|
Mới đây
đã được giới thiệu một công trình địa lý học lịch sử lớn của Quốc Sử Quán
triều Nguyễn ra đời cuối thế kỷ 19 : Đồng Khánh địa dư chí (1). Nay một công
trình lịch sử - văn hóa, được xếp vào loại đồ sộ bậc nhất của triều Nguyễn
vào giữa thế kỷ 19, cũng cần được giới thiệu : Khâm Định Đại Nam hội điển sự
lệ.
Có thể
xem đây là hai nét son rực rỡ của văn hóa và khoa học nhân văn thời đại quân
chủ đã qua. Minh Mạng, một trong những vị vua có văn hóa (cultivé) của thời
đại, trị vì từ 1820 đến 1840, đã thành lập hai cơ quan văn hóa lớn : Quốc Sử
Quán và Nội Các.
Quốc Sử Quán
và Nội Các
Quốc Sử
Quán đã để lại ngót một trăm công trình sử học, địa lý học, văn hóa, mỹ học…
như Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm Định
Việt sử thông giám cương mục, Minh Mạng chính yếu, Minh Mạng tấu nghị, Minh
Mạng ngự chế văn, Tự Đức ngự chế thi, Ngự đề Danh thắng đồ hội thi tập, Ngự
đề Thần kinh nhị thập đồ hội thi tập, Ngự đề Nhân vật đồ hội thi tập, Ngự đề
Cổ tích đồ hội thi tập, v.v… (2).
Bên cạnh
Quốc Sử Quán, triều Nguyễn có một cơ quan nửa chính trị, nửa văn hóa : Nội
Các. Định chế này vừa chuyên giữ công việc ấn chương, giấy tờ, sổ sách các
cơ quan của triều đình, vừa có nhiệm vụ ghi chép lời nói, việc làm của các
vua, công tác của các bộ, viện, ty, phủ, các điển chế của triều đình đã đem
thi hành. Với chức năng ấy, Nội Các đã soạn thảo một khối lượng công văn
khổng lồ được các vua xem xét ("ngự lãm") và phê duyệt bằng mực son ("châu
phê" hay "châu bút"). Đó là bộ "Châu bản" gồm 3.200 tập về các triều vua, từ
Gia Long đến Bảo Đại, mỗi tập khoảng 600 trang giấy lệnh hội. Có thể xem đó
là bộ Công báo (Journal officiel) của triều Nguyễn (1802-1945) mà đến năm
1955, sau nhiều cơn binh lửa, chỉ còn sót lại 611 tập (3) !
Trong số
những bộ sách do Nội Các soạn thảo và xuất bản, công trình có giá trị nhất
là Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (từ nay gọi tắt là Hội điển).
Trong
lịch sử các chế độ quân chủ ở Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên), mỗi triều đại đều tổ chức biên soạn hội điển (còn gọi là đại điển,
chính điển) của triều đại mình. Ở Trung Quốc các triều Đường, Tống, Nguyên,
Minh, Thanh đều có hội điển, bộ sách ghi lại các công văn và các sự kiện lớn
của triều đại. Giáo sư Trần Văn Khê, khi tham khảo Đại Thanh hội điển sự lệ
đã phát hiện những ghi chép chi tiết về 9 loại nhạc nước ngoài có mặt tại
triều đình nhà Thanh cuối thế kỷ 18, trong đó có đoàn An Nam quốc nhạc do
vua Quang Trung gởi sang cùng với sứ bộ Đại Việt (4).
Hội điển
Các thời
Trần, Lê, Nguyễn đều biên soạn hội điển, đó là bộ mặt văn hóa, tinh thần của
mỗi thời đại.
Thời Trần
có Hoàng triều đại điển, thời Lê trung hưng có Quốc triều hội điển (còn gọi
là Lê triều hội điển), thời Lê mạt có Quốc triều chính điển lục. Nhưng Hội điển
triều Nguyễn đã vượt xa các hội điển, đại điển hay chính điển các triều đại
trước. Nếu được dịch thuật (từ chữ Hán) và xuất bản đầy đủ, đó sẽ là một bộ
sách dày hơn một vạn trang.
Hội điển
ghi chép khá đầy đủ các công văn (chiếu chỉ, tấu sớ, phiến dụ) của triều đình
về các việc đã đem ra thi hành thuộc tất cả các bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình,
Công), các phủ (Tôn nhân, Nội vụ), các viện (Cơ mật, Tập hiền, Hàn lâm, Thái
y), các ty (hơn mười mấy ty), các tự (Đại lý, Thái thường, Quang lộc), các
giám (Khâm thiên, Quốc tử), các Các (Nội Các, Đông Các…).
Hội điển
ghi chép lại các công văn và các sự kiện chính, các sinh hoạt lớn từ Gia
Long năm thứ nhất (1802) đến Duy Tân năm thứ 8 (1914) trong ba phần :
- Phần
thứ nhất, có thể gọi là phần chính biên, là Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ,
ghi chép từ 1802 đến 1851 (Tự Đức năm thứ 4), một quyển thủ và 262 quyển,
mỗi quyển trên dưới 30 tờ in trên giấy lệnh hội khổ 30x20cm, tổng cộng hơn
8.000 tờ.
- Phần
thứ hai là Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, ghi chép từ 1852 đến
1889 (Thành Thái năm thứ nhất), 61 quyển, khoảng 2.000 tờ.
- Phần
thứ ba là Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên hậu thứ, ghi chép từ
1890 đến 1914 (Duy Tân năm thứ 8), 28 quyển, khoảng 850 tờ (tất cả được viết
bằng chữ Hán) (5).
Như vậy
bộ sách này đếm được hơn một vạn tờ và được biên soạn công phu liên tục
trong hơn 70 năm kể từ chỉ dụ đầu tiên của Thiệu Trị (1843) đến những trang
bản thảo cuối cùng (1914). Hơn mười bản in và bản chép tay hay sao chụp hiện
đang được tàng trữ tại Việt Nam, Pháp, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Phải đợi
gần một thế kỷ rưỡi mới có được bản dịch một công trình văn hóa - lịch sử
lớn, vì nguyên văn Hội điển là chữ Hán nên việc sử dụng, khai thác nó đã rất
hạn chế. Trong những năm 1965-1968, Hội điển đã được trích dịch và xuất bản
một phần nhỏ tại Sài Gòn (6).
Mãi đến
năm 1993 bản dịch toàn bộ phần chính biên do các bậc túc nho và chuyên gia
Viện Sử Học, Viện Hán Nôm Việt Nam thực hiện mới được nhà xuất bản Thuận Hóa
ở Huế công bố dưới nhan đề Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (15 tập) (7).
Phần tục
biên (61 quyển), gồm một bản in, một bản chép tay (4.700 trang) đã được dịch
và chưa xuất bản, hiện tàng trữ tại Viện Sử Học, Viện Hán Nôm (Hà Nội).
Phần tục
biên hậu thứ (28 quyển), một bản in (1917) hiện tàng trữ tại Thư Viện Học
Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) tại Paris, đang chờ được dịch và xuất
bản.
Lần đầu
tiên Hội điển được in và đến tay người đọc ở Quốc Sử Quán, ở Lục Bộ và ở các
tỉnh là vào năm 1868. phần chính biên đã được in lại năm 1886. Lần cuối cùng
Hội điển được in là vào những năm 1917, 1921.
Tầm quan trọng
của Hội điển
Tại sao
một bộ sách chữ Hán như Hội điển triều Nguyễn được biên soạn trong hơn 70
năm trời, đã được in đi chép lại nhiều lần ?
Tại sao
Hội điển, được dịch thuật và xuất bản muộn màng, vẫn không được quảng bá
rộng rãi trong giới Việt Nam học, Đông Phương học ?
Mặc dù đã
được không ít nhà nghiên cứu, nhà bác học như Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn,
Trần Văn Khê, Trần Nghĩa và François Gros, Philippe Langlet và các chuyên
gia của Đông Dương Văn Khố (Nhật Bản), của Viện Sử Học, Viện Hán Nôm (Việt
Nam) đề cao, hình như Hội điển vẫn chưa được đánh giá đúng mức là một công
trình lịch sử - văn hóa có một không hai trong di sản tinh thần của ông cha
ta.
Chúng ta
đã có những bộ sách lớn từng được xem như những bách khoa thư về sử học, y
dược học, văn hóa học như Vân đài loại ngữ của Lê Quí Đôn, Y tông tâm lĩnh
của Lê Hữu Trác, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thời cuối
Lê đầu Nguyễn (cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19). Đến giữa thế kỷ 19, ta lại có
Hội điển của triều Nguyễn cũng đáng được xem là một bộ bách khoa thư vô cùng
hấp dẫn vì dung lượng phong phú độc đáo của nó qua hơn 8.000 trang sách.
Giá trị lớn
của bộ Hội điển triều Nguyễn
Đọc "Tổng
mục lục" dày 57 trang của Hội điển (phần chính biên) đã được dịch và xuất
bản năm 1993 (tập 1), người ta cảm thấy choáng ngợp về số lượng hàng ngàn
tài liệu mà những nhà khoa học nhân văn thuộc các ngành khác nhau có thể sử
dụng để biên soạn các sách chuyên đề hay một cuốn lịch sử văn hóa văn minh
Việt Nam.
Những nhà
nghiên cứu lịch sử chính trị, pháp lý, kinh tế, quân sự… cần đọc hàng trăm
quyển mà Hội điển đã dành cho các điển chế và hoạt động của bộ Lại (quyển
7-35), bộ Hộ (quyển 36-68), bộ Binh (quyển 137-178), bộ Hình (quyển 179-204)
từ đầu thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 19.
Những nhà
nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo… cần tham khảo
ngót 100 quyển mà Hội điển đã dành cho bộ Lễ (quyển 69-136) và bộ Công (quyển
205-223). Hóa ra cái gọi là bộ Lễ thời quân chủ là một liên bộ rộng lớn bao
gồm các ngành văn hóa, giáo dục, đào tạo, thông tin, tuyên truyền, nghi lễ,
ngoại giao, tôn giáo, tín ngưỡng. Còn bộ Công là một liên bộ xây dựng, thủy
lợi, trị thủy, giao thông, vận tải, hàng hải.
Những nhà
địa lý học, kinh tế học, xã hội học… sẽ rất thích thú có được hình ảnh một
nhân dân cần cù lao động sáng tạo, ở một đất nước Đại Nam giàu có của thịnh
thời triều Nguyễn, qua danh mục hàng chục loại thuế đánh vào các hoạt động
nông công thương lâm ngư nghiệp, qua danh mục hàng trăm sản vật mà bộ Hộ thu
mua của nhân dân hay các địa phương phải dâng nạp cho vua : nào là gạo thơm,
quả ngon ở Thừa Thiên ; dừa và chanh ở Phú Yên, Long Tường ; chanh và loòng
boong ở Quảng Nam ; dưa hấu, bột hoàng linh, thịt cửu khổng, đậu tương, rượu
dâu ở Quảng Bình ; nào là cam đường ở Thanh Hóa, Hải Dương ; rượu ở Ninh
Bình, Nam Định ; sa lê, tuyết lê ở Cao Bằng, Tuyên Quang… và nhiều thời trân
khác nữa (quyển 64-67, quyển 100).
Nguồn tài liệu
văn hóa có một không hai
Qua Hội
điển triều Nguyễn, các nhà dân tộc học, âm nhạc học, ẩm thực học, văn hóa
học tha hồ nghiên cứu lễ hội cung đình, ca múa nhạc cung đình, ẩm thực cung
đình.
Cách nay
nửa thế kỷ các học giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề đã dựa vào Hội điển để
viết Những đại lễ và Vũ khúc của vua chúa Việt Nam. Giáo sư Trần Văn Khê đã
khai thác các quyển 69-72, 86-89, 99… của Hội điển và viết nên những trang
sinh động về ca múa nhạc triều Nguyễn, để rồi hôm nay tổ chức Unesco long
trọng công nhận âm nhạc cung đình Huế là một di sản văn hóa phi vật thể và
truyền khẩu của nhân loại (8) : tin vui này đã đến với chúng ta ngày
7-11-2003.
Những nhà
nghiên cứu văn hóa ẩm thực Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử có thể dựng lại
của một nền ẩm thực cung đình thời Nguyễn nhờ các tài liệu về yến lễ, tiệc
tùng, cổ bàn… được ghi chép chi tiết (quyển 59, 97-98, 130, 135, 237-238)
qua đó ta biết triều Nguyễn có một cơ quan chuyên trách ẩm thực cung đình.
Đó là Quang lộc tự, và đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực cung đình là tiệc yến
chiêu đãi các sứ đoàn. Tiệc tiếp sứ gồm ba hạng cỗ : cỗ hạng 1 là hai mâm 60
món ; cỗ hạng 2 : 7 mâm 40 món ; cỗ hạng 3 : 30 mâm 30 món. Các món ăn vừa
dân gian (chọn lọc) vừa sơn hào hải vị (yến sào, gân hươu, bào ngư, vi cá…)
được bày biện trong những chén kiểu, dĩa kiểu nhỏ xinh.
Hy vọng
phần còn lại của Hội điển sẽ được dịch thuật và xuất bản trong nay mai và
toàn bộ Hội điển sẽ được các nhà văn hóa học thừa nhận đúng mức giá trị lớn
của nó.
Xin lưu ý
: tất cả những người yêu mến và còn tha thiết với văn hóa văn minh Việt Nam
có thể đọc bản dịch tiếng Việt của bộ Hội điển triều Nguyễn (phần chính biên)
này tại Thư viện Học Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (Bibliothèque de l’Ecole
Française d’Extrême Orient-BEFEO), số 22 avenue du Président Wilson, 75016
Paris , ký hiệu VIET-HIST.791 (1-15).
Lê Văn Hảo
(Paris)
Chú thích và
tham khảo :
(1) Lê Văn
Hảo, Đồng Khánh địa dư chí, công trình địa lý học lịch sử lớn cuối thế kỷ
19, Thông Luận số 177, tháng 1-2004.
(2) Nguyễn
Xuân Hoa, Di sản văn hóa cố đô Huế, trong "Phác thảo chân dung văn
hóa Việt Nam", công trình tập thể, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000, tr. 395. Các tập Ngự đề… ấy là những tập thơ của Minh Mạng, Thiệu Trị
được minh họa bằng tranh vẽ theo công thức "nhất thi nhất họa" đã được Quốc
Sử Quán in vào thời Thiệu Trị. Thư viện Học Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp hiện
nay đang tồn trữ bộ Ngự đề Danh thắng đồ hội thi tập của Minh Mạng, dày 910
trang, khổ 28cmx18cm, có đầy đủ hình vẽ đính kèm (ký hiệu MF/1/2/272).
(3) Châu
bản triều Tự Đức 1848-1883, giáo sư Trần Nghĩa giới thiệu, Trung tâm
Nghiên cứu Quốc học và nhà xuất bản Văn Học, 2003, tr. 6-7.
(4) Trần Văn
Khê, La Musique Vietnamienne Traditionnelle, Presses Universitaires
de France, Paris, 1962, tr. 36-37.
(5) Trần Văn
Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I, nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội,
1984.
- Trần Nghĩa
và François Gros (đồng chủ biên), Di sản Hán Nôm Việt Nam, Thư mục đề
yếu, tập 1, 2, 3 (tiếng Việt và tiếng Pháp), nhà xuất bản Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1993.
(6) Nhu
viễn trong Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (quyển 132-136) Bộ
Quốc gia Giáo dục, Tủ sách Khảo cổ, tập I, II, Sài Gòn, 1965-1966.
- Bang giao
trong Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (quyển 128-131), Phủ Quốc vụ
khanh đặc trách văn hóa, Tủ sách Khảo cổ, 1 tập, Sài Gòn, 1968.
(7) Nội
các triều Nguyễn, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (chủ tịch hội đồng xuất
bản : Nguyễn Hồng Phong ; Ban dịch thuật, Ban hiệu đính, Ban biên tập :
nhiều người), Viện Sử Học và nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1993, 15 tập, khổ
14,5x20,5 cm, khoảng 8.500 trang.
(8) Trần Văn
Khê, Nhã nhạc cung đình Huế, Di sản văn hóa của nhân loại, tập san
Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, số ra ngày 21-11-2003, tr. 18-19, kèm ảnh.
Trần Kiều
Lại Thủy, Âm nhạc cung đình triều Nguyễn,
giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu, nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1997, 268
trang. |