[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

2. Về cuộc chiến tranh ý thức hệ cuối cùng

Nguyễn Gia Kiểng

      Bạn tôi là một chuyên gia về thị trường chứng khoán, bà con ở Mỹ gọi là stock, bên Pháp gọi là bourse. Anh ta bực mình vì kinh tế thế giới từ đầu năm 2001 đến nay vẫn chưa phục hồi được, làm những traders lạc quan như anh ta lỗ nặng. Mỗi lần mua cổ phần là một lần hố. Thị trường chứng khoán cứ vừa bắt đầu lên lại tụt xuống ngay vì những lý do rất khác nhau : một công ty lớn bị truy tố, bị lỗ hay phải hạ thấp mục tiêu ; bão lớn trong vịnh Ba Tư ;  khủng bố tại Iraq, Palestine, Indonesia… Anh ta cho rằng ngoài những bất ngờ về thời tiết có hai nguyên nhân chính, trên đó các lý luận thuần túy kinh tế không cho phép kết luận : khủng bố và dầu lửa.

     Anh bạn có lẽ sẽ phải chờ đợi khá lâu. Thế giới đang sống một cuộc chiến tranh mới. Ê-kíp của tổng thống George W. Bush coi cuộc chiến chống khủng bố là thế chiến thứ 3 và chọn lựa duy nhất của Hoa Kỳ và thế giới văn minh là phải thắng. Người ta có thể đồng ý với kết luận dù không đồng ý với cách nhìn. Cuộc chiến này sẽ dai dẳng bởi vì nó là cuộc chiến tranh ý thức hệ cuối cùng của loài người. Cuộc chiến này khác hẳn những cuộc chiến trước đây. Không có hai quân lực chạm trán với nhau, sẽ không có thương thuyết và cũng sẽ không có ngày kết thúc.

     Đây là cuộc kháng cự cuối cùng của Hồi giáo như một lực lượng thần quyền, chủ trương chính quyền phải được đặt dưới sự kiểm soát  của một tôn giáo chính thức. Nhân sự nòng cốt của phe kháng chiến không đông nhưng nó có chỗ dựa trên một phần đáng kể của khối tín đồ Hồi giáo trên một tỷ người. Sức mạnh căn bản của nó là sự tuyệt vọng, cho phép sử dụng bất cứ phương tiện nào đối với bất cứ ai. Thành ngữ Việt Nam có câu : "thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ khốn cùng liều thân". Cái đáng sợ của những kẻ khốn cùng liều thân là ở chỗ họ không thể thất bại bởi vì họ đã thất bại rồi, cuộc chiến chỉ chấm dứt khi không còn chiến binh. Những thành phần khốn cùng này sẽ còn được bổ sung và hỗ trợ trong một thời gian khá dài.

     Nếu ê-kíp Bush tiên liệu được tất cả những khó khăn của cuộc chiến tranh Iraq chưa chắc họ đã dám tiến quân đánh đổ Saddam Hussein. Đôi khi những tiên liệu sai đưa đến những quyết định đúng. Lịch sử thế giới không thiếu những trường hợp như vậy, và trường hợp Iraq là một.

 

     Có ít nhất hai lý do, dù chỉ cần một trong hai lý do cũng đủ, để phải đánh đổ chế độ Saddam Hussein.

     Lý do thứ nhất là không thể kéo dài các biện pháp phong tỏa kinh tế Iraq đã được áp dụng từ 1991 được nữa. Nó đã gây quá nhiều thiệt hại cho dân chúng Iraq. Đã đến lúc hoặc phải đánh đổ Saddam Hussein hoặc phải chấm dứt phong tỏa Iraq. Nhưng nếu được giải tỏa, Saddam Hussein với nguồn lợi dầu khí to lớn có thừa khả năng để tài trợ các tổ chức khủng bố, điều mà hầu như chắc chắn ông ta sẽ làm.

     Lý do thứ hai còn nghiêm trọng hơn : nếu không thay đổi chế độ tại Iraq thì khó giữ được Saudi Arabia. Trái với một cảm nhận thông thường, Saudi Arabia không phải là một nước giàu mà là một nước nghèo, dù là nước có sản lượng và trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Lợi tức bình quân trên mỗi đầu người của nó chỉ là 9.000 USD mỗi năm, tương đương với các nước cộng sản cũ tại Đông Âu, bằng một nửa Do Thái và Đài Loan, thua khá xa Mã Lai. Đã thế, lợi tức quốc gia lại bị một nhóm rất nhỏ chung quanh gia đình nhà vua chiếm đoạt gần hết. Để duy trì quyền lực, chế độ Saudi Arabia dựa trên một giáo phái Hồi giáo cực kỳ thủ cựu, khuyến khích và nuôi dưỡng các phần tử cuồng tín để khỏi bị chống đối, cuối cùng trở thành con tin của chúng. Tổ chức Al Qaeda của Bin Laden, và chính bản thân Bin Laden, ra đời và mạnh lên tại nước này. Vào lúc Hoa Kỳ phát động cuộc tấn công Saddam Hussein, chính quyền Saudi Arabia đã rất nguy ngập, có thể rơi vào tay bọn khủng bố bất cứ lúc nào. Nếu Saudi Arabia sụp đổ thì nước Kuwait nhỏ bé, nằm kẹt giữa Iraq và Saudi Arabia, cũng sụp đổ theo luôn với hậu quả là quá phân nửa sản lượng và trữ lượng dầu khí thế giới lọt vào tay bọn khủng bố. Hậu quả cho an ninh và kinh tế thế giới sẽ rất kinh khủng. Chỉ có sự thiết lập một chế độ dân chủ thân phương Tây tại Iraq mới bảo đảm được sự ổn vững và sự chuyển hóa hòa bình của Saudi Arabia, Kuwait, và vùng Trung Đông nói chung, về dân chủ. Iraq cũng là nước giàu tài nguyên nhất và nhiều triển vọng nhất để xây dựng một chế độ dân chủ trong vùng. Việc loại trừ Saddam Hussein là một bắt buộc chiến lược, chưa kể Saddam Hussein là một trong những bạo chúa hung tợn nhất thế giới.

     Nhưng ê-kíp Bush có lẽ đã không tiên liệu được rằng khi đánh chiếm Iraq họ đồng thời cũng phát động cuộc thánh chiến cuối cùng của Hồi giáo. Rõ ràng là họ đã không dự đoán một sự chống trả dữ dội như người ta đang thấy.

 

     Nói chung, không nhiều thì ít, mọi tôn giáo đều đã ra đời và tồn tại hoặc như một dụng cụ cầm quyền, hoặc để thay đổi xã hội và do đó ảnh hưởng lên quyền lực. Nhưng Hồi giáo, hơn nữa, còn đồng hóa chính trị với tôn giáo. Jesus Christ phân biệt Thượng Đế và Caesar. Thích Ca rời bỏ hoàng cung để tu đạo. Mohamet vừa là tướng cầm quân, vừa là vua lại vừa là giáo chủ. Sự phân biệt quyền lực và tôn giáo hoàn toàn không có trong Hồi giáo. Coran, cũng như Cựu Ước, vừa là kinh vừa là luật. Về điểm này Hồi giáo cũng hơi giống Do Thái giáo, nhưng nếu đạo Do Thái chỉ giới hạn trong một dân tộc thì Hồi giáo lại nhắm chinh phục cả thế giới, và bằng bạo lực nếu cần. Hồi giáo coi người ngoại đạo là phản bội chủ trương thánh chiến và coi tử đạo như một diễm phúc. Khủng bố nằm trong truyền thống chiến tranh của Hồi giáo, từ ngữ assassin (thích khách) có gốc từ Trung Đông.

     Cho đến nay, các nhà sử học đều ngạc nhiên trước sự bành trướng nhanh chóng của Hồi giáo. Ra đời cuối thế kỷ thứ 7 tại sa mạc Arabia cằn cỗi, nghèo nàn, thưa dân và bán khai, Hồi giáo đã chỉ cần một thế kỷ để chiếm trọn vùng Trung Đông và lan tràn sang Ấn Độ và Trung Quốc. Sự bành trướng của Hồi giáo càng đáng ngạc nhiên vì nó đi song song với sự tan vỡ đẫm máu của chính Hồi giáo. Ba trong bốn vị giáo chủ kế vị Mohamet bị giết, Hồi giáo tan vỡ thành nhiều phe phái thẳng tay tàn sát lẫn nhau. Hồi giáo phát triển như một trái bom nổ tung tóe, như hình ảnh của hiện tượng Big Bang. Bí quyết thành công của nó là, một mặt, tạo ra được một sự liên đới giữa những tín đồ, có thể nói nó có một số đặc tính sơ khai của một chế độ bình đẳng và, mặt khác, quan trọng hơn, nó phát minh ra khái niệm tử đạo. Cho tới khi Hồi giáo xuất hiện, trong mọi quân đội trên thế giới những người lính cũng là những người tù trong tay các vua chúa, họ phải chiến đấu hoặc sẽ bị giết. Người lính Hồi giáo, trái lại, chiến đấu cho thượng đế Allah, chết trận là phúc lớn và sẽ được vào thiên đường hưởng lạc thú vĩnh cửu. Sự bành trướng của Hồi giáo là sự thành công của một công thức chiến tranh.

     Hồi giáo đã quét sạch Thiên Chúa giáo tại Trung Đông, Bắc Phi, lấn chiếm sang cả Tây Âu và bẻ gẫy tám đợt thập tự chinh. Kinh nghiệm cay đắng này đã khiến phương Tây sợ khối Hồi giáo và trong nhiều thế kỷ không dám nghĩ đến chinh phục. Ngay cả khi tương quan lực lượng đã rất chênh lệch, người phương Tây trong các thế kỷ 16, 17, 18 và 19 đã chỉ phong tỏa khối Hồi giáo bằng cách làm chủ các đại dương. Chỉ từ cuối thế kỷ 19, sau khi đã thắt chặt vòng vây, họ mới dám chinh phục Trung Đông nhưng cũng chỉ chinh phục về mặt chính trị và kinh tế chứ không dám đụng tới Hồi giáo. Vả lại lần này cuộc chinh phục không thể mang tính tôn giáo nữa, bởi vì lúc đó chính Thiên Chúa giáo cũng đã bị gạt ra khỏi chính trị rồi.

 

     Mọi tôn giáo lớn dù là Phật giáo, Ấn Độ giáo hay Thiên Chúa giáo, dù tự nguyện hay bị bắt buộc, đều đã phải trải qua những xét lại quan trọng, đặc biệt là trong tương quan đối với chính trị, và đã chỉ tồn tại được sau khi triệt thoái khỏi chính quyền để trở thành một chọn lựa cá nhân trong nhiều chọn lựa khác. Sự xét lại của Thiên Chúa giáo đã rất đau nhức, Thế Kỷ Ánh Sáng (thế kỷ 18) đã chủ yếu là thế kỷ của những phản bác triết lý và tín điều Thiên Chúa giáo, kết thúc bằng một cuộc cách mạng đẫm máu trong đó cả giới quí tộc Pháp lẫn giáo hội Công giáo đều là nạn nhân, mặc dù trước đó Thiên Chúa giáo đã có những xét lại quan trọng.

     Không thiếu những trí thức Hồi giáo nghĩ rằng Hồi giáo cũng cần một Thế Kỷ Ánh Sáng như Thiên Chúa giáo trước đây. Nhận xét này đúng - Hồi giáo không thể tồn tại như hiện nay - nhưng bỏ qua một yếu tố quan trọng là Hồi giáo rất khó đổi mới. Khác với thánh kinh Thiên Chúa giáo hay kinh của mọi tôn giáo khác, Coran không phải là tác phẩm của một vị chân tu đắc đạo, hay một vị thánh viết ra, hay lời Thượng Đế do một tiên tri nhớ lại và do đó có thể sai. Coran là lời của chính Allah. Sửa đổi kinh Coran đồng nghĩa với phủ nhận Allah, phủ nhận Hồi giáo.

     Và chính vì Hồi giáo không đổi mới được nên nó đã suy thoái một cách nhanh chóng. Nhiều nước Hồi giáo chỉ còn là Hồi giáo trên bề mặt, các chính quyền ngày càng ra khỏi tầm tay của các giáo sĩ. Một cách âm thầm nhưng liên tục và mãnh liệt Hồi giáo bị bỏ rơi bởi hai thành phần nền tảng : phụ nữ và nhất là tuổi trẻ. Một cách thách thức, nhiều phụ nữ, đối tượng khinh thường của Hồi giáo, đã được bầu làm thủ tướng, tổng thống tại các nước được coi là hoàn toàn theo Hồi giáo như Pakistan, Bangladesh, Thổ và Nam Dương. Văn hóa phương Tây xâm nhập nhanh chóng các nước Hồi giáo, không phải bằng quân sự mà bằng thông tin, phim ảnh, sách báo, âm nhạc, du lịch, nếp sống và thực phẩm. Sự suy thoái nhanh chóng của Hồi giáo có lẽ là biến cố văn hóa quan trọng nhất từ sau thế chiến II, cũng như sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã là biến cố chính trị trọng đại nhất.

 

     Không có gì khó hiểu nếu thiểu số Hồi giáo toàn nguyên cuồng tín phản ứng dữ dội, dù có hay không có cuộc xâm lăng Iraq của Hoa Kỳ và đồng minh. Đừng nên quên là cuộc khủng bố man rợ ngày 11-9-2001 đã xảy ra trước và đã là nguyên nhân chứ không phải hậu quả của cuộc tiến công của Hoa Kỳ vào Afghanistan và Iraq. Phản ứng của thiểu số tuyệt vọng này, do sự man rợ cực kỳ của nó, không làm chậm lại mà chỉ đẩy nhanh hơn sự suy sụp của Hồi giáo.

     Nhưng Hồi giáo là một khối hơn một tỷ người. Sẽ còn những người cuồng tín và những cảm tử quân. Cuộc chiến này là cuộc chiến tranh ý thức hệ cuối cùng trước khi dân chủ thực sự trở thành một giá trị và một trật tự chung của cả thế giới. Đây là cuộc chiến giữa một ý thức hệ dân chủ thế quyền đang trở thành mẫu số chung của nhân loại và một ý thức hệ thần quyền chuyên chính đã bị từ khước nhưng không chấp nhận bị đào thải. Nó sẽ kéo dài và sẽ giảm dần cường độ chứ không có một ngày kết thúc rõ rệt. Thế giới sẽ phải thích nghi và sống với khủng bố, như đã thích nghi và sống với chiến tranh lạnh trước đây.

     Anh bạn chuyên gia kinh tế của tôi sẽ phải kiên nhẫn, nhưng cũng nên bình tĩnh. Đừng quên rằng kinh tế thế giới vẫn phát triển và thế giới vẫn tiếp tục tiến lên một cách khả quan trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

     Nếu liều lĩnh mà dự đoán tương lai thì người ta có thể nghĩ rằng Iraq sẽ tương đối ổn định trong vòng một năm nữa. Tương đối ổn định có nghĩa là "chỉ còn" trung bình một vụ khủng bố mỗi tuần. Những hoạt động khủng bố như đánh bom, bắt cóc sẽ vẫn tiếp tục ở nhiều nơi. Trong ít nhất một thập niên nữa, hòa bình phải được hiểu là chỉ có một vài vụ khủng bố mỗi tháng trên thế giới.

Nguyễn Gia Kiểng

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]