|
Chủ nghĩa cộng sản đến Việt
Nam như thế nào?
Nguyễn Gia
Kiểng
Ngày
19-8-1945 đã là một ngày lịch sử lớn. Đó là ngày mà Việt Nam khẳng định
trước thế giới như một dân tộc có chủ quyền, nhưng đồng thời đó cũng là ngày
nước ta đi vào một phương hướng đặc biệt và đầy hậu quả : chủ nghĩa cộng sản.
Không ai có thể chối cãi rằng nếu Cách Mạng Tháng 8 do một lực lượng không
cộng sản chủ động thì nước ta sẽ khác hẳn hiện nay. Với Cách Mạng Tháng 8,
chủ nghĩa cộng sản đã đột ngột xuất hiện một cách áp đảo. Việt Nam cũng có
một đàn anh hồn tồn mới : nước Nga, một nước rất xa, chưa hề tiếp xúc với
Việt Nam, bỗng nhiên được người cộng sản Việt Nam coi như tổ quốc của mình
một cách rất thành thực. Nhân dịp kỷ niệm Cách Mạng Tháng 8 cũng nên nhìn
lại những tình huống đã đem chủ nghĩa cộng sản tới Việt Nam.
Trước
hết là một minh định quan trọng : cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản,
hay "chủ nghĩa Mác-Lênin", tại Việt Nam không phải là chủ nghĩa cộng sản của
Marx mà chỉ là chủ nghĩa của Lenin, trong đó tư tưởng Marx đã bị lợi dụng và
lạm dụng. Khi Lenin và đảng cộng sản Nga nắm được chính quyền tại Nga, trong
biến cố gọi là "Cách Mạng Tháng 10 Nga" vào tháng 11-1917, thì phong trào
cộng sản thế giới đã thất bại và tan rã từ lâu rồi.
Một
cách tóm tắt, tuy tư tưởng cộng sản không mới, nó nằm trong khuôn khổ những
trăn trở của nền văn hóa Thiên Chúa Giáo trước mâu thuẫn giữa một tôn giáo
coi mọi người là anh em và một thực tại xã hội đầy rẫy bất công, nhất là vào
lúc khởi đầu cuộc cách mạng kỹ nghệ, nhưng phong trào này đã chỉ thành tổ
chức năm 1847 với "Liên Đồn Cộng Sản" và với bản "Tuyên Cáo Cộng
Sản" nổi tiếng do Marx soạn thảo với sự đóng góp của Engels. Nó phát
triển mạnh và trở thành "Đệ Nhất Quốc Tế" năm 1864, cơ quan đầu não
đặt ở London do Marx kiểm sốt. Đệ Nhất Quốc Tế phát triển rất nhanh chóng,
vào năm 1869 nó có tới gần bảy triệu thành viên với gần một triệu thành viên
đóng liễm đều đặn. Nhưng nó đã là nạn nhân của chính sự phát triển nhanh
chóng này và đã tan rã trên thực tế năm 1872 sau một đại hội xung đột giữa
nhiều phe phái cách mạng, cải tổ và vô chính phủ. Chính Marx đã vận động để
chuyển trụ sở sang Mỹ và sau đó coi sự tan rã này như một lối thốt vinh
quang cho một phong trào đã bế tắc. Rồi năm 1876 Đệ Nhất Quốc Tế chính thức
được giải tán. Cuộc cách mạng vô sản mà Marx hô hào đã thất bại.
Đệ
Nhị Quốc Tế được thành lập năm 1889, sáu năm sau khi Marx đã qua đời.
Dầu vậy người ta có thể chắc chắn là Marx không ủng hộ Đệ Nhị Quốc Tế. Trong
một thư gửi một người bạn năm 1881, ông viết : "Những điều kiện cho phép
thành lập một quốc tế lao động chưa hội đủ, những cố gắng thành lập các quốc
tế như vậy không những vô ích mà còn có hại và sẽ chỉ tàn lụi trong sự nhàm
chán". Đệ Nhị Quốc Tế tuy lập lại những lập trường căn bản của Marx
nhưng chấp nhận cả những thành phần không tán thành Marx và đa số chủ trương
thay đổi xã hội qua những cải tổ liên tục.
Năm
1919, Lenin, sau khi đã nắm được chính quyền tại Nga, cho ra đời Đệ Tam
Quốc Tế, một tổ chức thuần túy đặt dưới quyền điều động tùy tiện của
Lenin, và nhất là Stalin sau đó, cuối cùng bị giải thể do một sắc lệnh của
Stalin tháng 6-1943. Chủ nghĩa cộng sản nhập cảng vào Việt Nam trong Cách
Mạng Tháng 8 như vậy chỉ là cái đuôi của một chủ nghĩa đã phá sản. Vấn đề
là người Việt Nam, cộng sản cũng như chống cộng, không hiểu được điều này và
đã nhìn nó, dù để theo hay để chống, như một khuynh hướng cấp tiến đang lên.
Nhưng
trước hết hãy quay trở lại để nhận định về sự thất bại của phong trào cộng
sản do Marx và Engels hướng dẫn. Có thể nói sự thất bại này gần giống như sự
phá sản của một công ty vay nợ mà không có khả năng hồn trả. Phong trào cộng
sản giống như một tôn giáo mà tín điều được chứa đựng trong Tuyên Ngôn
Cộng Sản và thánh kinh là cuốn Tư Bản Luận. Điều nghịch lý là,
khác với các tôn giáo, tín điều lại có trước thánh kinh. Marx viết Tuyên
Ngôn Cộng Sản năm 1847, khẳng định những niềm tin nền tảng của phong
trào cộng sản mà ông quả quyết rằng có thể, và sẽ, chứng minh được một cách
khoa học. Người ta chờ đợi Marx thực hiện lời cam kết đó, nhưng Marx đã
không giữ được lời hứa. Mãi tới hai mươi năm sau, năm 1867, Marx mới viết
xong tập I của Tư Bản Luận. Và cuốn sách đã là một thất vọng lớn.
Điều mà người ta chờ đợi Marx chứng minh là sự sụp đổ không tránh khỏi của
chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản đã không có,
thay vào đó là một lý thuyết kinh tế về trị giá và những lời tiên tri không
có cơ sở. Darwin được Marx đề nghị đề tặng cuốn sách này đã từ chối. Bẽ bàng
càng lớn vì Marx coi Tư Bản Luận là tác phẩm mà để thực hiện ông đã
phải "hy sinh cuộc sống, hạnh phúc và gia đình". Marx đã không trả
lời được những chất vấn trên những xác quyết mà ông đưa ra. Tư Bản Luận
gần như đã đánh một dấu chấm hết trên chủ thuyết chính trị của Marx. Năm
1877, ông cộng tác với Engel để đưa ra tác phẩm "Chống Dürhing", bao
gồm tồn bộ những tư tưởng căn bản của ông. Cuốn sách này không tìm được nhà
xuất bản, được đem đăng từng kỳ một trên tờ báo của Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức,
tổ chức mạnh nhất trong phong trào vô sản thế giới, nhưng bị bỏ ngang vì bị
đại hội đảng Dân Chủ Xã Hội Đức đánh giá là "hồn tồn không ích lợi gì cho
các đảng viên mà còn gây cho họ một sự nhàm chán đến cực độ". Khó
có thể
hình dung được sự bẽ bàng cuối đời của Marx. Cuốn Tư Bản Luận tập I chỉ được
dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp hơn 10 năm sau đó. Các tập II và III cũng
chỉ được ấn hành rất lâu sau khi Marx đã qua đời và hầu như không ai đọc,
trừ những nhà nghiên cứu về Marx.
Chính
Marx cũng đã nhìn nhận sự phá sản của chủ thuyết cách mạng vô sản của mình.
Năm 1872, ngay sau khi Đệ Nhất Quốc Tế tan vỡ, ông gửi thông điệp cho phân
bộ Hòa Lan nói rằng "tại những nước như Mỹ và Anh, người lao động có thể
đạt tới mục tiêu của mình bằng những phương tiện ôn hòa". Trước đó, năm
1870, ông còn coi Anh và Đức là những vùng đất hứa để tiến hành cách mạng,
đập tan nhà nước tư bản và xây dựng chuyên chính vô sản. Trong những năm
chót của đời ông, Marx đã để lại một câu nói bất hủ : "Điều chắc chắn là
tôi không theo chủ nghĩa Marx".
Sự
thất bại của chủ thuyết cộng sản vào cuối thế kỷ 19 mặc khác cũng do thực tế
đem đến. Thất bại của cuộc cách mạng 1848, rồi các công xã Paris năm 1871 đã
làm mất lòng tin của giai cấp công nhân vào thắng lợi tất yếu của cuộc cách
mạng vô sản. Hơn thế nữa, những tiên đốn của Marx về sự tích lũy tư bản, về
tập trung tư bản và về sự gia tăng bần cùng của giai cấp công nhân ngày càng
bị thực tế lố bịch hóa. Đời sống của công nhân thay vì bị bần cùng hóa đã
tăng lên một cách ngoạn mục trong những thập niên cuối của thế kỷ 19. Phong
trào công nhân tại Đức, Anh và Pháp chuyển qua đấu tranh ôn hòa bằng nghị
trường và nghiệp đoàn.
Năm
1917, Lenin giành được thắng lợi tại Nga. Trong cuộc cách mạng lật đổ Nga
hồng tháng 2-1917, đảng cộng sản Nga (lúc đó còn mang tên là Đảng Dân Chủ Xã
Hội Nga) rất yếu, không có một đóng góp nào cả. Cái mà người ta gọi là "Cách
Mạng Tháng 10 Nga", thực ra chỉ là một cuộc đảo chính của một đảng khủng bố
đã "sáng suốt" nhìn thấy sức mạnh của bạo lực và quyết tâm trong một xã hội
hoang mang và phân rã.
Nước
Nga, kể từ ngày lập quốc cho đến khi chế độ cộng sản được thành lập, có một
đặc điểm là đã chỉ có những chế độ cực kỳ tàn bạo. Bạo lực là văn hóa nền
tảng của nước Nga và Lenin là người hiểu rõ nhất tâm lý này. Một điều
khác mà Lenin cũng hiểu rõ là tâm lý tự mãn "ếch ngồi đáy giếng" của một
nước Nga vì ít tiếp xúc với thế giới bên ngồi nên cứ tưởng chế độ thôn xã
của mình, về bản chất chỉ là một chế độ nô lệ còn bán khai hơn cả nếp sống
làng xã Việt Nam, có thể lấy làm mẫu mực cho xã hội tương lai của nhân loại.
Bản thân Lenin xuất thân từ một môi trường khủng bố, anh ruột Lenin đã bị xử
tử sau một hành động khủng bố, còn ông bị đày đi Siberia. Kinh nghiệm bản
thân này giúp Lenin hiểu rằng một nhóm nhỏ quyết tâm có thể khống chế và sai
bảo được một số người rất đông đảo nếu có được một lý luận chặt chẽ và hùng
hồn, dù không cần đúng. Trở lại Nga sau cách mạng tháng 2-1917 lật đổ Nga
hồng và sau một thời gian lưu vong dài, Lenin bắt tay ngay vào việc xây dựng
một đảng khủng bố. Chín tháng sau Đảng Dân Chủ Xã Hội của ông ta (đổi tên là
Đảng Công Sản từ năm 1918) nắm được chính quyền và dần dần tiêu diệt mọi lực
lượng khác để nắm độc quyền chính trị. Thành công của Lenin và các đệ tử của
Lenin tại các nước khác thật là mỉa mai cho Marx. Chủ nghĩa cộng sản đã
không thành công tại những nước kỹ nghệ như ông tiên đốn, trái lại đã giúp
những phần tử khủng bố cướp chính quyền tại những nước lạc hậu. Nhưng nếu
không có Lenin chắc chắn chủ nghĩa Marx đã bị chôn vùi.
Hồ Chí
Minh, được huấn luyện tại Nga, đem chủ nghĩa cộng sản, bài bản Lenin, mà
chính ông cũng như các cộng sự viên của ông chỉ biết một cách rất sơ sài về
Việt Nam và đã thành công vì, một mặt, xã hội Việt Nam đã chín muồi cho một
chủ nghĩa như thế và, mặt khác, nhờ chính sách khủng bố có kỹ thuật mà Hồ
Chí Minh du nhập từ Nga. Hơn thế nữa Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng duy
nhất có hỗ trợ quốc tế.
Chủ
nghĩa cộng sản là ý thức hệ cuối cùng của lồi người mang tham vọng giải
thích tất cả. Nó bao gồm một học thuyết siêu hình, một triết lý về lịch sử
và một hứa hẹn hạnh phúc. Nó đòi hỏi lòng tin thay vì lý luận. Về bản chất
nó cũng giống như một tôn giáo. Vì thế nó đã thành công ở những nơi mà một
tôn giáo được lấy làm nền tảng cho chính trị sụp đổ, đòi hỏi sự ra đời của
một tôn giáo khác. Nó đã được hưởng ứng trong giai đoạn đầu tại Tây Âu khi ý
thức hệ Thiên Chúa giáo tỏ ra bất lực trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội.
Nó mất dần ảnh hưởng khi xã hội Tây Âu cải tiến và tìm ra những lý luận
chính xác để bác bỏ nó. Dưới bài bản Lenin, nó đã thành công tại Nga, một xã
hội khép kín trong nhiều thế kỷ và đã không đổi mới kịp với đòi hỏi. Nó còn
thành công hơn nữa tại các xã hội Khổng giáo như Trung Quốc và Việt Nam, nơi
một ý thức hệ tồn trị đã sụp đổ nhưng vẫn chưa bị từ bỏ. Chủ nghĩa cộng sản
của Lenin về nội dung rất giống Khổng giáo và đã xuất hiện như một giải pháp
để cải tiến Khổng giáo.
Điều
cần lưu ý là mặc dù không biết gì về chủ nghĩa cộng sản, đặc biệt là không
biết rằng đây chỉ là một chủ nghĩa xuất phát từ hồn cảnh xã hội Tây Âu, đã
chứng tỏ sự sai lầm ngay trên quê hương của nó và đã bị Lenin bóp méo để lạm
dụng, hầu hết các tổ chức chính trị Việt Nam ra đời trước Cách Mạng Tháng 8
đều đã chấp nhận nó, hoặc ít nhất chủ nghĩa dân túy. Có thể nói trước tháng
8-1945 không có người Việt Nam nào thực sự chống chủ nghĩa cộng sản vì thâm
tín cá nhân cả. Lập trường chống cộng chỉ xuất hiện sau đó, khi Đảng Cộng
Sản Việt Nam thi hành chính sách khủng bố, thủ tiêu theo bài bản Lenin. Ở
một mức độ nào đó có thể nói chính Hồ Chí Minh, và chủ nghĩa Lenin mà ông du
nhập đã khiến người Việt Nam tàn sát nhau và khai sinh ra lập trường chống
cộng tại Việt Nam. Một lần nữa chúng ta thấy rõ sự chậm tiến về trí tuệ của
châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng : say mê một học thuyết mà chính
người sáng tạo ra nó đã từ bỏ.
Cách
Mạng Tháng 8, bên cạnh sự vinh quang không thể chối bỏ của nó, đã dẫn chúng
ta đến nhiều thảm kịch đẫm máu và đã khiến chúng ta thua kém như ngày nay.
Bài
học mà chúng ta cần rút ra là một dân tộc không có tư tưởng không khác một
người mù, không vấp ngã cách này thì cũng vấp ngã cách khác.
Nguyễn
Gia Kiểng
(*) Những
trích dẫn lời của Marx lấy từ cuốn "Marx-Engels, selected correspondance",
của Dona Torr, trích lại từ cuốn Theory and Practice of Communism của
Carew Hunt, Pelican Books, 1977.
|