Thời sự quốc tế
Cứu nguy phong trào toàn cầu hóa
Nguyễn
Gia Kiểng
Việc kỷ niệm rầm rộ hai năm cuộc tấn công ghê rợn
của tổ chức khủng bố Al Qaeda đã khiến dư luận ít chú ý
tới một biến cố quan trọng khác : sự thất bại hoàn toàn
của hội nghị Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO) tại Cancun,
Mexico. Các đại biểu đã chia tay nhau mà không thỏa thuận về
một điểm nào cả, ngoài việc duy trì quyết định sẽ gặp lại
nhau vào cuối năm 2004. Và họ chia tay nhau một cách bình thản, không
tiếc.
Nạn nhân đầu tiên của thất bại này là các nước xuất
cảng bông gòn tại châu Phi, đặc biệt là Nigeria và Mali. Họ hy
vọng Mỹ sẽ hủy bỏ, hay ít nhất giảm bớt, tài trợ cho ngành
trồng bông tại Mỹ để có thể cạnh tranh được với bông của
Mỹ, đang bán dưới giá thành nhờ được tài trợ. Nông dân châu
Phi sẽ phải sống những ngày rất điêu đứng. Các nạn nhân sau
đó là toàn bộ các nước chưa phát triển xuất khẩu nông phẩm,
trong đó có Việt Nam. Các nước giàu có sẽ tiếp tục tài trợ
cho nông dân họ, cho phép nông phẩm của họ bán với giá rẻ và
buộc các nước nghèo khác cũng phải hạ giá. Việt Nam là một
trong những nước thiệt hại nhiều nhất. Giá café sụp đổ, các
vườn café của ta phá sản vì giá bán không đủ để trang trải
chi phí thu hoạch. Nhiều người đã phải bỏ vườn ra đi.
Sự thất bại của hội nghị WTO tại Cancun lần này không
phải do các cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa như tại Seattle năm
1999. Sự động viên của phe chống toàn cầu hóa đã rất yếu. Lý
do thất bại lần này là các nước chưa phát triển đã rất mù
quáng. Một khối 22 nước, được gọi là Nhóm 22, hay G22, đã liên
kết với nhau, với bốn đầu tàu là Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và
Indonesia, quyết tâm đặt những yêu sách gay go với các nước phát
triển. Họ đã thành công làm hội nghị tan vỡ. Nhưng quả là
một thắng lợi cay đắng. Mỗi người ra về, không có gì thay đổi,
và nông dân các nước nghèo
hy vọng ở một số thay đổi trở lại với tình trạng bi đát như
trước. Họ không biết rằng Hoa Kỳ và châu Âu không còn tha
thiết gì với trào lưu toàn cầu hóa nữa và không mong gì hơn là
hội nghị WTO lần này thất bại hoàn toàn. Cần nhấn mạnh lần
này vì tương lai có thể khác.
Hội nghị này làm người ta nhớ lại tình hình Tiệp Khắc
(Czechslovakia) tháng 6 năm 1992. Tiệp Khắc là một liên bang được
thành lập sau thế chiến I với hai nước Tiệp (Czech) và Khắc
(Slovakia). Hai nước cộng hòa ở hai mức độ phát triển khác
nhau, người Slovak có cảm tưởng mình bị lép vế trong liên bang,
trong khi người Czech, ngược lại, nghĩ rằng Slovakia là một gánh
nặng đối với họ. Sau khi khối cộng sản sụp đổ, viễn ảnh
tham gia Liên Hiệp Châu Âu khiến người Czech muốn trút bỏ gánh
nặng này để tham gia Liên Hiệp Châu Âu với tư cách Cộng Hòa
Czech. Người Slovak cần người Czech nhưng lại đưa ra nhiều yêu sách
đòi được thỏa mãn mới chịu ở lại liên bang. Phía Czech chỉ
đợi có thế nên bèn nắm cơ hội giải tán liên bang để đường
ai nấy đi. Phía Slovakia kêu trời nhưng đã muộn.
Nhưng tại sao Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu lại không tha
thiết với toàn cầu hóa và WTO nữa ? Lý do cơ bản là phong trào
toàn cầu hóa chủ yếu chỉ có lợi cho các nước chưa hoặc kém
phát triển. Nó mở thị trường các nước phát triển cho các nước
kém mở mang, nó cũng bỏ hay hạ giá biểu quan thuế. Mặt khác WTO
đặt ra những qui luật chung cho thương mại quốc tế áp dụng cho
mọi quốc gia, mà qui luật nhắm trước hết bảo vệ kẻ yếu,
kẻ mạnh không cần luật vì đã có sức mạnh.
Trước khi đến hội nghị, nhiều nước thuộc khối G22 đã
không đọc kỹ và nghiền ngẫm phúc trình của Ngân Hàng Thế
Giới (WB). Theo phúc trình này thì hiện tượng toàn cầu hóa đã
đặc biệt có lợi cho các nước chưa phát triển. Các con rồng châu
Á sở dĩ đã đạt được những thành quả ngoạn mục trong hai
thập niên 1980 và 1990 là nhờ sự gia tăng ngoại thương và trao đổi
quốc tế. Cũng theo phúc trình này thì trong thời gian mười hai
(12) năm sắp tới nếu những dự định hạ giá biểu quan thuế
của WTO được thực hiện thì sẽ làm tổng sản lượng thế
giới tăng 500 tỷ USD và kẻ hưởng lợi chính là các nước đang
phát triển. Không cần phải đọc phúc trình này cũng hiểu là
phong trào toàn cầu hóa có lợi cho các nước đang phát triển :
trong hai thập niên 1980 và 1990 các nước châu Á tăng trưởng xấp
xỉ 10% mỗi năm trong khi Hoa Kỳ và châu Âu sẽ rất vui mừng nếu
vượt quá được 3%. Các nước tư bản phát triển dần dần
nhận ra rằng phong trào toàn cầu hóa này không có lợi cho họ
bằng cho các nước đang phát triển và họ không chấp nhận để
bị lên án là những kẻ trục lợi nữa.
Nếu không có một luật thương mại chung cho cả thế giới
thì sẽ chỉ còn những thỏa ước thương mại khu vực hay song phương
mà thôi, và trong các thảo luận song phương này một nước như
Mali sẽ không có một trọng lượng nào để đặt điều kiện
với Hoa Kỳ. Khối G22 quả là rất dại khi muốn làm khó dễ một
đối tác chỉ tìm lý do để bỏ cuộc.
Cũng có những lý do ngắn hạn. Còn một năm nữa là đến
cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Từø đây tới đó ê-kíp Bush không
thể nào dám hủy bỏ khoản trợ cấp 3,5 tỷ USD cho giới trồng bông
mà không mất phiếu ở một số tiểu bang miền Nam. Hoa Kỳ không
phải không nhìn thấy những hậu quả bi đát của khoản tài trợ
này đối với một số nước châu Phi, nhưng trong ngắn hạn điều
tối đa mà Hoa Kỳ có thể làm chỉ là giảm một phần khoản tài
trợ này. Nhưng cùng với việc cắt giảm này Hoa Kỳ cũng muốn
trả đũa nước Pháp đã gây phiền nhiễu khá nhiều cho Hoa Kỳ
từ khi có cuộc chiến Iraq. Hoa Kỳ phải đặt vấn đề một cách
qui mô hơn, nghĩa là thảo luận về tài trợ nông nghiệp nói chung
chứ không thể tách riêng vấn đề trồng bông. Đòi hỏi này hoàn
toàn chính đáng, nhưng cũng là đòi hỏi mà Pháp không thể chấp
nhận trong lúc này. Các cải tổ an sinh xã hội, chế độ hưu trí
và giáo dục đang khiến các cuộc biểu tình rầm rộ có thể nổ
ra bất cứ lúc nào tại Pháp. Nếu lại thêm nông dân xuống đường
nữa thì chính phủ Raffarin rất khó sống. Châu Âu cũng chưa có
tiếng nói đồng nhất và không thể để nổ ra một cuộc khủng
hoảng mới do việc cắt giảm hay xóa bỏ khoản tài trợ nông
nghiệp mà Pháp là nước hưởng thụ chính.
Thất bại của hội nghị Cancun thực ra chỉ là dấu hiệu
của một cuộc khủng hoảng mới của thế giới, mới không phải
chỉ vừa mới bắt đầu mà còn mới về bản chất và nội dung.
Nói chung thì từ sau thế chiến II thế giới được tổ
chức chung quanh cuộc tranh hùng giữa khối dân chủ tư bản và
khối cộng sản, do Hoa Kỳ và Liên Xô lãnh đạo. Sự hiện diện
của vũ khí nguyên tử với khả năng tiêu diệt cả kẻ thắng
lẫn người bại đã khiến cho thế chiến không xảy ra, vì không
thể hình dung được. Thay vào đó là những cuộc chiến địa phương
giữa các phe đàn em. Việt Nam là một thí dụ. Mỹ và Liên Xô
chấp nhận tranh đua với nhau bằng tuyên truyền, kinh tế, khoa
học, kỹ thuật, và dĩ nhiên bằng cuộc tranh đua vũ trang.
Ngày nay cuộc tranh hùng đã ngã ngũ. Khối cộng sản đã
thất bại và sụp đổ (nhưng tại Việt Nam phe thảm bại trên
thế giới lại thắng, điều này chứng tỏ chúng ta là một quốc
gia không bình thường). Thay vào đó là một cuộc thế chiến khác,
cuộc thế chiến chống khủng bố với những dữ kiện khác hẳn.
Một nhóm người rất nhỏ có thể gây những thiệt hại vô cùng
lớn về tài sản và nhân mạng như người ta đã thấy ngày
11-9-2001 tại Hoa Kỳ. Điều rất mới là bọn khủng bố không còn
nhắm vào các căn cứ quân sự hay các lực lượng vũ trang mà
nhắm vào các mục tiêu không quân sự, nhắm vào thường dân với
mục đích giết thật nhiều người, ngay cả và trước hết là
những người vô tội nhất. Bọn khủng bố không hy vọng lật đổ
các chính quyền và thống trị các dân tộc. Chúng chỉ nhắm gây
thiệt hại. Nạn nhân chính là các hoạt động kinh tế. Và sự trì
trệ kinh tế sẽ kéo theo sự nghèo khổ các các dân tộc. Đây là
cuộc chiến của những kẻ giấu mặt chống lại nền văn minh và
sự phồn vinh.
Chống lại bọn khủng bố sức mạnh quân sự không đủ.
Chiến tranh qui ước cũng bất lực. Máy bay phản lực tối tân nào
tiêu diệt một tên khủng bố giả làm thường dân cho nổ bom làm
tan xác mình và làm chết theo một số lớn thường dân ? Hàng
ngàn cảnh sát và quân đội cũng khó ngăn ngừa một quyết tử quân
cuồng tín và giấu mặt như vậy. Các nước văn minh không thể
chờ đợi bị tấn công rồi mới trả đũa. Trễ quá và cũng vô
ích. Cần phải thay đổi quan niệm về chiến tranh, phải ra tay trước
khi bị tấn công, ngay khi cảm thấy có nguy cơ,ø phải tiêu diệt
lực lượng khủng bố ở ngay sào huyệt và hậu cần của chúng.
Nói cách khác, phải chấp nhận nguyên tắc chiến tranh phòng ngừa
và đánh gục, hay ít nhất trừng phạt, các nước côn đồ có
triển vọng bao che bọn khủng bố. Nhưng chiến tranh phòng ngừa không
nằm trong triết lý chính trị vẫn được tôn trọng từ trước
đến nay và do đó không dễ được chấp nhận. Như vậy bế tắc
vẫn còn kéo dài khá lâu. Trong khi chờ đợi Hoa Kỳ có thể vẫn
còn phải lấy những quyết định đơn phương và tiếp tục bị
phản đối.
Định chế có thể cho phép giải quyết sớm bế tắc này là
Liên Hiệp Quốc. Nhưng muốn như thế thì Liên Hiệp Quốc phải
hội đủ ít nhất ba điều kiện : một là phải có uy tín đạo
đức, hai là phải thực sự đại diện cho cộng đồng thế
giới, và ba là phải có khả năng lấy quyết định khi cần. Cả
ba điều kiện đó Liên Hiệp Quốc đều chưa có. Liên Hiệp Quốc
hiện nay chấp nhận làm thành viên ngay cả những nước chà đạp
nhân quyền như Việt Nam, Cuba
và Libya. Tính đại diện của Liên Hiệp Quốc cũng rất tương đối.
Một nước không đông và cũng không mạnh như Pháp lại là một
trong năm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An, trong khi
gần một tỷ người Ấn Độ không có tiếng nói. Liên Hiệp
Quốc cũng khó lấy quyết định vì bất cứ thành viên thường
trực nào của Hội Đồng Bảo An cũng có quyền phủ quyết, nghĩa
là đơn phương bác bỏ một quyết định được tuyệt đại đa
số chấp nhận. Lại một khó khăn khác, vấn đề cải tổ Liên
Hiệp Quốc, trên đó không thể có giải pháp nhanh chóng. Cuộc
khủng hoảng này sẽ còn kéo dài và sự phục hồi kinh tế, nếu
thực sự có, cũng sẽ chỉ ở mức độ giới hạn.
Còn một lý do khác nữa khiến cuộc khủng hoảng này có
thể kéo dài : đây chủ yếu là cuộc chiến tranh giữa phe
Hồi Giáo toàn nguyên và phương Tây. Lịch sử đã chứng tỏ Hồi
Giáo toàn nguyên có sức đề kháng rất dai dẳng. Cuộc chạm trán
đầu tiên phương Tây và Hồi Giáo đã kéo dài gần bảy thế
kỷ. Hồi Giáo ngày nay không còn mạnh nữa và trong đại bộ
phận không còn là toàn nguyên và cũng không chống văn minh phương
Tây, nhưng bài học lịch sử này cũng rất đáng quan tâm. Không nên
quên là chính quyền Hồi Giáo đã phát minh ra chiến tranh nhân dân,
chiến tranh ý thức hệ và khái niệm tử đạo có lợi trên một
qui mô lớn.
Sau cùng, trong thế dằng co có thể kéo dài này các quốc gia
lại còn gặp một khó khăn khác. Đó là tuy một trật tự thế
giới mới chưa thành hình nhưng lô-gích cạnh tranh thương mại
của nó đã bắt đầu chế ngự. Trong sự thiếu vắng một luật
thương mại quốc tế đầy đủ, mà hội nghị Cancun đáng lẽ
phải là một bước tiến lớn, các nước lớn sẽ tranh cãi gay go
để áp đặt những nhượng bộ qua các đàm phán song phương. Hoa
Kỳ và châu Âu sẽ đòi Trung Quốc tăng giá đồng Nhân Dân Tệ.
Châu Âu sẽ đòi Hoa Kỳ thực hiện lời cam kết giữ cho đồng đô-la
mạnh trong khi Hoa Kỳ muốn một đồng đô-la yếu để giảm bớt
thâm hụt ngoại thương. Vả lại Hoa Kỳ cũng không có giải pháp
nào khác ngoài chiết giảm thâm hụt ngoại thương vào lúc mà họ
phải chi 87 tỷ USD cho việc tái thiết Iraq trong khi Châu Âu cho
biết chỉ có thể đóng góp 200 triệu USD với nhiều điều kiện.
Nhật sẽ phải cắn răng hỗ trợ nhỏ giọt đồng đô-la, v.v.
Tất cả những tranh chấp này càng khiến cho hy vọng phục hồi
kinh tế của thế giới và một đồng thuận cải tổ Liên Hiệp
Quốc thêm khó khăn.
Trong khi chờ đợi các nước chưa phát triển hoặc đang phát
triển sẽ phải rất tỉnh táo. Một mặt phải nhanh chóng chấp
nhận các giá trị dân chủ và nhân quyền để nhanh chóng hội
nhập vào sinh hoạt chung của thế giới. Phải ý thức rằng trong
lúc này mọi lý do đều tốt để trừng phạt kinh tế, và nhân
quyền là lý do sáng giá nhất. Mặc khác cũng đừng dại dột để
bị lôi cuốn vào những liên minh quá khích ngăn cản khuynh hướng
toàn cầu hóa, nhất là những nước chủ xướng các liên minh này
thường có chủ ý riêng. Một thí dụ : Việc hội nghị Cancun
vừa qua thất bại trong một đồng thuận về cắt giảm tài trợ
nông nghiệp tại Hoa Kỳ và châu Âu đã rất thiệt hại cho các nước
nông nghiệp châu Phi và Việt Nam, nhưng đã có lợi cho Trung Quốc.
Giá nông phẩm sẽ tiếp tục rẻ và Trung Quốc là nước nhập
cảng nông phẩm nhiều nhất.
Cần phải hiểu bản chất của phong trào chống toàn cầu hóa.
Đó là một liên minh giữa những kẻ ích kỷ và những kẻ giả
dối. Những kẻ ích kỷ, như lãnh tụ tiểu nông José Bové, không
nhắm một lý tưởng nhân đạo nào mà chỉ đòi giữ nguyên tài
trợ nông nghiệp và đóng cửa thị trường quốc gia để ngăn
chặn hàng hóa từ các nước chưa mở mang. Những kẻ giả dối là
các lực lượng khuynh tả. Trước đây họ là những lực lượng
chủ trương quốc tế hóa theo quan điểm marxist. Ngày nay họ
chống toàn cầu hóa vì nó là trào lưu toàn cầu hóa theo trường
phái tự do. Một thành phần khác của liên minh ô hợp này là các
thế lực theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, kể cả bọn kỳ thị
chủng tộc và những tàn dư của phát-xít, nazi và cộng sản.
Các nước chưa phát triển hoặc chưa đủ phát triển cần
ý thức rõ ràng rằng họ cần những qui định quốc tế, họ
cần mở thị trường các nước phát triển, họ cần toàn cầu hóa.
Trước mắt họ cần cứu nguy phong trào toàn cầu hóa.
Nguyễn Gia Kiểng