làm chứng.

     Sự thực về Phiêu quan hệ với Thị Hà như thế nào ? Ra sao ?

     - Thị Hà là con gái của Đặng Kinh ở Hải Phòng, trong chiến tranh Kinh là thủ trưởng của Phiêu. Trong chiến dịch tiến công vào thành cổ Quảng Trị khi địch oanh tạc vào vị trí của Kinh thì Phiêu lấy thân mình che chắn cho Kinh. Từ đó gia đình Kinh gắn bó với Phiêu. Thị Hà và Phiêu có cảm tình, dan díu… Nhưng khi Phiêu về Tổng cục chính trị, vào Ban chấp hành trung ương có đưa vấn đề này ra kiểm điểm. Phiêu đã cắt quan hệ, các cố vấn, cơ quan quân sự (có lẽ là Cục II) ghép ảnh Phiêu với Hà rồi đưa cho vợ Phiêu xem để kích động (thật bỉ ổi !) rồi đưa ra hội nghị trung ương vu khống Phiêu. Nhưng Thị Hà thời kỳ Phiêu làm tổng bí thư, vẫn rêu rao khoe khoang tổng bí thư Phiêu vẫn còn quan hệ yêu đương với cô ta. Phiêu đành chịu. Sự việc gác lại đó. Nhưng Hà đâu có phải là gián điệp.

     - Thị Dung là nhân viên mà tổ chức kinh tế, đơn vị cử đi trong phái đoàn Phiêu sang châu Âu. Trong lúc đang hội đàm tại Pháp, có cả đoàn ta, đoàn quốc tế, có Dung đi cùng. Cố vấn sử dụng (TCII) in ảnh bôi lem mặt những người xung quanh chỉ còn lộ ra hình Phiêu và Dung. Họ đưa ra trước hội nghị trung ương (quá bỉ ổi !) để chứng minh Phiêu ra nước ngoài lén lút quan hệ với gái gián điệp. Lúc đó Nguyễn Mạnh Cầm không còn nén được nữa bật đứng lên phản bác : "Hôm đó có tôi ở sau lưng anh Phiêu, tại sao xóa mặt tôi đi". Thế là thủ đoạn vu khống bị lật tẩy hoàn toàn.

     Chưa dừng ! Nguy hiểm hơn. Họ lại quay sang tấn công đòn thứ 6. Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt (xuất chiêu đủ cả ba) cho rằng Phiêu trực tiếp đàm thoại với Clin-tơn như vậy là quá cứng rắn, quan hệ với Mỹ sẽ khó khăn…

     Võ Văn Kiệt phát biểu với giọng thống thiết : "Đồng  chí Phiêu làm như vậy thì công lao chúng tôi đặt quan hệ với Mỹ lâu nay (mở cấm vận, quan hệ bình thường, các nước của Mỹ đầu tư, cho vay) coi như công dã tràng xe cát ? Rồi đây sẽ hạn chế đầu tư, cho vay, công cuộc xây dựng kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ khó khăn (luận điệu này đương nhiên đã tác động tâm lý làm nhiều người đâm lo, có sức thuyết phục rộng rãi các nghành, các cấp làm kinh tế); thật là nguy hiểm và nguy hại nếu đảng ta không kịp thời đấu tranh".

     Còn Đỗ Mười, Trần Xuân Giá hùa vào phê phán quyết liệt Lê Khả Phiêu, lên án tiếp tội lỗi của Lê Khả Phiêu làm trì hoãn ký kết hiệp định thương mại. Cố tình gây cản trở Mỹ và các nước mở rộng đầu tư.

     Hai sự kiện hư thực, đúng sai như thế nào ?

     1. Việc tiếp xúc với Clin-tơn tổng thống Mỹ. Khi Clin-tơn tiếp xúc và nói chuyện với giáo viên, sinh viên tại trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội với giọng trịch thượng, tiếp xúc với một số nơi nhằm xóa nhòa tội ác, đánh đồng ta như Mỹ. Chính Phiêu muốn tỏ cho Clin-tơn biết rằng : "Lịch sử là không thể phủ định, không thể xóa nhòa, không thể đánh đồng người bị xâm lược với kẻ đi xâm lược, lên án Mỹ chia cắt nước ta, gây chiến tranh xâm lược ta chứ không phải nhân dân ta gây chiến", làm cho Clin-tơn không được chơi trội, gây mơ hồ ảo tưởng… Nội dung ứng xử của Phiêu đã được cán bộ, đảng viên nhất trí, các cụ hưu trí và nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, hả dạ. Tại sao ba cố vấn và Giá lại buồn, lại lo và phê phán ?

     2. Vấn đề ký hiệp định thương mại Việt Mỹ. Ban đầu Mỹ thảo hoàn toàn bằng tiếng Anh. Nguyễn Tấn Dũng và Mạnh Cầm ở lại Mỹ vội ký tắt rồi mang về báo cáo với Phiêu và ngày 27-7-1999 (sau này ta mới biết lúc ấy Cầm và Dũng xin cho con học ở Mỹ, được Mỹ nhận cấp học bổng). Phiêu ngầm đưa cho các trí thức chuyên gia kinh tế tham khảo và hỏi ý kiến anh Giáp, vì trong văn bản có 40 điều hoàn toàn có lợi cho Mỹ, bất lợi cho ta. Phiêu đưa Bộ chính trị, đa số đồng ý hoãn, chưa ký.

     Ngày 1-4-1999 Lê Đức Anh thúc ép Phiêu, bảo Phiêu phải cho ký. Phiêu bảo phải chờ ý kiến tập thể Bộ chính trị. Lê Đức Anh hùng hổ nói "Dù có tập thể cũng phải ký". Phiêu bực mình đáp "Anh nói như vậy là vô nguyên tắc". (Sau này ta mới biết con trai Lê Đức Anh được Mỹ cấp học bổng du học tại Mỹ). Trong khi họp Bộ chính trị để bàn thì chỉ có Tấn Dũng (phó thủ tướng) và Cầm có ý kiến phải ký. Phan Diễn ngập ngừng. Phiêu gạn hỏi Diễn "Anh đồng ý ký hay không ?". Diễn ấp úng : "Ờ, ờ... thì ký".

     Sau đó ta buộc Mỹ phải xuống thang, chịu sửa lại một số điều khoản bất lợi cho ta, ta mới ký bằng cách gợi ý cho tổng thống Pháp Chirac mời cho ta gặp Mỹ tại Pháp trong chuyến công cán châu Âu. Phiêu gặp Clin-tơn qua hội đàm, ta hé mở ý tứ mập mờ cho Clin-tơn ngầm hiểu "nếu Mỹ không chơi với ta thì ta chơi với EU (Liên Hiệp Châu Âu), Nhật, Trung Quốc". Từ đó Mỹ sửa và ta chịu ký.

     Trong Bộ chính trị thừa nhận việc ta hoãn ký hiệp định thương mại Việt-Mỹ, ứng xử với Clin-tơn là đúng. Nhưng khi cố vấn đưa ra hội nghị 11b phê phán, quy tội cho Phiêu thì tất cả Bộ chính trị ngồi đó làm thinh để một mình Phiêu đối đáp (tại sao ?). Chứng tỏ ban cố vấn có liên quan thao túng Bộ chính trị.

     Chưa thôi ! Họ tập trung vơ vét ra đòn thứ 7. Họ quay sang phê phán Phiêu tại sao sử dụng Nguyễn Chí Trung làm thư ký riêng. Họ vu khống là lý lịch Trung không rõ, nào là thành phần trên, gia đình thuộc lớp trên, quan hệ chính trị xấu (trước kia) nhưng không phải vậy. Đến khi chị Mỹ phát biểu tổng hợp và kết luận ba vụ đều là vu khống hiểm độc của ban cố vấn. Chị Mỹ chất vấn : "Những vấn đề các cố vấn đưa ra là gốc ở đâu ? Vấn đề A10, vấn đề Trung Quốc, vấn đề quan hệ với gái gián điệp chả phải là vấn đề gì cả. Chị Mỹ cho là vu khống".

     Họ lại quay sang vu khống chị Mỹ (chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương). Lê Đức Anh trực tiếp tố cáo chị Mỹ là ăn hối lộ với Lê Minh Hương. Đồng chí Minh Hương vặn lại : "Anh nói chắc không ?". Lê Đức Anh nói chắc, giả đò về lấy sổ tay ra có ghi mấy dòng để chứng minh. Hương báo với Phiêu. Phiêu cử người đi xác minh là không có. Hỏi lại Anh. Anh từ chối là không có tố cho chị Mỹ. Hương nói : "Chính anh báo với tôi mà, anh Anh ?".

     Những vấn đề khác như đề bạt Lê Hải Anh, vấn đề Xiêm Riệp, địa phương chủ nghĩa đều là chuyện vụn vặt, hội nghị không ai bàn đến làm gì. Cuối cùng hội nghị 11a, 11b đều không có cơ sở, lý do gì để kết tội, thi hành kỷ luật đối với Lê Khả Phiêu.

     Phiêu còn hai việc tồn đọng khó thanh minh : một là, vụ rỉ tai Vịnh, hai là, việc quan hệ với Hà.

     Nhưng còn nhiều vấn đề đối với mấy ông cố vấn mà chưa nói được hết. Ví như :

1. Vấn đề lịch sử chính trị của Lê Đức Anh :

     - Cho con đi học ở Mỹ. Trước đây Anh đồng ý một bộ phận chuyên môn của Mỹ ở lại Bệnh Viện 108 để nghiên cứu (Đoàn Khuê và Lê Khả Phiêu bác bỏ).

     - Tình hình bạo loạn ở Tây Nguyên thì Anh nói là chuyện trẻ con, chúng nó làm gì lấy được Tây Nguyên. Phiêu lại nói : "Đó là vụ bạo loạn chính trị đằng sau là Mỹ, dẹp ngay".

     - Lê Đức Anh nhận tiền Đặng Đình Loan (phần tử xấu), tên Bích (phần tử yếu kém bên Bộ công an), tên Tư Không ở thành phố Hồ Chí Minh (cũng loại xấu) đưa vào làm việc ở bộ phận thư ký của Phiêu, bị Phiêu bác. Trước đây Lê Đức Anh sử dụng và hậu đãi Trần Đình Hoan để y làm loa nói xấu anh Giáp. Lê Đức Anh còn thuyết Ngô Hoàng, thứ trưởng giao thông, nhận thằng Hà là con trai của mình làm vụ trưởng quốc tế dần dần vào trung ương. Hoàng xin ý kiến Phiêu, Phiêu bác (Lê Đức Anh giận lắm). Sau đó Lê Đức Anh đề nghị đưa Hà lên phó giám đốc Đại Học Bách Khoa, Phiêu nói không được.

     - Lê Đức Anh đưa toàn bộ phần tử xấu vào cương vị trọng yếu trong tổ chức đảng và nhà nước, còn ép đưa một số kém vào trung ương. Khi Anh đòi đưa Kiên (tư lệnh Quân Khu 7) ra thay Trà, Phiêu không đồng ý. Anh lại giữ Trà ở lại bộ trưởng Quốc Phòng. Anh phê bình Phiêu là không tình nghĩa với Trà (Phiêu định đổi người khác thay Trà). Lê Đức Anh không từ ngõ ngách nào đều vu khống, moi móc nói xấu vấy lỗi cho đồng chí Lê Khả Phiêu.

     - Còn việc con trai Lê Đức Anh do Mỹ nuôi học bên đó bây giờ ta mới biết, và Lê Đức Anh được kết nạp vào đảng năm nào, ngày nào, ai giới thiệu, ở đâu ? Lại có tuổi đảng 60 (nghe nói có cụ đã ra tận Bộ chính trị trung ương tố cáo Anh).

     2. Còn Đỗ Mười tại Hà Nội có ông bạn thân thiết hỏi tại sao vừa rồi anh làm như vậy (vu khống lật đổ Phiêu), Mười trả lời : "Nó lật tôi, tôi lật lại". (Một câu trả lời "tuyệt hay" của vị nguyên tổng bí thư, nguyên cố vấn Ban chấp hành trung ương). Khó có câu nói nào ngắn chỉ 6 từ mà lột tả được đúng, chính xác cả khẩu khí và bản chất thực của Đỗ Mười, đồng thời cũng là khái quát bản chất, khẩu khí thực của đại đa số những vị có chức có quyền trong Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay như vậy). Rồi Mười lại trách : "Bấy lâu nay vợ chồng Phan Văn Khải đến thăm tôi chứ Phiêu nó có đến thăm tôi bao giờ đâu !". ( Khi Phiêu xử lý Ngô Xuân Lộc, Mười phản đối vì Lộc ân tình với Mười, do Mười cất nhắc lên. Chính Mười cắm Phạm Thế Duyệt vào Bộ chính trị, sau khi thôi bí thư thành ủy Hà Nội lại làm thường trực Bộ chính trị...

     Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 12 khai mạc gồm 165 đoàn đại biểu (ta hy vọng các đoàn đại biểu địa phương lên sẽ thay đổi cục diện. Lê Khả Phiêu sẽ được đa số ủng hộ tái cử). Lê Khả Phiêu chưa tuyên bố rút thì Trần Xuân Giá đã phê phán Phiêu quyết liệt về việc hoãn ký hiệp định thương mại và cứng rắn với Clin-tơn... khi được các nước đầu tư để phát triển kinh tế (đã làm lung lạc các đại biểu về dự dại hội). Tiếp đến Mai Thúc Lân lên gân sỉ vả Lê Khả Phiêu : "Anh là đồ lật lọng. Tại sao trước đây anh nói rút lui... bây giờ lại không rút tên trong danh sách...". (Trước hội nghị trung ương 12, Anh mời Lân đến dùng cơm thân mật và Anh nói với Lân : "Lần này anh sẽ vào Bộ chính trị và làm chủ tịch Quốc Hội". Lân hí hửng quay sang chống Phiêu).

     Khi vào chương trình ứng cử vào Bộ chính trị trung ương, trong 165 đoàn đại biểu thì có 155 đoàn giới thiệu Lê Khả Phiêu. Song lấy phiếu thăm dò cá nhân (sự thật họ làm sao không rõ do Phạm Thế Duyệt chủ trì), họ công bố chỉ có 155 đại biểu (trên tổng số hơn một ngàn) giới thiệu Lê Khả Phiêu ?

     Đến lúc này Phiêu tự thấy nếu bầu cử trúng vào trung ương cũng thấp, vào Ban bí thư, Bộ chính trị càng khó. Nếu trúng cũng khó làm nên Phiêu rút ra cho an, bằng cách ủy nhiệm cho đồng chí Phan Văn Khải thông báo Phiêu rút khỏi danh sách đề cử.

     Đến giai đoạn bầu tổng bí thư. Danh sách dự kiến đưa ra : Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh. Nguyễn Minh Triết phản đối Trần Đức Lương. Triết nói : "Ở miền Nam, miền Trung không ai tín nhiệm anh Lương đâu". (Gần đây vợ chồng Lương sửa lại nhà ở trên một tỷ, còn chuyện gì nữa mà Triết chỉ trích Lương ta không rõ). Thế là chỉ còn lại một mình Nông Đức Mạnh. Mạnh từ đầu chí cuối luôn từ chối vì trình độ năng lực. Nhưng khi Mạnh tham khảo ý kiến một số đồng chí lão thành trung kiên thì các đồng chí ấy khuyên Mạnh : "Nếu tình huống xấu thì anh phải đứng ra nhận". Mạnh mới nhận đề cử vào cương vị tổng bí thư.

     Thế là mưu đồ đảo chính Phiêu thành công, ban cố vấn, đồng thời ghế cố vấn của các vị cũng bị xóa bỏ. Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt bị lực lượng quần chúng chỉ trích, cố xin lỗi theo kiểu đỡ đòn xuê xoa. Còn Lê Đức Anh nói tôi làm vậy là để tự kiêu binh, Lê Đức Anh còn rất ngoan cố.

     Đến đây ta có thể tạm kết luận : rõ ràng Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương đều bị ban cố vấn vừa khống chế vừa thao túng, là do các cố vấn vừa lộng quyền vừa vô nguyên tắc và quá cá nhân. Bởi vì nhiều vấn đề Phiêu bị vu khống vô nguyên tắc. Nhiều người trong Bộ chính trị biết và thấy bị oan nhưng không dám đứng ra bênh vực, minh chứng cho Phiêu mà ngồi làm thinh như Phạm Văn Trà (vì có đến 5 tòa nhà, 3 bà vợ), quân đội không thích, bị kỷ luật khiển trách (đưa lên đài) thế mà vẫn cứ thừa nhận là đủ tư cách đại biểu bầu vào trung ương !

     Nguyên nhân sâu xa từ đâu ?

     - Đó là vấn đề đấu tranh giữa hai quan điểm và hai đường lối. Đỗ Mười thỏa hiệp với Võ Văn Kiệt từ đầu.

     - Lê Đức Anh lộng quyền muốn thống lĩnh quân đội, biến quân đội theo ý đồ riêng của mình, xích gần với Mỹ (bởi vì lịch sử chính trị của Anh còn mờ ám, không phải là đảng viên).

     - Sau Võ Văn Kiệt là Trần Bạch Đằng có quan hệ rất phức tạp.

     - Mỹ đang hô hào hỗ trợ muốn ta trượt nhanh vào cải cách tư nhân hóa. Ta hiện đang xoay nền kinh tế theo hướng đó. Thực tế là đang đẩy mạnh cổ phần hóa... Vấn đề đầu tư cho kinh tế quốc doanh trước đây gần một ngàn mấy trăm tỷ nay chỉ còn 96 tỷ thì còn làm ăn gì được nữa? Nền kinh tế của ta đang có nhiều cơ hội hội nhập và cũng đầy thử thách cam go.

 

Kết luận

     Phải chăng đánh đổi Lê Khả Phiêu là đánh đổi đường lối chính trị, tổ chức, đánh đổi ngọn cờ : độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     Đây là cuộc đấu tranh một còn một mất giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa của đảng ta. Bởi vì lực lượng hữu khuynh đang chiếm đa số trong đảng. Số tích cực, kiên định đường lối xã hội chủ nghĩa chỉ chiếm 1/3 trong Bộ chính trị, 1/3 trong trung ương, 1/3 dưới chi bộ và các cấp.

     Nền nhà ta chưa vững chắc, tư tưởng chính trị chính thống của ta chưa kiên định, nền kinh tế thị trường luôn có hai mặt.

     Những sự kiện tóm lược trên đây là tình hình đã qua, quá đau lòng và khó hiểu.

     Ta mong rằng từ nay về sau và mãi, không xảy ra và thực hiện đúng di chúc Bác Hồ.

Tóm lược xong đêm 21-7-2002

Nguyễn Chí Trung

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]