Con
Đường Tri Thức Của Tôi
Isaiah
Berlin
(© 1998, The Isaiah Berlin Literary Trust and Henry Hardy)
Đa
nguyên luận
Tôi đi đến kết luận rằng có sự đa dạng của những lý
tưởng, cũng như có sự đa dạng của những nền văn hoá và
những tính khí. Tôi không phải là người theo tương đối luận.
Tôi không nói “Tôi thích cà-phê có sữa và anh thích cà-phê không
sữa hay tôi đề cao tính hoà nhã và anh ưa thích những trại tập
trung”. Mỗi chúng ta có những giá trị riêng, mà chúng ta không
thể nào ức chế hoặc sát nhập. Tôi tin rằng điều này sai. Nhưng
tôi tin rằng có sự đa dạng của những giá trị mà con người có
thể tìm đến và mong tìm đến. Và những giá trị này khác biệt
nhau. Những giá trị này không có hằng hà sa số : con số những
giá trị nhân bản, những giá trị mà tôi có thể theo đuổi và
đồng thời tôi vẫn giữ sắc thái nhân bản của tôi, đặc tính
nhân bản của tôi, chỉ có giới hạn – cho nó là 74, hay có thể
là 122, hay 26, nhưng có hạn, cho dù nó là số gì đi nữa. Và điều
khác biệt là nếu một người theo đuổi một trong những giá
trị đó, trong khi tôi, tôi không theo đuổi, tôi vẫn có thể
hiểu tại sao người này theo đuổi nó và sự thể sau này sẽ ra
sao, đối với người này, khi bị lôi cuốn phải theo đuổi giá
trị này. Do đó khả năng hiểu biết giữa con người đuợc thể
hiện.
Tôi nghĩ rằng những giá trị này có tính khách quan – có
nghĩa là bản chất những giá trị này, việc theo đuổi những giá
trị này là thành tố cấu tạo nên con người. Và đây là một định
đề khách quan. Đàn ông là đàn ông, đàn bà là đàn bà đó là
sự kiện. Và chó, mèo, bàn hay ghế không phải là sự kiện khách
quan. Và thành tố của sự kiện khách quan này là sự hiện hữu
của một số giá trị. Và con người, vẫn luôn lưu giữ nhân tính
của mình, có thể theo đuổi chỉ duy những giá trị này thôi.
Nếu tôi là một người đàn ông hoặc là một người đàn bà
với trí tưởng tượng khá phong phú (và lẽ cố nhiên tôi cần điều
này), tôi có thể hoà nhập vào trong một hệ thống giá trị không
nằm trong phạm vi giá trị của cá nhân tôi. Nhưng tôi nhận thức
được sự việc những người khác theo đuối những giá trị đó,
vì họ vẫn là con người, vì họ vẫn là những sinh vật mà tôi
có thể liên lạc, mà tôi chia sẻ một số giá trị chung. Vì đã
là người thì phải có một số giá trị chung nếu không họ không
còn là người nữa, và đồng thời cũng có một số giá trị khác
biệt, bằng không họ không còn khác biệt, và trên thực tế họ
khác biệt.
Chính vì vậy đa nguyên luận không phải là tương đối
luận - những giá trị đa dạng là khách quan, nó thuộc thành tố
cơ bản của nhân loại hơn là những sáng chế tùy tiện phát
xuất từ óc tưởng tượng viễn vông của con người. Tuy nhiên,
lẽ cố nhiên, nếu tôi theo đuổi một hệ thống giá trị nào đó
tôi có thể ghét bỏ một hệ thống khác. Và tôi có thể nghĩ
rằng hệ thống này gây tổn hại cho mô hình duy nhất của cuộc
sống mà tôi đang an hưởng hoặc chấp nhận cho chính bản thân tôi
và cho người khác. Có trường hợp tôi có thể tấn công nó, tôi
cũng có thể - trong những trường hợp cùng cực – phải khai
chiến với nó. Nhưng tôi vẫn nhận biết đó là mục tiêu của
con người. Tôi nhận thấy những giá trị của Quốc Xã đáng ghét.
Nhưng tôi có thể hiểu vì sao : bị nhồi nhét bởi những thông
tin sai lạc, tin theo những xác tín sai lầm về thực tế, một người
có thể tin tưởng rằng những giá trị này là con đường cứu
thoát duy nhất. Lẽ cố nhiên chúng ta phải đánh đổ chúng, bằng
chiến tranh nếu cần. Nhưng tôi không xem những người theo Quốc Xã,
như nhiều người vẫn làm, có căn cơ bệnh hoạn hay điên khùng.
Tôi chỉ nhận định là họ sai lầm nguy hiểm, hoàn toàn lệch
lạc về những sự kiện. Ví dụ như họ tin rằng một số thể
nhân là hạ đẳng, rằng chủng tộc là quan trọng, rằng chỉ có
giống Bắc Âu là thực sự có đầu óc sáng tạo, và vân vân. Tôi
hiểu vì sao con người, với lối giáo dục lầm lẫn, đầu óc
mang đầy ảo tưởng và sai lầm, có thể, mặc dù vẫn mang bản tính
con người, tin tưởng những điều này và phạm những tội ác mà
không ngôn ngữ nào tả xiết.
Nếu đa nguyên là một quan điểm có giá trị - và sự tôn
trọng giữa những hệ thống giá trị không hẳn là đối nghịch
với nhau nếu có thể thực hiện được - thì tinh thần bao dung và
những hệ quả tự do xuất hiện theo sau. Điều này không đuợc
thể hiện qua nhất nguyên luận (chỉ có một hệ thống giá trị
duy nhất là chân thực, tất cả những giá trị khác đều sai
lầm) hoặc là qua tương đối luận (những giá trị của tôi
thuộc về tôi, những giá trị của anh thuộc về anh, và nếu chúng
ta đụng độ, không may, cả hai chúng ta chẳng ai đúng cả). Tinh
thần chính trị đa nguyên của tôi là kết quả nhờ đọc ông
Vico và ông Herder, và nhờ hiểu biết cội nguồn của học thuyết
Lãng Mạn - qua sắc thái bạo động và bệnh hoạn của nó, nó đã
đi quá mức chịu đựng của con người.
Đối với chủ nghĩa quốc gia cũng vậy : tinh thần nhập
thuộc vào một quốc gia đối với tôi là một điều tự nhiên và
về cơ bản chẳng có gì để lên án hoặc là đáng chỉ trích. Nhưng
trong trạng thái nóng bỏng của nó - quốc gia của tôi tốt hơn
quốc gia của anh, tôi biết cách uốn nắn thế giới ra sao và anh
phải phục tùng vì anh không biết cách, vì anh thấp hèn hơn tôi,
vì quốc gia của tôi là nhất và quốc gia của anh thua xa quốc gia
của tôi và phải cúng hiến vật liệu cho quốc gia tôi, vì quốc
gia tôi là quốc gia duy nhất có chính danh để tạo dựng nên một
thế giới toàn hảo – thì là một hình thái cực đoan bịnh
hoạn có thể dẫn đến, và đã dẫn đến những cảnh hãi hùng
không thể tưởng tượng nổi, và hoàn toàn không phù hợp với hình
thái đa nguyên mà tôi đã cố gắng mô tả.
Cũng nên chú ý rằng, một cách ngẫu nhiên, có một số
những giá trị mà chúng ta ngày nay trên thế giới chấp nhận có
lẽ đã được tạo dựng bởi học phái Lãng Mạn vì trước đó
thế giới không hề có : ví dụ, ý niệm đa dạng là một điều
đáng quý, ý niệm một xã hội trong đó nhiều ý kiến được tôn
trọng, và những ý kiến khác biệt được tôn trọng này bao dung
lẫn nhau - xã hội này tốt hơn là một xã hội nhất khối trong
đó một tư tưởng duy nhất gắn liền mọi người với nhau. Không
một ai trước thế kỷ thứ mười tám có thể chấp nhận điều
này. Chân lý là duy nhất và ý niệm đa dạng khắc nghịch với nó.
Thêm nữa, ý niệm về lòng thành tín, được xem như một giá
trị, cũng là một điều mới lạ. Trở thành người hy sinh chết
cho chân lý mà chỉ cho chân lý mà thôi luôn luôn là một điều chính
đáng. Tín đồ Hồi Giáo, chết cho Islam, hóa ra là những sinh vật
kém cỏi, điên khùng, sai lầm vì đã chết cho một điều vô nghĩa
lý ; và đối với tín đồ Công Giáo, cả những tín hữu Tin Lành
và người Do thái và những người lương cũng như vậy cả. Sự
kiện họ giữ vững niềm tin của họ một cách thành tín không làm
cho họ khá hơn lên bởi vì điều quan trọng là có tính chính đáng.
Khi khám phá ra chân lý - như trong mọi nẻo đường của cuộc
sống - rằng thành quả là điều quan trọng nhưng không phải là
động lực. Nếu có một người nào đó nói với quý vị rằng
anh ta tin rằng hai với hai là mười bảy, và một người khác nói
: "Quý vị biết không, hắn nói như vậy không phải để gây
phiền hà với quý vị đâu, hắn nói như vậy không phải vì hắn
muốn khoe khoang hoặc vì hắn đã bị mua chuộc để nói điều
ấy mà là do hắn tin tưởng thực sự như vậy, hắn là người thành
tâm tin tưởng", và quý vị sẽ nói : "Dữ kiện này không
làm cho vấn đề sáng tỏ hơn, hắn nói điều vô nghĩa lý".
Đó là điều mà các tín hữu Tin Lành đang làm, dưới nhãn quan
của tín hữu Công giáo, và ngược lại. Càng thành tâm bao nhiêu
thì càng nguy hiểm bấy nhiêu. Không ai chú ý đến ý niệm thành tâm
cho đến khi lan tràn rộng khắp ý niệm cho rằng có hơn một
giải đáp cho một câu hỏi - đó là đa nguyên. Và điều này dẫn
đến việc đặt giá trị trên căn bản động lực hơn là hệ
quả, trên lòng thành tâm hơn là thành quả.
Kẻ thù của đa nguyên là nhất nguyên. Tinh thần xác tín
cổ xưa cho rằng chỉ có một sự hài hoà duy nhất về những chân
lý. Đó là nơi mà mọi sự - nếu nó thật sự chân chính - cuối
cùng rồi cũng đồng quy về một mối. Hệ quả của tinh thần này
(khác biệt với, nhưng liên quan tới điều mà Karl Popper gọi là
thiết yếu luận - đối với ông đó là căn nguyên của mọi tệ
hại) đưa đến việc kẻ nào hiểu biết điều khiển kẻ không
hiểu biết. Kẻ nào có lời giải đáp cho một số vấn đề lớn
của nhân loại phải được mọi người thuần phục. Vì chỉ có
họ mới biết tổ chức xã hội như thế nào, biết đời sống cá
nhân phải sống ra sao, biết văn hoá phải được phát triển ra
sao. Đây là lòng tin cổ xưa kiểu Plato, đặt lòng tin vào các vị
vua triết học, vì họ có chính danh để ra lệnh cho kẻ khác. Đã
luôn có những nhà tư tưởng nhất quyết cho rằng nếu chỉ có các
khoa học gia, hay là những người được huấn luyện trong tinh
thần khoa học, mới được đảm nhiệm trách vụ cai quản mọi
sự thì thế giới có lẽ sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Để trả
lời xác quyết này, tôi phải lên tiếng rằng không có một luận
cứ bào chữa nào, hay không có một lý do nào, có thể được
viện dẫn để cho phép một thành phần ưu tú có quyền lực độc
đoán vô hạn để cướp những quyền tự do căn bản của đa
số.
Có một người đã có lần nhận xét rằng thuở xa xưa đàn
ông và đàn bà được đem đi tế cho một số các thần linh, còn
thời buổi tân thời những thần tượng mới là "-isms"
(chủ nghĩa) đã thay thế cho họ. Gây đau đớn, giết chóc, tra
tấn nói chung đều bị lên án một cách xác đáng. Nhưng nếu
những điều này được thực hiện không vì lợi ích của cá nhân
tôi nhưng vì một chủ nghĩa (ism) - chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
quốc gia, chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa cộng sản, tín ngưỡng tôn
giáo tuân theo một cách si cuồng, hoặc nhân danh tiến bộ, hoặc là
để hoàn tất những định luật của lịch sử -
thì lại là chính đáng. Phần đông những nhà cách mạng tin
rằng để xây dựng một thế giới lý tưởng trứng cần phải đập
vỡ. Chắc chắn trứng đã bị đập vỡ - chưa bao giờ tàn bạo và
ở khắp mọi nơi như thời đại chúng ta - nhưng chả trứng còn lâu
mới tìm thấy và nó lùi mãi vào khoảng không gian bất tận. Đây
là một trong những hệ luận của chủ nghĩa nhất nguyên vô cương
hãm, như tôi đặt tên cho nó - một vài người gọi đó là óc
cuồng tín. Bởi vậy chủ nghĩa nhất nguyên là cội nguồn của
mọi thứ cực đoan.
Tự
do
Tự do chính trị là một đề tài mà tôi đã tận tâm biên
khảo hai bài tham luận trong những thập niên 1950. Bài thứ nhì,
tựa đề "Two Concept of Liberty" (Hai Ý Niệm Về Tự Do) (1)
đã khai mạc Giáo Đàn của tôi tại Oxford, và luận điểm chính là
phân biệt giữa hai ý niệm tự do (lời dịch giả : nơi đây tác
giả giải thích việc sử dụng chữ freedom và liberty có cùng một
ý và hoán chuyển cho nhau) tiêu cực và tích cực. Nói đến tự do
tiêu cực là tôi muốn nói đến sự thiếu vắng của những chướng
ngại vật ngăn cản hành động của con người. Ngoài những chướng
ngại vật do thế giới bên ngoài tạo nên, hoặc do những định
luật của sinh vật học, sinh lý học, tâm lý học điều khiển
con người thì đó là sự thiếu vắng tự do chính trị - đề tài
trọng tâm của bài tham luận của tôi. Ở đây những chướng
ngại là do con người tạo nên, cho dù là cố ý hoặc là không
cố ý. Phạm vi của tự do tiêu cực tùy thuộc vào mức độ
thiếu vắng của những chướng ngại do con người tạo nên - tùy
theo mức độ mà tôi được tự do đi theo một con đường này hay
con đường kia mà không bị ngăn chặn bởi những định chế
hoặc những kỷ luật do con người tạo nên, hoặc bởi những
hoạt động của một nhóm người đặc thù.
Nói rằng tự do tiêu cực chỉ giản dị có nghĩa là tôi
muốn làm gì tôi làm thì chưa đủ. Vì trong trường hợp này tôi
tự giải thoát khỏi những chướng ngại để thỏa mãn những ước
vọng của tôi bằng cách theo các vị tiên hiền nhẫn nhục chịu
đựng (Stoics) và diệt dục. Nhưng con đường này, con đường đi
đến diệt dục tiệm tiến có thể gặp những trở ngại, cuối cùng
lần hồi sẽ tước đoạt những sinh hoạt cơ bản và sống động
của con người. Nói cách khác, những con người hoàn toàn tự do là
những người con người đã chết, vì họ không còn dục vọng nên
họ không gặp chướng ngại. Điều mà tôi tư duy khác hơn, thật
ra, chỉ đơn giản là số lượng đường hướng mà trên đó con
người có thể bước đi, cho dù y có chọn lựa bước theo hay không.
Đó là một trong hai ý nghĩa căn bản đầu tiên về tự do chính
trị.
Có một vài người chống lại quan điểm của tôi, vẫn cho
rằng tự do phải có một mối tương quan ba chiều. Tôi có thể vượt
qua hoặc tháo gỡ hoặc không bị ngăn cản bởi những chướng
ngại chỉ vì mục đích muốn thực hiện những hành động hay
một hành động nào đó. Nhưng tôi không thể chấp nhận điều này.
Thiếu tự do trong ý nghĩa căn bản của nó là việc chúng ta giam hãm
con người trong tù hoặc là trói cột con người vào cây. Tất cả
những gì mà người này mong ước là bẻ gẫy xích xiềng, vượt
thoát xà-lim. Nhưng người này không nhất thiết tìm nhắm một
mục đích để thực hiện một hành động đặc biệt nào đó,
một khi người này được tự do. Trong một phạm vi ý nghĩa rộng
lớn hơn, đương nhiên, tự do có nghĩa là tự do thoát khỏi
những lề luật của một xã hội hoặc những định chế của nó,
thoát khỏi sự kềm tỏa của mãnh lực đạo đức hoặc vũ lực
thể chất thái quá, hoặc thoát khỏi tất cả những gì ngăn trở
những khả năng hành động, lý ra không bị ngăn trở. Điều này
tôi gọi là "tự do thoát khỏi".
Đề tài thứ hai của ý nghĩa tự do là tự do để. Đề tài
tự do tiêu cực của tôi được minh định qua câu trả lời của
câu hỏi "Tôi bị kiểm soát ở mức độ nào ?". Câu hỏi
cho ý nghĩa thứ hai của tự do là "Ai kiểm soát tôi ?".
Khi chúng ta bàn đến những chướng ngại do con người tạo nên, tôi
có thể tự đặt những câu hỏi "Ai quyết định hành động
của tôi, cuộc sống của tôi ? Tôi hành động như vậy, một cách
tự do, bất kể phuơng hướng tôi chọn ? Hay là tôi nhận lệnh
từ một trung tâm kiểm soát khác ? Có phải những hoạt động
của tôi được quyết định bởi các bậc cha mẹ, các thầy cô
giáo, các vị linh mục, các cảnh sát viên ? Có phải tôi chịu
sự điều khiển của một hệ thống lề luật, của một trật
tự tư bản, của một chủ nô, của một chính quyền (quân chủ,
thiểu số cai trị, dân chủ) ? Trong phạm vi nào tôi là chủ của
vận mạng tôi ? Những khả năng hành động của tôi có thể bị
giới hạn, nhưng bị giới hạn ra sao ? Ai ngăn cản con đường tôi
đi, bao nhiêu quyền lực họ có thể phô trương ?".
Đây là hai ý nghĩa trọng tâm của "tự do"
mà tôi chú tâm tầm cứu. Tôi nhận thức được rằng hai điều này
khác nhau, rằng có những giải đáp cho hai câu hỏi khác biệt này.
Tuy nhiên, vì chúng cùng một gốc, theo quan điểm của tôi chúng không
xung phá lẫn nhau - lời giải đáp cho câu hỏi này không nhất
thiết quy định lời giải đáp cho câu hỏi kia. Cả hai thứ tự
do đều là mục tiêu tối hậu của loài người. Và cả hai cần
được giới hạn vì cả hai ý niệm đã bị lệch hướng trong quá
trình lịch sử của nhân loại. Tự do tiêu cực có thể được
diễn giải qua việc thả lỏng kinh tế. Dựa vào đó, nhân danh
tự do, các chủ nhân được phép tiêu hủy mạng sống của những
thiếu niên trong hầm mỏ. Hoặc chủ nhân xí nghiệp phá hủy sức
khỏe và tâm tính của những công nhân trong công xưởng. Nhưng
theo quan điểm của tôi đó là một sự thoái hoá và đó không
phải là những gì mà ý niệm cơ bản tự do yêu cầu nơi con người.
Cũng có người nói rằng, thật là mỉa mai khi ta thông báo cho
một người nghèo rằng anh ta hoàn toàn tự do thuê một căn phòng
trong một khách sạn đắt tiền, mặc dù anh ta không đủ khả năng
để trả số tiền đó. Nhưng đây cũng là một sự lầm lẫn. Anh
ta có tự do để thuê một căn phòng tại đó. Nhưng anh ta không có
đủ phương tiện để sử dụng tự do của mình. Anh ta không có
đủ phương tiện có lẽ vì anh ta bị ngăn cản không thể kiếm
ra nhiều hơn vì một hệ thống kinh tế do con người tạo dựng.
Nhưng đó là việc thu hồi tự do để kiếm tiền, chứ không
phải là thu hồi tự do thuê phòng. Điều này có vẻ như là một
sự phân biệt có tính cách trí giả, nhưng đây là trọng tâm
của những cuộc thảo luận về tự do kinh tế và tự do chính
trị.
Ý niệm về tự do tích cực đã dẫn đến trong lịch sử
những lệch lạc vô cùng kinh hãi. Ai chỉ huy đời tôi ? Tôi
chỉ huy. Cá nhân tôi ? Ngu muội, lầm lẫn, thúc đẩy lúc này lúc
nọ bởi những đam mê và những động lực bộc phát không được
kìm hãm - như vậy phải chăng phạm vi cá nhân tôi chỉ có bấy
nhiêu đó thôi ? Có thể nào trong phạm vi cá nhân của tôi hiện
diện một bản thể cao hơn, duy lý hơn, tự do hơn, có khả năng
hiểu biết và khống chế những đam mê, sự ngu muội và những
khuyết điểm khác, mà tôi chỉ có thể đạt đến qua tiến trình
giáo dục và hiểu biết, một tiến trình chỉ được quản lý
bởi những ai khôn ngoan hơn cá nhân tôi, bởi những ai dạy bảo
cho tôi hiểu biết được bản ngã đích xác, "đích
thực", thâm sâu nhất của tôi, và con người của tôi ra sao
khi tôi đạt đến được mức toàn hảo của tôi ? Đây là một
quan điểm siêu hình khá nổi tiếng, theo đó tôi chỉ thực sự
được tự do và được tự quyết khi tôi thực sự có tinh thần
thuần lý - một xác tín thuộc về thời Plato. Và vì có thể chính
bản thân tôi không có đủ tinh thần thuần lý nên tôi phải tuân
theo những ai có óc thuần lý. Và nhờ óc thuần lý đó những người
này biết rõ điều gì tốt nhất không những cho chính bản thân
họ mà cho cả bản thân tôi nữa. Và họ có thể hướng dẫn tôi
theo con đường đi đến khai thức bản ngã chân thực của tôi và
giao trọng trách cho nó, nơi mà nó thực sự thuộc nhập. Tôi có
thể cảm thấy bị vây hãm - thực sự bị đè bẹp - bởi những
quyền thế này. Nhưng đây chỉ là ảo giác mà thôi. Khi tôi lớn
lên và đạt được mức độ trưởng thành đầy đủ, đạt đến
"bản ngã" chân thực của tôi, tôi sẽ hiểu rằng tôi
sẽ hành động cho bản thân tôi đúng như những gì họ đã làm
cho tôi, nếu như tôi khôn ngoan như họ bây giờ mà bản thân tôi
vẫn còn trong trạng thái thấp hèn.
Nói tóm lại, họ hành động thay mặt cho tôi, vì quyền
lợi của bản ngã cao thượng của tôi, bằng cách kiểm soát bản
ngã thấp hèn của tôi. Nhờ vậy tự do đích thực của bản ngã
thấp kém được thể hiện qua việc tuân phục hoàn toàn những
bậc hiền giả, những vị hiểu biết chân lý, những thành phần
ưu tú của các đấng tiên hiền. Hoặc là tôi phải tuân phục
những ai hiểu biết định mệnh của nhân loại ra sao - và nếu
Marx lý luận đúng - thì đó là Đảng (chỉ có Đảng mới nắm
vững những nhu cầu của những mục tiêu thuần lý của lịch
sử) mới có thể uốn nắn và hướng dẫn tôi, cho dù bản ngã
thực nghiệm nghèo nàn của tôi mong ước đi con đường nào đi
nữa. Và chính bản thể của Đảng cũng phải được hướng dẫn
bởi những cấp lãnh đạo sáng suốt. Và sau cùng bởi một người
lãnh đạo vĩ đại nhất và khôn ngoan nhất.
Không có một lãnh tụ độc tài nào trên thế giới mà không
áp dụng phương pháp luận lý này để biện minh cho việc đàn áp
tồi bại nhất. Nhân danh một bản thể lý tưởng mà vị lãnh
tụ này, để tìm cách thực hiện cho có hiệu quả, đã sử dụng
những phương tiện có thể một phần nào tàn bạo và mới thoạt
nhìn (prima facie) đã thấy ghê tởm về mặt đạo đức (prima facie
chỉ áp dụng cho bản ngã thực nghiệm thấp hèn). Người
"kỹ sư của tâm hồn con người" - để sử dụng câu
của Stalin (2) - hiểu biết rõ
ràng nhất. Kỹ sư này thực hiện những điều anh muốn thực
hiện không chỉ đơn thuần nhằm mục đích tận dụng hết khả năng
của mình cho nước nhà mà còn hành động nhân danh cả quốc gia,
nhân danh những gì mà quốc gia sẽ hành động cho chính bản thể
quốc gia nếu quốc gia đạt đến trình độ hiểu biết lịch sử
này. Đây là một biến thái lệch lạc to lớn mà ý niệm tự do tích
cực đã dẫn đưa đến. Dù
phát xuất từ một lãnh tụ Mác-xít, từ một vị vua, từ một tên
độc tài phát-xít, từ các bậc thầy của một Giáo Hội chuyên
quyền hoặc của một giai cấp hoặc của một quốc gia độc đoán,
chế độ chuyên chế này tìm kiếm nơi con người cái bản ngã
"chân thực" bị giam hãm để "giải phóng" nó,
nhờ đó bản ngã này có thể đạt đến trình độ của những
vị ban phát lệnh.
Điều này đưa chúng ta trở ngược lại ý niệm ngây ngô
cho rằng chỉ có một lời giải đáp chân thực duy nhất cho mọi
câu hỏi. Nếu tôi biết câu giải đáp chân thực và anh không
biết, không đồng ý với tôi, chỉ vì anh ngu muội. Nếu anh biết
được chân lý, anh nhất thiết phải tin những gì tôi tin. Nếu
anh tìm cách không tuân lệnh của tôi, điều này chứng tỏ là anh
sai lầm, tại vì chân lý đã không được măïc khải cho anh như
đã được măïc khải cho tôi.
Điều này biện minh cho một số những hình thái đàn áp và
nô lệ hoá hãi hùng nhất của lịch sử nhân loại. Và quả thật
đây là một lối diễn giải ý niệm tự do tích cực nguy hiểm
nhất và, đặc biệt ở thế kỷ chúng ta, thô bạo nhất.
Tất
yếu luận
Một bài tham luận khác của tôi về tự do tựa đề là
"Tính bất khả đào thoát của lịch sử". Trong bài này tôi
minh định rằng tất yếu học thuyết là một chủ thuyết đã
được các triết gia chấp nhận một cách vô cùng phổ cập trong
hàng mấy trăm năm. Tất yếu học thuyết xác định rằng mọi
biến cố đều có nguyên do. Do đó biến cố không thể tránh thoát
được và thế nào cũng xảy ra. Đây là nền tảng của khoa học
vạn vật. Định luật của thiên nhiên và những ứng dụng của nó
- toàn bộ khoa học thiên nhiên - đặt nền tảng trên ý niệm
một trật tự hằng cửu mà khoa học đang tìm tòi. Nhưng nếu như
tất cả những phần còn lại của thiên nhiên bị chi phối bởi
những định luật này, con người đơn phương có thể nào thoát
khỏi ? Khi một người, như mọi người bình thường (nhưng không
hẳn như phần đông các khoa học gia và triết gia), cho rằng khi y
đứng dậy từ chiếc ghế, y không tự động làm như vậy. Y làm
như vậy vì y đã lựa chọn làm như vậy. Nhưng thực ra y không
cần phải lựa chọn. Khi y nói lên điều này, y được cho biết
đó là một ảo tưởng. Và mặc dù công trình cần thiết của các
nhà phân tâm học chưa được hoàn tất nhưng một ngày nào đó
sẽ được hoàn tất (hoặc giả trên nguyên tắc bằng mọi giá có
thể được hoàn tất). Và nhờ đó y sẽ biết những gì biểu
hiện nên con người y và những gì y làm. Tất cả tất yếu đều
phải là như vậy, và không thể khác được. Tôi nghĩ học
thuyết này sai, nhưng trong bài tham luận này tôi không tìm cách
chứng minh điều này hoặc phủ định tất yếu luận. Thật ra, tôi
không chắc điều này có thể chứng minh hay phủ định được.
Mối ưu tư của tôi là việc tự đặt hai câu hỏi. Tại sao các
triết gia và một số người khác nghĩ rằng con người hoàn toàn
tuân theo định luật ? Và, nếu họ tuân theo, điều này có tương
hợp với cảm tính luân lý và phong cách bình thường như mọi người
thường hiểu ?
Luận đề của tôi có hai lý do chính hỗ trợ cho chủ
thuyết tất yếu luận áp dụng cho con người. Lý do đầu tiên là,
từ khi khoa học vạn vật - có lẽ là một thành quả lớn nhất
trong lịch sử của nhân loại - có vẻ phi lý khi cho rằng chỉ có
con người không lệ thuộc những định luật của thiên nhiên đã
được các khoa học gia khám phá. (Điều mà các triết gia thế
kỷ thứ 18 thực sự xác quyết). Lẽ cố nhiên câu hỏi đặt ra
ở đây không phải là con người có hoàn toàn vượt ra khỏi
những định luật này hay không. Không một ai ngoại trừ người
điên minh xác là con người không lệ thuộc vào cơ cấu sinh lý và
tâm lý, vào môi trường hay những định luật của thiên nhiên. Câu
hỏi độc nhất là : Có phải vì lý do đó mà tự do con người hoàn
toàn tiêu tan ? Có một góc cạnh nào đó cho phép con người có
thể hành động theo sở thích của mình và không bị ép buộc
lựa chọn bởi những nguyên do trước đó ? Đây có thể là một
góc cạnh rất nhỏ bé trong quang cảnh bao trùm của thiên nhiên. Nhưng
trừ phi góc cạnh đó hiện hữu, ý thức của con người về tự
do của mình, lẽ đương nhiên phổ cập hoàn vũ - sự kiện đa
số con người tin rằng có một số hành động tuân theo ý chí
tự do của họ mặc dù một vài hành động của họ có tính cách
máy móc - là một ảo giác to lớn, kể từ thuở nhân loại hiện
diện trên mặt đất, từ khi ông A-dong ăn trái táo, mặc dù là
được dặn không được làm như vậy và không trả lời rằng
"Tôi không thể cưỡng được, tôi không làm điều đó một cách
tự do vì Eva đã ép buộc tôi phải làm điều đó".
Lý do thứ hai hỗ trợ cho tinh thần xác tín về tất yếu
luận là việc cho rằng một số lớn hành vi con người làm là do
những nguyên cớ không tùy thuộc cá nhân con người, và vì vậy
khiến cho họ có cảm tưởng họ không đáng khiển trách trong công
việc họ làm. Khi tôi phạm một lỗi lầm, hoặc phạm một điều
sai trái hay một tội ác, hoặc tôi làm bất cứ điều gì mà tôi
nhìn nhận và những người khác nhìn nhận là sai quấy hay bất
hạnh, tôi có thể nói :
"Làm sao tôi có thể tránh được điều ấy ? Vì tôi đã được
nuôi nấng dạy bảo theo con đường đó" hoặc "Đó là
bản chất của tôi, điều mà định luật thiên nhiên có trách
nhiệm" hoặc "Tôi tùy thuộc vào một xã hội, vào một
giai cấp, vào một Giáo Hội, vào một quốc gia, trong đó mọi người
đều làm như vậy và chẳng có ai lên án điều này cả"
hoặc "Tâm lý của tôi đã được nhào nắn theo chiều hướng
hành xử của cha mẹ tôi đối với nhau và đối với tôi và được
đào luyện theo những trạng huống kinh tế và xã hội nơi mà tôi
bị đặt vào hay bị ép vào, và tôi không có khả năng lựa chọn
để hành động một cách khác" hoặc, cuối cùng, "Tôi
theo lệnh".
Đối nghịch với điều này, một số đông cho rằng mọi cá
nhân đều có ít nhất hai lựa chọn mà đương sự có thể làm
được, hai đường hướng mà đương sự có thể thực hiện được.
Khi Eichmann nói "Tôi giết dân Do-thái vì tôi nhận lệnh giết.
Nếu tôi không làm điều này, chính bản thân tôi sẽ bị
giết", người ta có thể đáp lại rằng "Tôi hiểu là
việc lựa chọn để bị giết rất khó với ông, nhưng trên nguyên
tắc ông có thể lựa chọn điều này nếu ông quyết định chọn
nó. Không có một cưỡng bách rõ rệt nào, theo như thiên nhiên
vốn có, khiến ông phải hành động như ông đã hành động".
Quý vị có thể nói rằng thật là vô lý khi mong chờ thiên hạ
phải hành xử theo cách chọn những hiểm nguy to lớn cho mình. Như
vậy, mặc dù trường hợp họ quyết định hành động như thế
khó có thể xảy ra, nhưng trên bình diện thuần túy ngôn từ, họ
có thể lựa chọn hành động như vậy. Việc hy sinh tử đạo không
có ai trông chờ - nhưng nó có thể được chấp nhận - và không có
ai mong đợi nên chính vì vậy, ai cũng khâm phục hành động này.
Quả là có nhiều lý do để con người lựa chọn và tiếp
nhận tất yếu luận trong lịch sử. Nhưng nếu con người tiếp
nhận ý niệm này, thì một hệ quả luận lý nan giải sẽ tiếp
diễn, để chỉ đưa đến một mẫu cuối cùng không thể nào khác
hơn. Điều này có nghĩa là chúng ta không thể nói với bất cứ
một ai - dựa trên lý đoán là đương sự có thể tự chế, hoặc
là làm một điều gì khác - câu :
"Anh có bị ép buộc phải làm điều đó không ? Tại sao anh
phải làm như vậy ? Toàn bộ luân lý thường thức của chúng ta,
nơi chúng ta nói về nhiệm vụ và bổn phận, điều phải và điều
quấy, lời tán dương hay lời khiển trách về mặt đạo đức -
phương cách mà con người được tán dương hay bị lên án, được
tưởng thưởng hay bị trừng phạt, vì đã hành xử theo đường hướng
mà họ không bị ép buộc hành xử như vậy, trong khi họ có thể
hành xử một cách khác - tất cả hệ thống xác tín và ứng
dụng này mà trên đó, theo thiển nghĩ của tôi, tất cả
luân lý thường thức được đặt căn bản, hàm chứa ý
niệm trách nhiệm. Và trách nhiệm dẫn đến khả năng lựa chọn
giữa đen và trắng, đúng và sai, thú vui và bổn phận. Cũng như,
trên một phạm vi rộng rãi hơn, sự lựa chọn giữa những hình
thức sinh sống, những hình thức chính quyền, và hằng hà sa số
những giá trị đạo đức mà đại đa số con người, cho dù cho
họ có ý thức hay không ý thức điều này, đều áp dụng như
vậy trong cuộc sống thực tại.
Nếu tất yếu luận đuợc chấp nhận, ngữ vựng của chúng
ta cần phải thay đổi một cách toàn diện. Tôi không nói rằng điều
này không thể xẩy ra trên nguyên tắc, nhưng nó vượt xa những gì
mà đại đa số có thể đối đầu. Ở mức độ tối hảo,
những tiêu chuẩn thẩm mỹ sẽ thay thế cho giá trị luân lý. Quý
vị có thể nhìn ngắm hay ca tụng một nhóm người vì họ đẹp
trai hay rộng lượng hay có khiếu âm nhạc. Nhưng đây không phải
là một vấn đề lựa chọn mà là "họ được cấu tạo như
vậy". Việc tán tụng có tính cách luân lý cũng phải theo
một hình thức như vậy. Nếu tôi khen ngợi anh vì anh đã cứu
mạng sống của tôi bất chấp tính mạng của anh, tôi ngụ ý :
thật là tuyệt vời vì anh được cấu tạo nên như vậy để không
thể tránh được việc anh đã làm. Và tôi vui mừng vì đã gặp
gỡ được một người có quyết tâm cứu mạng tôi, chứ không
gặp người khác có quyết tâm nhìn sang hướng khác. Phong cách đáng
kính hay đáng khinh, ý tìm thú vui và tinh thần tử đạo anh dũng,
lòng can đảm hay hèn nhát, tính dối trá hay lòng chân thật, có
những phản ứng thích đáng trước sự cám dỗ thử thách - tất
cả những điều này sẽ giống như vẻ đẹp trai hay xấu trai, cao
hay lùn, già hay trẻ, trắng hay đen, cha mẹ gốc Anh hay gốc Ý :
một điều mà chúng ta không thể cải đổi, vì mọi sự đã được
ấn định. Chúng ta có thể hy vọng sự vật tiến triển như chúng
ta mong muốn. Nhưng chúng ta không thể làm bất cứ điều gì để
ảnh hưởng đến nó vì bản thể chúng ta đã được cấu tạo
khiến chúng ta không thể cưỡng lại mà bắt buộc phải hành động
theo một kiểu cách nào đó. Lẽ dĩ nhiên, chính ý niệm hành động
nói lên sự chọn lựa. Nhưng nếu sự chọn lựa đã được định
sẵn, như vậy sự khác biệt giữa hành động và
tác phong là gì?
Đối với tôi thật là mâu thuẫn khi một vài phong trào (chính
trị) đòi hỏi hy sinh và đồng thời họ tin vào tất yếu luận.
Lấy thí dụ, chủ nghĩa Mác-xít, được đặt trên nền tảng
của tất yếu luận lịch sử - những giai đoạn quá độ mà xã
hội phải trải qua trước khi đạt đến trình độ toàn hảo - ra
lệnh thi hành những hành động gây đau đớn và nguy hiểm, cưỡng
ép và tàn sát, đôi lúc cũng đau đớn không kém cho cả đôi bên
sát thủ lẫn nạn nhân. Nhưng nếu lịch sử tất yếu sẽ đi đến
một xã hội toàn hảo, tại sao con người phải hy sinh mạng sống
cho một tiến trình mà tiến trình này không cần đến sự hỗ
trợ của con người cũng sẽ đạt tới mục tiêu một cách mỹ mãn
và tốt đẹp ? Quả nhiên con
người có một cảm giác thật lạ lùng là, cho dù tất cả các
vị tinh tú trong tiến trình di động hỗ trợ cho quý vị, nhờ
vậy mà mục tiêu của quý vị toàn thắng, thì quý vị cũng phải
hy sinh bản thân để rút ngắn tiến trình, để đưa những đau đớn
sinh nở của một trật tự mới đến gần hơn, như Mác đã nói.
Nhưng sẽ có thể thực sự thuyết phục được bao nhiêu người
sẵn sàng trực diện với những hiểm nguy đó chỉ với mục đích
là rút ngắn lại một tiến trình, mà cuối cùng cũng sẽ đạt đến,
dù họ thành công hay thất bại đi nữa ? Điều này luôn làm cho tôi
bàng hoàng và cũng làm cho người khác bàng hoàng.
Tất cả những điều này tôi đã thảo luận trong một bài
thuyết trình của tôi về vấn đề này mà cho đến nay vẫn còn gây
tranh luận. Nó đã được bàn thảo và tranh cãi rất nhiều và
hiện nay vẫn tiếp tục.
Theo
đuổi một lý tưởng
Có một đề mục mà tôi đã có lần viết, và đó là ý
niệm một xã hội toàn hảo, giải đáp cho tất cả bệnh tật
của loài người. Có một vài philosophes (nguyên văn của tác giả)
Pháp của thế kỷ thứ 18 nghĩ rằng xã hội lý tưởng mà họ
mong đợi tất yếu thế nào cũng đến. Những người khác lại bi
quan hơn cho rằng những khuyết điểm của con người không thể nào
đem lại một xã hội như vậy. Có người nghĩ rằng tiến trình
đi đến xã hội này là tất yếu. Lại có người nghĩ rằng chỉ
với cố gắng phi thường của con người mới đạt đến điều này,
nhưng lại không thể làm được như vậy. Dù sao đi nữa, chính ý
niệm một xã hội toàn hảo hàm chứa ý niệm một thế giới toàn
hảo. Trong thế giới đó tất cả những giá trị lớn, mà dựa trên
đó con người đã từng sống khá lâu, có thể được áp dụng
chung với nhau, tối thiểu là trên nguyên tắc. Ngoài sự kiện là
ý tưởng này có vẻ hão huyền đối với những ai nghĩ rằng
một thế giới như vậy không thể nào đạt đến được vì
những trở ngại vật chất và tâm lý - hoặc là sự ngu muội vô
phương cứu chữa, sự yếu đuối, hoặc sự thiếu vắng thuần lý
tính của con người - còn có một phản kháng mãnh liệt vô cùng
đối với ý niệm này.
Tôi không rõ có ai đã nghĩ ra điều này chưa. Nhưng theo suy
luận của tôi, có một vài giá trị căn bản có thể tương hợp
với nhau và có một số không tương hợp. Tự do, trên mọi bình
diện, là một lý tưởng hằng cửu của con người, cho dù là
của cá nhân hay của xã hội. Nhưng tự do tuyệt đối (phải được
thể hiện trong một thế giới toàn hảo) không tương hợp với bình
đẳng tuyệt đối. Nếu con người được tự do làm những điều
gì mình ưa thích, như vậy kẻ mạnh sẽ đè bẹp kẻ yếu, chó sói
sẽ ăn thịt cừu con, và bình đẳng không còn nữa. Nếu bình đẳng
tuyệt đối muốn đạt đến, thì phải ngăn ngừa con người không
cho phép trội hơn nhau, về mặt vật chất cũng như về mặt trí
tuệ hay về mặt tinh thần, nếu không bất bình đẳng sẽ xuất
hiện. Người chủ trương chủ nghĩa vô cơ cấu là Bakunin. Ông tin
tưởng bình đẳng là trên hết và nghĩ rằng phải đóng cửa các
viện đại học vì các viện này nuôi dưỡng những con người có
học khiến những người này có phong cách trưởng thượng đối
với người không có học. Và điều này gây ra bất bình đẳng xã
hội. Cũng tương tự như vậy, một thế giới hoàn toàn công
bằng - và ai giám chối cãi đây không phải là một trong những giá
trị cao thượng nhất của con người - không tương hợp với lòng
khoan dung tuyệt đối. Tôi không cần biện luận nhiều về quan điểm
này : hoặc là luật pháp cứng rắn, hoặc là con người khoan dung.
Nhưng cả hai giá trị không thể nào thực hiện cùng lúc được.
Một lần nữa, sự hiểu biết và hạnh phúc có thể tương
hợp hay không tương hợp với nhau. Các nhà tư tưởng thuần lý
cho rằng hiểu biết luôn luôn giải phóng con người, khiến con người
không trở nên nạn nhân của những thế lực mà con người không
hiểu đến. Trong một chừng mực nào đó điều này chắc chắn là
đúng. Nhưng nếu tôi biết tôi bị bệnh ung thư điều này không
khiến tôi hạnh phúc hơn hay tự do hơn. Tôi phải lựa chọn giữa
luôn luôn hiểu biết càng nhiều càng tốt và chấp nhận có
những trường hợp sự ngu muội có thể là một chân hạnh phúc.
Không gì hấp dẫn hơn là sự sáng tạo tự phát, sức sinh động
tự nhiên, trăm hoa ý kiến đua nở tự do, những tác phẩm nghệ
thuật. Nhưng những điều này ít khi tương hợp với khả năng
tổ chức chu đáo và hữu hiệu. Thiếu vắng khả năng này ngay
cả một xã hội tương đối ổn định cũng không thể tạo dựng
được.
Tự do và bình đẳng, tính hồn nhiên bộc phát và trật tự
ổn định, hạnh phúc và hiểu biết, lòng khoan dung và luật pháp
công minh - tất cả là những giá trị tối thượng của con người
và tự chúng đã là giá trị. Tuy nhiên khi những giá trị này không
tương hợp với nhau, không thể thực hiện cùng một lúc thì cần
thiết phải lựa chọn. Đôi khi phải chấp nhận những sự mất mát
to lớn để theo đuổi một mục tiêu thuận lợi tối hậu nào đó.
Nhưng, theo thiển nghĩ của tôi, nếu điều này không những đúng
về mặt thực nghiệm mà còn đúng về mặt khái niệm - có nghĩa
là bắt nguồn từ chính ý niệm của những giá trị đó - thì ý
tưởng về một thế giới toàn hảo trong đó tất cả mọi điều
thiện đều được thực hiện là một sự kiện không thể
hiểu được. Ý tưởng này trên thực tế bất túc về mặt
tư tưởng. Và nếu nó bất túc, và tôi thấy không thể nào khác
được, thì ngay ý niệm về một thế giới toàn hảo, vì nó mà
không có hy sinh nào quá to lớn, cũng phải tan biến trong trí óc.
Trở về lại với các Nhà Bách Khoa và những đồ đệ của
Mác và tất cả những phong trào khác mà mục tiêu là đạt đến
một cuộc sống toàn hảo. Dường như chủ thuyết này cho rằng
phải chấp nhận tất cả những sự tàn ác kinh hồn. Vì nếu không
có những sự thể này thì lý tưởng không thể nào đạt được.
Tất cả những biện minh để đập vỡ trứng ngõ hầu làm nên
chả trứng tối hậu, tất cả những hung bạo, những mạng sống
hy sinh, những cảnh tẩy não, tất cả những cuộc cách mạng,
tất cả những gì có lẽ đã khiến thế kỷ này trở nên hãi hùng
hơn mọi thế kỷ khác từ trước đến nay, đã xảy ra ở Tây Phương,
đều chỉ là con số không. Vì một vũ trụ toàn hảo không những
không đạt đuợc mà còn không thể chấp nhận được về mặt tư
tưởng. Và tất cả những gì đã được thực hiện để xây
dựng nó được đặt trên nền tảng một ngụy luận trí thức vô
cùng to lớn.
Isaiah
Berlin
Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngư
Ghi
chú của tác giả :
(1) Phát hành năm 1958, được ghi trong hai bộ tham luận của
tác giả : Four Essays on Liberty (Oxford University Press 1969) và The
Proper Study of Mankind : An Anthology of Essays (Farrar, Straus and Giroux,
1998).
(2) Ghi chú của Henry Hardy : Stalin dùng câu "những kỹ sư của tâm hồn con người" trong một bài diễn văn về vai trò của các văn sĩ Xô-viết, đọc tại nhà của Maxim Gorky, ngày 26-10-1932. Thủ bút được ghi trên một bản văn không in ấn lưu trữ tại văn khố Gorky - K.L.Zelinsky, Vstrecha pisatelei s I.V.Stalinym (Một cuộc gặp gỡ của các văn sĩ với I.V.Stalinym) - và lần đầu tiên được phát hành, bằng tiếng Anh, tại A. Kemp-Welch, Stalin and the Literary Intelligentsia (Stalin và giới trí thức văn nghệ sĩ), 1928-1939 (Mac Millan UK 1991), trang 128-131 ; để tìm câu này xem trang 131 (và nguyên bản tiếng Nga, Inzhenery chelovecheskikhdush, I.V.Stalin, Sochineniya (Moscova, 1946-1967), tập 13, trang 410.