VIỆT
NAM: CƠN SỐT PHẬT GIÁO
Hai
lãnh tụ Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ đã
làm lung lay Chế độ
Phạm
Trần
Hoa
Thịnh Đốn.- Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam
đang vất vả đối phó
với trận bão Phật giáo tấn công bất ngờ
trước Tết Nguyên Đán
Giáp Thân , sau khi Tăng thống Thích Huyền Quang, bất chấp ngăn
cấm, làm sống lại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
(GHPGVNTN) sau 25 năm bị bức tử.
Việc
này diễn ra có lớp lang từ Chính
phủ tới tổ chức Giáo hội
Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) của Nhà nước thành lập từ năm 1981.
Cuộc
phản công đặt trọng tâm bác
bỏ hai Quyết nghị của Hạ
viện Hoa Kỳ ngày 19-11-2003 và của Nghị viện
châu Âu châu ngày
0-11-2003 lên án Chính phủ
Cộng sản Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo và đàn áp,
khống chế một số Nhà
Lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất,Thiên Chúa giáo,
Tin lành và Phật giáo Hòa Hảo.
Ngôn
ngữ biện minh của phía Chính phủ và
GHPGVN gần giống nhau, chỉ khác ở điểm quan trọng là “có
hay không sự tham gia vào GHPGVN của Cố Đức Tăng Thống Thích Đôn
Hậu năm 1981 ?”
Phía
Nhà nước, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho rằng cả hai
bản Nghị quyết đều “sai trái, can thiệp vào nội bộ của
Việt nam và Giáo hội Phật giáo
Việt Nam.”
Dũng
lập lại điều đã nói đi nói lại nhiều lần trước đây
rằng: “Ở Việt Nam quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo
của công dân được quy định rõ trong Hiến pháp và được đảm
bảo trên thực tế.”
Nhưng
đối với 409 Dân Biểu Hạ viện Mỹ và tất
cả 626 Dân Biểu của Nghị viện châu Âu thì thực tế không
phải như vậy.
Họ
đã nhìn vấn đề có tự do tôn giáo hay không ở Việt Nam bằng
con mắt nhân quyền và nhân bản, trong khi Nhà nước Việt Nam và các
Nhà Lãnh đạo GHPGVN lại quan niệm quyền này chỉ dành
cho những ai chịu tuân hành theo Nhà
nước và đồng ý biến tổ
chức Tôn giáo thành một Đoàn thể Chính trị và Xã hội đặt dưới
quyền chỉ huy của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam do Đảng lập ra.
Nghị
quyết của Hạ viện Mỹ , ngược lại đã nhìn nhận vai trò lãnh
đạo GHPGVNTN của Tăng thống
Huyền Quang và Hòa thượng Quảng Độ. Họ
đã lên tiếng :”Khuyến cáo Chính phủ Việt Nam tôn trọng
quyền của các tổ chức tôn
giáo độc lập được hội họp, thờ cúng, hoạt động, và thực
hành niềm tin của họ phù hợp theo bản Hiến pháp của Việt Nam
cũng như các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết.”
Bản
Nghị quyết cũng đòi Chính
phủ Việt Nam phải :“ Trả
tự do cho tất cả những công dân
bị cầm tù hay quản chế vì đã thực hành tín ngưỡng hay vì phát
biểu công khai ủng hộ tự do tôn giáo...Khuyến cáo Quốc hội thông qua, và
Tổng thống ký ban hành Đạo luật Nhân quyền để phát triển
tự do và dân chủ tại Việt Nam....”
Những
điều khoản về Nhân quyền
đã được Hạ viện chấp thuận mấy tháng trước đây nằm chung
trong Dự Luật HR1950 quy định việc chi tiêu đối
ngoại của Bộ Ngoại giao Mỹ. Dự
luật này đang chờ Thượng
viện biểu quyết nên chưa thể biết số phận ra sao. Tuy nhiên,
Việt Nam – từ 5 tháng qua
– đã không ngừng kết án những Dân biểu Mỹ đệ nạp các điều
khoản về Nhân quyền như
cố tình xen lấn vào nội bộ của Việt Nam. Hà Nội đe
dọa rằng, nếu được Thượng
viện chấp thuận, việc này sẽ có tác hại nghiêm trọng đến liên
lạc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Trước
đây Dự luật tương tự
đã không được đem ra thảo luận khi Đảng Dân chủ nắm
đa số tại Thượng viện nhưng nay quyền đa số thuộc về phe Cộng
hòa. Điểm khác quan trọng
với Dự luật trước là
lần này, khoản về Nhân quyền Việt Nam không đứng riêng như
một Dự luật độc lập mà được Hạ viện
nhập chung vào
các điều khoản khác của Luật
Ngân sách của Bộ Ngoại giao nên không thể tách riêng ra.
Tuy
nhiên Thượng viện có quyền không thảo luận hay đưa ra một Dự
Luật chi tiêu đối ngoại không có
khoản về Nhân quyền Việt Nam. Trong trường hợp này, sự
quyết định sau cùng thuộc về liên Ủy ban của hai Viện Quốc
hội khi hai bên thương thuyết để đi đến kết luận chung cuộc
cho Dự luật.
Đằng
nào, thua hay thắng, Hà Nội cũng chưa thể ăn ngon ngủ yên chừng
nào Dự luật chưa có kết quả cuối cùng.
Trong
khi đó Nghị quyết của
Nghị viện châu Âu cũng tập trung lên án hành động đàn áp Tôn
giáo của đảng CSVN nhắm vào GHPGVNTN, những người Thiên chúa giáo
miền núi (miền Bắc và Cao nguyên miền Nam), Phật giáo Hòa Hảo
v.v.... Các Nghị viên còn : “Yêu cầu chính phủ Việt Nam trả
tự do tức khắc cho mọi công dân
Việt Nam đang bị cầm tù vì lý do tín ngưỡng , thực hành tôn giáo
hay chỉ vì thiết tha với tự do tôn giáo, và tiên khởi là trả
tự do cho Hòa thượng Thích Huyền Quang, Tăng thống GHPGVNTN, cũng
người phụ tá của ngài là Hòa thượng Thích Quảng Độ....”
Bản Nghị quyết , được cả
626 Nghị viên đồng ý còn kêu gọi “Nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng tự do tôn giáo của tất cả các đoàn thể
tôn giáo và bảo đảm cho mọi người Việt Nam được
quyền thực hành tôn giáo mà họ chọn lựa, kể cả quyền
tự do cúng lễ hay hội họp, và yêu cầu thiết lập một hệ
thống pháp lý độc lập với quyền lực chính trị...”
PHẢN
ỨNG
Về phía Giáo hội Nhà nước, họ đã cử các Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Đệ nhất Phó Pháp chủ ; Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Đại biểu Quốc hội, Phó Trưởng ban giáo dục tăng ni Trung ương; Hòa thượng Thích Như Niệm, Chùa Pháp Hoa ở Sài Gòn; Hòa thượng Thích Trí Quảng, Tổng Biên tập báo Giác Ngộ hợp tác với Hòa thượng Thích Thanh Tứ , Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN lên tiếng bênh vực cho lập trường của Nhà nước và lên án Hạ viện Mỹ và Ngị viện châu Âu đã xen vào nội bộ Việt Nam và “vu khống” Chính phủ Việt Nam và GHPGVN.
THƯỢNG
TỌA
TUỆ SỸ
Trước lập luận của Nhà nước CSVN và một số Lãnh đạo Phật giáo theo Nhà nước cho rằng vấn đề Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng là “Vấn đề nội bộ của Việt Nam”, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Phó Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN và cxũng là một Học giả yêu bác nổi tiếng trong Thế giới Phật học đã lên tiếng trong Thông Bạch ngày 22-11-2003:” Phật giáo Việt Nam có bản sắc riêng, nhưng không thể nói hoàn toàn khác biệt với Phật giáo tại các nước khác. Do ảnh hưởng hỗ tương về mọi mặt, kể cả mặt tổ chức, nên Phật giáo Việt Nam không thể tự tách mình biệt lập với Phật giáo như một tôn giáo toàn cầu. Có những sắc thái đặc thù của mổi dân tộc, nhưng không thể phủ nhận tính phổ quát. Với nhận thức như vậy, vấn đề Phật giáo, Việt Nam hay không phải Việt Nam, đều không hoàn toàn là công việc nội bộ của một nước.... Trong lịch sử chính trị chưa có chế độ chính trị nào tồn tại vĩnh viễn...Trong trường hợp như vậy Phật gíao vẫn tồn tại. Đó là sự thực lịch sử. Cho nên, không một chế độ nào có thể buộc chặt Phật giáo vào sinh mệnh tồn tại của mình, để rồi khi nó sụp đổ, kéo theo cả sự cụp đổ của Phật giáo...”
“....Chính
vì Phật giáo, trong bản chất, không thể là một bộ phận của
Đảng CS Việt Nam, nên vấn đề Phật giáo không phải là vấn đề
nội bộ của nước Việt Nam mà người làm chủ duy nhất hiện
tại là Đảng Cộng sản Việt Nam..”
Nói
về sự hợp tác với Nhà nước
của một số Nhà tu hành Phật giáo, Thượng tọa Tuệ Sỹ viết:
“ Một vài vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam do không thấy điều
này, mà là lời hiển nhiên
trong lời dạy của Phật, “cái gì có sinh thì có diệt”, hoặc
thấy biết nhưng không thể làm
khác đi được vì nhiều lý do, hoặc có vị cũng thấy biết nhưng,
để cho quyền lợi vật
chất chi phối, sẵn sàng tuân theo ý chí của Đảng, bằng bất
cứ giá nào phải đưa toàn bộ Phật giáo Việt Nam vào làm một
bộ phận chín h trị quần chúng của Đảng để bảo vệ sự
tồn tại lâu dài của Đảng. Như
thế, thịnh suy của Đảng, thậm chí cả đến sự trong sạch hay
thoái hóa của Đảng, cũng kéo theo số phận của Phật giáo Việt
Nam...”
“Có
thể có một số sư tăng hay Phật tử chấp nhận lý tưởng xã
hội chủ nghĩa, cho rằng chỉ có thể đem lại hạnh phúc cho xã
hội loài người khi mà xã hội chủ nghĩa được xây dựng thành
công, trong đó không có giai cấp bóc lột và do đó tôn giáo cũng
không còn chức năng lịch sử nữa, nghĩa là không còn tồn
tại.”
“Các tăng sư và Phật tử ấy”, Thượng tọa Tuệ Sỹ viết tiếp,” có quyền tự do, và chắc chắn Phật cũng không cấm, họp nhau lại thành lập một giáo hội rồi tự nguyện phó thác sinh mạng của giáo hội ấy trong tay các đảng viên công sản, những chiến sỹ xung kích xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh cho một xã hội không giai cấp và không tôn giáo. Mọi hình thái tổ chức và sinh hoạt của Giáo hội ấy hoàn toàn tùy thuộc vào sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản...”
HÒA
THƯỢNG THÍCH ĐÔN HẬU
Thật
vậy, sự chỉ đạo này đã thể hiện qua việc
tự y ù”nhét lửa vào tay người tu hành” của những Nhà
Lãnh đạo Giáo hội Nhà nước đối
với Cố Tăng Thống Đệ Tam của
GHPGVNTN, Hòa thượng Thích Đôn
Hậu.
Hòa
thượng Thích Thanh Tứ được
báo Quân đội Nhân dân trích dẫn: “ Tôi xin
thưa với các vị là sau khi đã thống nhất Phật giáo trong cả nước
thành một tổ chức, những người đứng đầu tổ chức của giáo
hội Việt Nam này cũng đã đều nhất trí như tôi vừa nói lúc trước
là Hoa thượng Thích Trí Thủ, là Chủ tịch của hội đồng trị sự Trung
ương giáo hội Việt Nam, cũng là người đứng đầu của Giáo
hội Việt nam thống nhất (Ấn Quang) đã đồng ý để hòa nhập vào
trong một ngôi nhà lớn; hay việc Hòa thượng
Đôn Hậu cũng là một cao tăng ở trong giáo hội Việt
Nam, cũng nhất trí đứng vào trong tổ chức của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam....”
Cũng
trích lời Hòa thượng Thanh Tứ, Thông Tấn Xã
Việt Nam viết ngày 21-11-2003: “ Trong Đại hội thống nhất
này (7-11-1981) , Hòa Thượng Thích Đôn Hậu,
lãnh đạo cao cấp của GHPGVNTN được các đại biểu suy tôn ngôi
Phó Pháp Chủ (Hội đồng Chứng minh) ....” (Chú thích: Chức Pháp
chủ do Hòa thượng Thích Đức Nhuận của miền Bắc đảm
nhận. Cố Hòa thượng Thích
Đức Nhuận, cũng người miền Bắc, Chánh Thư ký Viện Tăng
thống của Giáo hội PGVN thống nhất
(Ấn Quang) không liên hệ gì đến việc này. Thầy Đức
Nhuận này trụ trì ở Chùa
Giác Minh, đường Phan Thanh Giản,
Sài Gòn đã bị Cộng sản bắt bỏ tù nhiều lần từ sau
biến cố 1981.)
Nhưng
trong thư đề ngày 24-11-1981 gửi đi từ Chùa Linh Mụ (Huế) cho Hòa
thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Đôn Hậu đã phủ nhận sự
tham dự Đại hội cũng như vai trò được Ban vận động
“gán cho”.
Ngài
viết: “ Như Hòa thượng đã biết, từ mùa xuân năm 1980, khi Ban
vận động
thống nhất Phật giáo Việt Nam ra đời, tuy quí vị có ghi tên tôi
vào Ban vận động, với danh nghĩa cố vấn, nhưng tôi đã không có
sự cộng tác gì với Ban vận động
cả, kể cả cuộc Đại
hội thống nhất Phật giáo Việt Nam vừa
qua tôi đã vắng mặt. Thế
nhưng, qua báo chí và các văn kiện Đại hội phổ biến, lại
thấy có tên tôi trong Ban Thường trực Hội đồng chứng minh với
chức vụ Phó Pháp chủ kiêm Giám luật.”
”Tôi xin chân thành cảm ơn Hòa thượng và Đại hội đã dành
cho tôi vinh dự đó. Tuy nhiên vì lý do sức khỏe nên tôi không
thể đảm nhận thêm chức vụ này được nữa, trong khi tôi vẫn
còn một trách nhiệm lớn đối với Giáo hị Phật giáo Việt Nam
thống nhất trong cương vị Chánh thư ký kiêm Xử lý Viện Tăng
Thống.”
“Do
đó, nay tôi viết thư này kính tin Hòa thượng rõ, và nhờ Hòa thượng
hoan hỷ chuyển đạt tinh thần bức thư này đến quý vị trong Đoàn
Chủ tịch cuộc Đại hội vừa
qua.” (Tài liệu Phòng Thông tin
Phật giáo Quốc tế, Paris)
Sau
đó gần một năm , trong bức thư thứ hai đề ngày 8-1982 gửi thẳng cho Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Pháp
chủ GHPGVN của Nhà nước, Hòa thượng Đôn Hậu một lần nữa đã
phủ nhận sự có mặt tại Đại hội và
khước từ mọi chức vụ mà
Ban tổ chức đã tự ý ghi vào.
Thư
có đoạn viết:”Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn lòng
thạnh tình của Hòa thượng
đối với tôi, đồng thời tôi rất lấy làm vinh dự và tri ân quý
Hòa thượng đã dành cho tôi một chức vụ quan trọng như thế. Nhưng
thưa Hòa thượng, như Hòa thượng đã biết,vào đầu mùa xuân năm
1980, cũng chính là lúc tôi đang nằm điều trị ở bệnh viện
Thống Nhất này, thì hay tin Ban vận động thống nhất Phật giáo
Việt Nam được thành lập, trong đó tôi có tên với danh nghĩa
cố vấn. Thế nhưng bệnh duyên chướng ngại, nên tôi đã không
tham gia được một Phật sự nào đáng kể, ngay cả cuộc Hội
nghị Đại biểu vừa qua tôi cũng đã
vắng mặt. Cho nên, tôi xét thấy mình tuổi đã già,
sức đã yếu lại bệnh hoạn liên miên và mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Do đó,
tôi viết thư này để kính báo với Hòa thượng để Hòa thượng
rõ là tôi không thể đảm nhỵân được chức vụ quan trọng
“Phó Pháp chủ kiêm Giám luật” Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà
hội nghị đã đề cử...” (Tài liệu Phòng Thông tin Phật giáo
Quốc tế, Paris).
Như vậy, làn sóng “phẫn nộ” của Chính phủ Cộng sản Việt nam và những nỗ lực bênh vực Nhà nước của một số Hòa thượng Lãnh đạo Giáo hội PGVN, có nghĩa lý gì trước quan điểm phản bác vững vàng của Thượng tọa Tuệ Sỹ và bằng chứng phủ nhận của Cố Hòa thượng Tăng thống Thích Đôn Hậu? -/-
Phạm Trần
(11-2003)