|
Con Đường Thứ Ba
Trần Trung
Việt
Một
trăm năm trước sự sụp đổ toàn diện của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới,
một vấn đề khác đã làm điên đầu các lý thuyết gia Mác-xít : "Tại sao
không xuất hiện một đảng lao động hay một phong trào xã hội chủ nghĩa đáng
kể nào ở Mỹ, quốc gia tư bản phát triển nhất thế giới?".
Friedrich Engels đã cố gắng một cách tuyệt vọng để trả lời câu hỏi này trong
những năm cuối cùng của cuộc đời mình. Lenin và Trotsky cũng quan tâm sâu
sắc về vấn đề này vì nó đặt ra những thách thức nền tảng cho luận cứ của chủ
nghĩa duy vật lịch sử được chính Mác mô tả trong Tư Bản Luận : "quốc gia
phát triển cho những quốc gia kém phát triển thấy hình ảnh tương lai của họ".
Cho
đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các nhà lý luận cộng sản hàng
đầu đều tin tưởng rằng những quốc gia tư bản công nghiệp sẽ dẫn dắt thế giới
tới chủ nghĩa xã hội. August Bebel, lãnh tụ của đảng Dân Chủ Xã Hội Đức đã
khẳng định : "Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên mở ra kỷ nguyên cộng hòa xã hội
chủ nghĩa".
Lúc đó là năm
1907. Đảng này đã là một đảng chính trị lớn
mạnh trên chính trường Đức và cũng là đảng cộng sản mạnh nhất thế giới.
Trong khi đó, đảng Xã Hội Mỹ vẫn chưa có quá 2% cử tri nhưng thuộc một quốc
gia có nền kinh tế tư bản phát triển.
Sự bất lực
trong cố gắng phát triển phong trào xã hội chủ nghĩa ở Mỹ là một xấu hổ cho
những lý thuyết gia Mác-xít, những người vẫn lập luận rằng kiến trúc thượng
tầng, trong đó có cơ cấu chính trị, chỉ là biểu lộ của những cơ sở hạ tầng
kinh tế và kỹ thuật. Họ hiểu rằng hiện tượng này là một bằng chứng sống về
những mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác. Nó chất vấn giá trị của hệ thống lý luận
này.
Tuy nhiên
Mác đã không hoàn sai khi cho rằng những quốc gia kém phát triển có thể tìm
thấy hình ảnh tương lai của mình ở những quốc gia phát triển. Từ những thập
niên cuối của thế kỷ 19, Mỹ là quốc gia phát triển đó. Văn hóa chính trị Mỹ
- như nó đã lớn mạnh và không như những nhà lý luận Mác-xít đã hy vọng - phản
ảnh luận lý của một xã hội phát triển cao về kinh tế và kỹ thuật. Xã hội Mỹ
là một xã hội tư bản đặc thù. Lý do khiến kinh tế Mỹ có hiệu suất cao nhất
thế giới, theo Max Weber, là vì văn hóa Tin Lành của nước Mỹ chứa đựng sẵn
những giá trị của chủ nghĩa tư bản. Văn hóa chi phối kinh tế. "Tinh thần tư
bản" từ đó trở nên một động lực và là khuôn mẫu cho truyền thống chính trị
cánh tả châu Âu.
Ở một mức
độ nào đó, các đảng chính trị cánh tả ngày nay đều đã bác bỏ nền kinh tế tập
trung và chấp nhận kinh tế thị trường tự do. Các đảng lao động và dân chủ
xã hội trở nên đa nguyên cả về xã hội lẫn ý thức hệ. Quốc tế xã hội chủ
nghĩa, một tổ chức toàn cầu của các đảng lao động và dân chủ xã hội, ngày
nay trở thành nơi hội tụ của những đảng cấp tiến mà cương lĩnh của họ xác định
"con đường thứ ba" giữa chủ nghĩa bảo thủ cực hữu và chủ nghĩa xã hội của
Mác. Trên thực tế, đây là sự Mỹ hóa các đảng phái chính trị cánh tả châu Âu
bị thống trị bởi các trường phái xã hội chủ nghĩa suốt trong hơn một thế kỷ
qua. Sự "lột xác" của các đảng chính trị châu Âu phản ảnh sự chuyển tiếp về
các cơ cấu kinh tế và giai cấp tương tự như đã xảy ra ở Mỹ. Cùng với sự phát
triễn kinh tế, khoảng cách và sự mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội từ
những di sản của chế độ quân chủ và phong kiến không còn là vấn đề của thực
tiễn chính trị nữa. Công đoàn, cơ sở nền tảng của các đảng cánh tả, ngày
càng suy yếu. Các đảng này ngày nay chú trọng nhiều hơn đến tầng lớp trung
lưu hơn là giai cấp vô sản lao động ngày càng giảm về số lượng.
Những
thay đổi trong mối quan hệ chính trị và giai cấp của xã hội công nghiệp phát
triển có thể được phân tích trong khuôn khổ của một chủ nghĩa
Mác-phi-chính-trị : chấp nhận luận điểm cho rằng hạ tầng cơ sở kinh tế và kỹ
thuật chi phối thượng tầng kiến trúc văn hóa và chính trị, nhưng bác bỏ luận
điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản. Alain Touraine,
nhà xã hội học hàng đầu của Pháp và là một trí thức thiên tả, nhận xét : "Nếu
tài sản là tiêu chuẩn để xác định thành phần giai cấp thống trị cũ thì kiến
thức và trình độ giáo dục là tiêu chuẩn cho giai cấp thống trị mới".
Dân Chủ Xã Hội
Mới
Học thuyết
"Con đường thứ ba" được thủ tướng Anh Tony Blair tóm lược như sau trong cuộc
gặp gở giữa các nhà dân chủ xã hội châu Âu với Bill Clinton tại New York
tháng 9-1998 :
"Về kinh
tế, chúng tôi không chủ trương chính sách buông thả (laissez-faire) cũng
không chủ trương kinh tế tập trung. Vai trò của chính quyền là bảo đảm sự ổn
vững của kinh tế vĩ mô, xây dựng một chính sách thuế và an sinh xã hội nhằm
khuyến khích sự độc lập kinh tế cho người dân và các cơ sở doanh nghiệp tư
nhân… Chúng tôi tự hào đã có được sự ủng hộ của giới lãnh đạo doanh nghiệp
cũng như của công đoàn… Trong chính sách phúc lợi xã hội và nghề nghiệp,
"Con đường thứ ba" có nghĩa là đổi mới chính sách trợ cấp thành phương tiện
tái hội nhập lực lượng lao động nơi có thể được…". (Nói cách khác trợ cấp chỉ
có mục đích giúp người thất nghiệp tìm lại công
ăn việc làm).
Tony
Blair và đảng Lao Động của ông đã thắng một cách ngoạn mục trong cuộc bầu cử
năm 1997 sau khi đã thẳng thắn đoạn tuyệt với những giá trị lịch sử của tư
tưởng quyền sở hữu công cộng của nó. Tony Blair đã nhiều lần khẳng định sự đồng
thuận của ông với Bill Clinton về thị trường tự do và về một chính quyền nhẹ.
Theo ông, kỷ nguyên của những chính quyền nặng nề đã qua. Đảng Lao Động được
tái cấu trúc theo một khuôn mẫu mới của một đảng phi xã hội chủ nghĩa, không
còn cam kết liên hệ với công đoàn, một đảng "Lao Động Mới". Ông kêu gọi lãnh
đạo công đoàn hợp tác với giới doanh nghiệp để đẩy mạnh khả năng cạnh tranh
của kinh tế Anh Quốc. Đáng chú ý hơn nữa là lời khuyên của Tony Blair với
các tổ chức lao động trong một bài báo trên tờ Người Lãnh Đạo Mới năm 1994,
trong đó ông nhấn mạnh rằng vì quyền lợi nó, công đoàn không nên chỉ ủng hộ
cho một đảng chính trị nào. Peter Mendelson, lý thuyết gia của Blair, khẳng
định rằng đảng Lao Động của ông ngày nay là đảng của tư bản thị trường. Tưởng
cũng nên nhớ lại rằng đây là một đảng được sinh ra và nuôi dưỡng bởi công
đoàn trong suốt lịch sử của nó.
Sự chuyển
tiếp theo khuôn mẫu "con đường thứ ba" lặp đi lặp lại ở nhiều đảng chính trị
cánh tả châu Âu khác. Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức, đảng Mác-xít già nua nhất thế
giới, đã từ bỏ chủ nghĩa Mác từ năm 1959 tại đại hội Bad Godesberg. Và trong
suốt mấy thập niên qua, những nhà lãnh đạo dân chủ xã hội Đức - từ Helmut
Schmidt đến Rudolph Scharping, Gerhard Schroder - theo đuổi một chính sách
chú trọng đến thị trường tự do, giới hạn ảnh hưởng của chính quyền trong
sinh hoạt kinh tế, giảm thuế, cải cách an sinh xã hội để khuyến khích trách
nhiệm cá nhân. Trong thập niên 1980, chính quyền của đảng Lao Động Úc và Tân
Tây Lan cũng bắt đầu chính sách giảm thuế, cởi trói những ràng buộc trong quản
lý kinh tế, và tư hữu hóa, hoặc giải thể, nhiều lãnh vực của công ty quốc
doanh. Thủ tướng Tân Tây Lan, ông David Lange, đã có lần phát biểu : "Những
người dân chủ xã hội phải chấp nhận thức tiễn không công bằng về kinh tế vì
nó là động lực để thúc đẩy sự phát triển…". Đảng Dân Chủ Xã Hội Thụy Điển
cũng đã lật ngược định hướng gia tăng tiền lương, tăng thuế thu nhập, hệ
thống phúc lợi do nhà nước bảo trợ để bắt đầu thực hiện những chính sách tư
hữu hóa. Ở Tây Ban Nha, thủ tướng Felipe González đã lột xác đảng Xã Hội của
ông ta - một đảng Mác-xít từ sau thời Franco - trở thành một ủng hộ viên của
chính sách tư hữu hóa, kinh tế thị trường, và NATO.
Có lẽ
Pháp là một ngoại lệ. Nếu tinh thần chống lại nhà nước độc tôn là tinh thần
phổ quát của văn hóa chính trị Mỹ thì việc tôn vinh quyền lực của nhà nước
là điểm then chốt trong văn hóa chính trị Pháp, cánh tả lẫn cánh hữu. Truyền
thống này bắt nguồn từ thời quân chủ, cách mạng, và đế quốc. Người ta không
ngạc nhiên khi đảng Xã Hội Pháp đã thắng trong cuộc bầu cử 1997 với những hứa
hẹn bảo vệ hệ thống phúc lợi xã hội đang khánh tận và một chính sách tạo
công ăn việc làm do nhà nước bảo trợ. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn
trên báo Le Nouvel Observateur, Lionel Jospin, lãnh tụ đảng Xã Hội, cho
biết ông ủng hộ chính sách kinh tế tản quyền và khuyến khích sáng kiến
cá nhân. Ông nhấn mạnh đến việc Pháp cần phải mô phỏng nền kinh tế Mỹ. Theo
tờ Kinh Tế, Jospin cho rằng Pháp "có thể học được nhiều điều từ sự năng động
của nền kinh tế Mỹ, từ sức sống của sáng tạo và nghiên cứu, từ tin thần cạnh
tranh và khả năng thay đổi…".
Cùng lúc,
các quốc gia châu Âu đạt đến một mức độ thịnh vượng mới, nhận ra rằng họ
càng giống Mỹ hơn với một xã hội mà lằn ranh giai cấp mờ nhạt. Và theo ngôn
ngữ của Mác, Mỹ đã cho họ thấy hình ảnh tương lai của họ. Ngày nay, các đảng
cấp tiến phi xã hội chủ nghĩa châu Âu đang cố gắng để biến chủ nghĩa tư bản
trở nên nhân bản hơn, hữu hiệu hơn.
Bình Cũ, Rượu
Mới
Tất cả những
biến chuyển trên không nhằm để gợi ý rằng lằn ranh chính trị của các nền dân
chủ hiện đại, bắt nguồn từ Cách Mạng Pháp trên băng tần chính trị tả và hữu,
đã biến mất. Dân chủ hay cộng hòa, dân chủ xã hội hay bảo thủ vẫn còn là những
lựa chọn của thùng phiếu, mặc dù những nền tảng ý thức hệ chính thống của
chúng đã thay đổi. Sự phân chia theo tầng lớp xã hội không còn là tương quan
chính đối với vị trí tả hay hữu của các đảng phái trên băng tần chính trị quốc
gia. Những vấn đề như đạo đức, phá thai, giá trị gia đình, dân quyền, bình đẳng
giới tính, đa văn hóa, di dân, chính sách ngoại giao, v.v. đã đẩy những cá
nhân và tổ chức chính trị vào những lộ trình khác nhau, độc lập với vị trí
kinh tế xã hội của họ. Phần lớn những vấn đề này thuộc phạm trù xã hội, tôn
giáo và giáo dục chứ không phải chính trị.
Ý nghĩa của
tả và hữu đang thay đổi. Các đảng cánh tả, như đã thấy, mặc dù vẫn tự nhận
là dân chủ xã hội hay xã hội chủ nghĩa nhưng càng lúc càng giống khuynh hướng
chính trị cấp tiến Mỹ : cổ xúy những vấn đề như môi trường, quyền phụ nữ và
người đồng tính luyến ái, quyền của thiểu số, tự do văn hóa, cũng như giới hạn
quyền của nhà nước. Các đảng cánh hữu cũng di chuyển sang trung tâm của băng
tần chính trị, nhấn mạnh đến tự do và trách nhiệm cá nhân. Với một sự phân
chia đa chiều như thế, ngày nay rất khó để có thể vẽ một lằn ranh chính trị
giữa các trường phái tả và tữu. Và chắc chắn, tả-hữu không còn được định
nghĩa trong không gian của chủ nghĩa xã hội-chủ nghĩa tư bản như trước nữa.
Trần
Trung Việt (Philadelphia) |