Tham luận :

Những Hiện Tượng Toàn Thống

Nguyễn Gia Thưởng 

     Một trong những biến cố lớn của thế kỷ thứ 20 và đầu thế kỷ thứ 21 là sự xuất hiện của những phong trào tranh đấu của những nhóm mà nguời ta thường gọi là toàn thống. Trước đây người ta chỉ chú ý đến họ một cách hời hợt vì những biến cố họ gây nên không có tính cách qui mô rộng lớn và thảm khốc như biến cố 11-9-2001 vừa qua tại New York. Những nhóm toàn thống giết hại những tín hữu đang đọc kinh cầu nguyện trong nhà thờ, trong chùa chiền, bắn hạ các vị bác sĩ và y tá trong bệnh viện, ám sát những vị lãnh tụ quốc gia và lật đổ cả một chính quyền vững mạnh.

     Những nhóm toàn thống không thèm đếm xỉa gì đến những giá trị dân chủ, đa nguyên, bao dung, hòa hoãn, tự do ngôn luận. Họ không cần biết phân biệt thần quyền và thế quyền. Nhóm toàn thống Ki-tô-giáo khước từ tất cả những khám phá của ngành sinh vật học và vật lý học về nguồn gốc của sự sống. Họ tin tưởng tuyệt đối vào luận thuyết khai sinh vạn vật của Sách Sáng Thế (Génèse) mà họ cho là rất mực chính xác và khoa học trong từng chi tiết. Người Do Thái toàn thống tuân theo một cách triệt để Luật của Thượng đế ghi trong Torah. Những nhóm toàn thống Hồi giáo và toàn thống Do thái giáo nhìn cuộc tranh chấp Palestine-Do Thái qua lăng kính của tôn giáo. Phong trào toàn thống và toàn thủ không chỉ giới hạn trong phạm vi các hệ thống tôn giáo nhất nguyên, nó cũng lan tràn sang Phật giáo, Ấn Độ giáo và cả Khổng giáo nữa. Họ tranh đấu và họ giết người nhân danh tôn giáo, nhân danh một luận thuyết. Họ nhất quyết đem lãnh vực linh thiêng vào lãnh vực đấu tranh chính trị.

Sự phát triển của các phong trào toàn thống 

     Vào giữa thế kỷ thứ 20, mọi người đều lầm tưởng rằng sự phân cách giữa thần quyền và thế quyền coi như đã được dứt khoát giải quyết, tưởng chừng con người đã trở nên khôn ngoan nhờ vào lý trí, nhờ vào luận lý, không còn phải trông cậy vào tôn giáo nữa.

     Cuối thập niên 70, những phong trào toàn thống bắt đầu phản ứng chống lại sự thống trị của thế quyền và bắt đầu vật lộn để đưa tôn giáo ra khỏi vị thế ngoại vi và mong đưa nó trở về vị trí trung tâm sinh hoạt của con người.

     Tôn giáo đang trở thành một lực lượng mà không một chính phủ nào có thể làm ngơ mà không bị đe dọa. Những nhóm toàn thống đã có lúc thất bại, nhưng họ không ngừng nghỉ. Hiện nay họ thực sự hiện diện trong khung cảnh chính trị hiện đại và chắc chắn sẽ giữ vai trò then chốt trong những biến cố quốc tế hoặc nội địa.

     Chúng ta thử tìm hiểu tại sao và như thế nào những khuôn mẫu tôn giáo toàn thống đã được phát triển. Đối với người toàn thống và toàn thủ, xã hội hiện đại không đáp ứng được nhu cầu tâm linh mà họ mong mỏi. Vì vậy, họ muốn trở thành hiện thân của một hình thức đấu tranh cho linh thiêng, họ xuất hiện như một giải pháp cho sự khủng hoảng tâm linh mà họ cho rằng thế giới đang trải qua. Họ nhập cuộc đấu tranh với kẻ thù mà họ cho là tự căn bản đã có chính sách và tư tưởng chống đối với tôn giáo. Người toàn thống không nghĩ rằng cuộc chiến hiện nay họ chủ trương là một cuộc chiến bình thường như mọi cuộc đấu tranh chính trị khác. Đối với họ, đây là một cuộc chiến toàn diện, có tính cách hoàn vũ giữa thiện và ác, giữa một bên tà và một bên chánh. Thế giới của họ là thế giới nhị nguyên, không thể nào khác hơn. Họ sợ bị tiêu diệt, nên họ tìm cách củng cố vị thế của họ bằng cách áp dụng những tín điều, những lề luật của quá khứ. Họ cho rằng xã hội và văn hóa hiện nay đang đồi trụy, nên họ xa lánh và tự tạo một văn hóa đối chọi (contre-culture). Chúng ta đừng lầm tưởng rằng họ là những người mộng tưởng. Họ đã hấp thụ được tinh thần thực tiễn của nền luận lý hiện đại và họ biến cải những "căn bản toàn thống" thành một hệ thống, thành một ý thức hệ nhằm mục đích khích động những thành viên, những tín đồ của họ trong những kế hoạch hành động. Họ đang tìm cách phản công ngõ hầu linh thiêng hóa trở lại một thế giới mà họ quả quyết là vô tín ngưỡng.

     Ở vào mọi thời đại, trong mọi truyền thống, luôn có những người phản bác tính tân tiến của thời đại họ đang sống. Nhưng phong trào toàn thống mà chúng ta cùng nhau quan sát là một phong trào của thế kỷ thứ 20. Đó là một phản ứng chống lại văn hóa khoa học và thế quyền khởi sự từ Tây phương và bắt đầu thấm nhập vào phần còn lại của thế giới. Phương Tây đã phát triển một mô hình văn hóa hoàn toàn mới lạ vì vậy cách đáp ứng của tôn giáo cũng phải duy nhất. Những phong trào toàn thống có một mối liên hệ thẩm thấu với nền văn minh mới. Họ có thể khước từ phương pháp luận lý khoa học của phuơng Tây, nhưng họ không thể trốn tránh được nó. Văn minh Âu châu đã thay đổi bộ mặt thế giới. Những truyền thống tôn giáo trước đây phù hợp với mô hình xã hội cũ (nặng về nông nghiệp) đang tìm cách thích nghi với những điều kiên mới của xã hội hiện đại.

     Thế giới hiện nay đang trải qua một thời kỳ chuyển tiếp. Nó khởi sự vào thế kỷ thứ 16 và 17, khi người Tây Âu bắt đầu chuyển sang một mô hình xã hội hoàn toàn mới, không còn dựa trên nền thặng dư nông nghiệp nữa mà dựa trên kỹ thuật sản xuất tài nguyên vô hạn định. Những thay đổi kinh tế trong vòng 400 năm qua đã được kèm theo những cuộc cách mạng xã hội, chính trị và văn hóa, làm thay đổi toàn diện ý niệm về chân lý. Chân lý có tính khoa học và luận lý hơn. Con người nhận thấy rằng những hình thái tín ngưỡng cũ không còn thích hợp với họ nữa và không cho phép họ tìm thấy con đường soi sáng và an ủi bản thân họ. Họ "trở về nguồn" để tìm trong quá khứ căn bản linh thiêng đưa họ đến một thế giới mới mà họ tự tạo. Một trong những cố gắng canh tân này là phong trào toàn thống, mà thoạt tiên nghe có vẻ mâu thuẫn.

     Chúng ta những tưởng con người trong quá khứ có lối suy nghĩ như chúng ta, nhưng đời sống tâm linh của họ có phần hơi khác chúng ta. Họ sống trong khuôn khổ hai chiều của tư tưởng, của ngôn ngữ và của việc tiếp thu hiểu biết, mà các nhà huyền tượng (biểu tượng huyền bí- mythos) và thực luận (luận lý thực tại-logos). Cả hai mặt này đều thiết yếu và bổ xung cho nhau, giúp cho con người đặt đến chân lý. Mỗi mặt đều có lãnh vực sở trường.

     Huyền tượng gợi lên hình ảnh những gì vượt lên trên thời gian và không gian. Huyền tượng nhìn sâu vào cội nguồn của sự sống, vào nền tảng của văn hóa, vào tận cùng tư tưởng con người. Huyền tượng không bàn đến những sự việc thực tiễn, chỉ chú ý đến ý nghĩa mà thôi. Con người vốn bản chất dễ thất vọng nên phải tìm ý nghĩa của cuộc sống. Huyền tượng tạo khung cảnh cho phép con người tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời, hướng thượng con người, đưa con người hòa nhập vào vũ trụ. Căn gốc của nó nằm trong tiềm thức của con người. Những mẫu huyền thoại là một hình thức cũ của phân tâm học. Khi con người kể chuyện về những anh hùng được gặp gỡ những nàng tiên, phải đương đầu với quỷ thần, họ đưa ra ánh sáng những ẩn khuất của tiềm thức. Phương pháp luận lý thuần túy không thể nào giải thích gọn ghẽ những sự kiện này được. Tuy nhiên huyền thoại vẫn ảnh hưởng mãnh liệt lên trên phương cách hành xử của chúng ta. Vì thế giới hiện đại không còn huyền thoại nữa, nên chúng ta phải khai triển ngành phân tâm học để giúp chúng ta tìm hiểu thế giới tiềm ẩn của tâm thần.

     Huyền tượng không thể chứng minh với những bằng chứng của thực luận. Huyền tượng mang một khía cạnh trực giác giống như nghệ thuật, nhạc, thơ văn hoặc điêu khắc. Huyền tượng trở thành thực tế khi nó được lồng vào trong những nghi thức và nghi lễ nhằm mục đích nâng tâm hồn tín hữu lên chân thiện mỹ, gợi trong lòng họ một ý nghĩa linh thiêng và cho phép họ nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của cuộc đời. Huyền Tượng và Lễ Thức luôn đi đôi với nhau. Thiếu nghi lễ hay huyền thức (phương thức biểu hiện huyền tượng), những huyền tượng của tôn giáo không còn ý nghĩa gì nữa. Chúng trở nên trừu tượng và khó hiểu, giống như một âm khúc cần một nghệ sĩ hay dàn hòa tấu diễn giải để chúng ta cảm nhận cái đẹp của nó.

     Thực Luận cũng không kém phần quan trọng. Thực Luận là lối suy nghĩ mạch lạc, thuần lý, thực tiễn và khoa học, nó cho phép con người thích nghi với thế giới quanh mình. Con người hiện đại đã quên lãng huyền tượng, nhưng lại rất quen thuộc với thực luận và thực luận hiện nay là nền tảng của xã hội chúng ta. Thực luận chỉ nói đến dữ kiện phù hợp với thực tế. Chúng ta dùng lý luận này để thực hiện những việc chúng ta muốn, hoặc để thuyết phục người khác hành động cùng với chúng ta. Huyền tượng chỉ nhìn vào nguyên ủy và nền tảng, trong khi đó thực luận ráo riết tìm kiếm những điều mới cho phép chúng ta kiểm soát môi trường sinh sống của chúng ta mỗi ngày một nhiều hơn.

     Nhưng thực luận có những giới hạn của nó. Nó không làm vơi đi nỗi đau đớn, nỗi ưu tư của loài người. Những biện luận thực lý không thể nào giải đáp được những câu hỏi về giá trị tối thượng của cuộc sống con người. Khoa học gia có thể giúp cho những sự việc trở nên hữu hiệu hơn và khám phá những sự kiện tuyệt vời xảy ra trong vũ trụ, nhưng không thể nào giải thích ý nghĩa của cuộc sống, vì điều này thuộc phạm vi của huyền tượng và lễ thức.

Biến huyền tượng thành thực luận 

     Vào thế kỷ thứ 18, Âu Châu và Mỹ Châu đã đạt được những thành quả về khoa học và kỹ thuật vô cùng mỹ mãn khiến cho họ nghĩ rằng thực luận là phương cách duy nhất để đạt đến chân lý và coi huyền tượng là giả tạo và dị đoan. Quả nhiên thế giới mới họ đang gầy dựng phản bác những tín ngưỡng cổ xưa của loài người. Cảm quan về linh thiêng của chúng ta đã thay đổi, và chính vì số đông xem luận lý khoa học là chân lý duy nhất nên họ muốn biến huyền tượng trong tín ngưỡng của họ thành ra thực luận. Những người chủ trương toàn thống đã cố gắng trong chiều hướng này, và thường đưa đến những kết quả tai hại.

     Tiến trình đổi mới là một tiến trình đôi khi đau đớn. Những thay đổi căn bản xảy ra trong xã hội khiến con người cảm thấy bị lạc lõng, bơ vơ, không còn điểm tựa. Người toàn thống đề nghị một hình thức đấu tranh mới để phán công những lực lượng đang đe dọa những giá trị tối linh thiêng của họ.Việc canh tân thế giới đua đến sự phân hóa của xã hội. Tìm hiểu những nỗi đau, những khắc khoải của giới toàn thống giúp thế giới tránh leo thang xung đột. Canh tân đối với họ không có nghĩa là giái thoát mà là một cuộc tấn công thô bạo vào tâm can của họ.

     Năm 1492, ba biến cố vô cùng quan trọng xảy ra tại Tây Ban Nha (Espađa). Biến cố thứ nhất xảy ra vào ngày 2 tháng Giêng, khi đạo quân của vua Ferdinand và hoàng hậu Isabella tiến chiếm thủ phủ Granada. Quần chúng hồ hởi nhìn cờ Công giáo phất phới bay trên những bức tường thành của thủ phủ, vì Granada là cứ địa cuối cùng của Hồi giáo trên lãnh thổ của vương quốc Công giáo. Thập tự chiến (Croisades) chống Hồi giáo tại Trung Đông đã thất bại, nhưng ít ra Hồi giáo đã bị đẩy lui ra khỏi Âu châu. Năm 1499, dân cư Hồi giáo bị ép phải theo đạo Công giáo hoặc phải bị đày biệt xứ để sau vài trăm năm Âu châu không còn Hồi giáo nữa. Biến cố thứ hai xảy ra vào ngày 31 tháng 3, khi Ferdinand và Isabella ký Sắc Lệnh Tống Xuất (Edit d’Expulsion) dân Do Thái ra khỏi Tây Ba Nha: 80.000 người Do Thái chay sang Bồ Đào Nha (Portugal) và 50.000 tìm nơi ẩn náu nơi đế quốc Nhật Nhĩ Man (Ottoman) Hồi giáo. Biến cố thứ ba là vào tháng 8 cùng năm, Christophus Columbus, một người được sự che chở của Ferdinand và Isabella, dùng thuyền đi tìm đường kinh doanh mới với Ấn Độ nhưng rồi khám phá ra Mỹ châu.

     Những biến cố này biểu hiện ánh vinh quang và sức tàn phá của thời kỳ khởi sự canh tân. Chuyến viễn du mãnh liệt của Columbus chứng tỏ tinh thần canh tân của người Âu châu. Những chân trời mới được khai phá từ địa lý, xã hội, kinh tế, chính trị cho đến nhân văn. Thành công này biến họ thành những chủ nhân ông của thế giới. Nhưng canh tân hàm chứa một khía cạnh đen tối : Ferdinand và Isabella tạo dựng một trong những nhà nước trung ương tập quyền tân tiến nhất của Âu châu. Chính vì tập quyền nên họ không chấp nhận những hiệp hội, những cộng đồng tự tri của người Do Thái đã vốn hiện diện từ thời Trung Cổ. Việc thống nhất lãnh thổ Tây Ban Nha đã thành công nhờ vào hành vi thanh lọc chủng tộc (nettoyage ethnique-ethnic cleaning) và đồng thời người Do Thái và người Hồi giáo mất đi nơi ăn chốn ở của họ. Đối với đa số, canh tân tạo nên sức mạnh, tạo nên tự do, tạo nên xây dựng. Nhiều người khác xem đó là một lối ép buộc, một cuộc xâm lấn, một sách lược phá họai. Mô hình này đã xảy ra và có thể sẽ lưu diễn mãi.

     Vào cuối thế kỷ thứ 15 cho đến cuối thế kỷ thứ 19, các khoa học gia vẫn tìm tòi và khảo cứu trong khuôn khổ của tôn giáo. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolaus Copernicus (1473-1543) tin tưởng rằng khoa học của ông "có tính cách linh thiêng hơn là phàm tục". Tuy nhiên thuyết về vũ trụ xoay vần quanh thái dương hệ của ông là một đòn chí tử vào vũ trụ quan huyền bí của tín ngưỡng tôn giáo đương thời. Vào thời đó chẳng có mấy ai tin vào giả thuyết của ông. Ông nói rằng địa cầu thay vì là trung tâm của vũ trụ, hiện đang xoay quanh mặt trời cùng với một số hành tinh khác. Giả thuyết của ông được nhà vật lý học Johannes Keppler (1571-1630) chứng minh bằng toán học và được nhà thiên văn học Ý Đại Lợi Galileo Galilei (1564-1642) xác nhận khi quan sát những hành tinh qua viễn vọng kính mà ông tự chế tạo. Cả Keppler lẫn Galileo cảm nhận khám phá này là do Thượng Đế mạc khải, họ vẫn nghĩ rằng luận lý khoa học thích nghi với quan điểm tôn giáo của thực luận bổ xung cho huyền tượng.

     Nhưng không ngờ ông Copernicus đã khởi xướng một cuộc cách mạng, và con người không còn thể nào tin vào cảm quan của mình như trước nữa. Ông đã gieo hạt giống nghi ngờ vào đầu óc con người. Ông chứng minh rằng quả địa cầu, có vẻ như bất động, thực sự quay rất nhanh ; các hành tinh di động vì mắt con người cảm thấy chúng di động: những gì con người cho là khách quan trên thực tế lại là chủ quan. Luận lý và huyền tượng không còn hòa nhịp với nhau nữa. Huyền tượng cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ, nay khoa học thực luận xô đẩy con người rơi vào vị thế ngoại vi của vũ trụ.

     Ông Isaac Newton (1642-1727) khám phá trọng lực của địa cầu và nghĩ rằng trọng lực này chi phối tất cả các hành tinh trong vũ trụ khiến chúng không va chạm lẫn nhau. Ông cố gắng hòa nhịp thực luận khoa học với tín ngưỡng tôn giáo. Ông xác quyết hệ thống vũ trụ này là công trình của Thượng Đế, "ông Thầy Thợ"  (the Great Mecanician), vì mô hình phức tạp của vũ trụ không thể nào ngẫu nhiên mà có. Ông muốn gọt rửa những tín điều huyền hoặc trong Ky tô giáo và ông không chấp nhận tín điều "Thiên Chúa Ba Ngôi" (the Trinity) và việc "Nhập Thể Làm Người" (the Incarnation). Ông không cảm nhận được đó là những ngôn từ có tính cách huyền tượng mà các nhà thần học Chính Thống Giáo Hy Lạp vào thế kỷ thứ 8 đã dùng để diễn tả bản chất linh thiêng "vô xướng và vô ngôn" (imprononcable et indicible) của Thượng Đế cho phù hợp với giới hạn trí tuệ của con người. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, thực luận và huyền tượng không hòa hợp được với nhau nữa vì những thành quả vượt bực của khoa học Tây phương. Sau này, luận thuyết về vũ trụ của Newton cũng bị bác bỏ, nhưng phương pháp luận của ông vẫn được duy trì. Âu châu tìm được một ý niệm mới về chân lý. Chân lý không bao giờ tuyệt đối, vì những khám phá mới thay thế cho những giả thuyết cũ. Chân lý cần phải được chứng minh một cách khách quan và được cân phân trong thế giới thực tiễn.

     Khoa học gia Pháp René Descartes (1596-1650) đã khai tử huyền tượng luận trong triết luận của ông. Đối với ông, vũ trụ là một bộ máy vô tri vô giác. Nó không cung cấp cho ta một dữ kiện nào về sự hiện hữu của Thượng Đế. Sinh vật duy nhất hiện hữu trong vũ trụ là tư tưởng con người. Mệnh đề "Cogito, ergo sum" (Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu) chứng tỏ rằng điều duy nhất chúng ta có thể xác định được là tư tưởng nghị luận của con người. Điều này cũng nói lên giới hạn của tư tưởng con người. Và ý niệm "giới hạn" chỉ có ý nghĩa khi đem so sánh với ý niệm "toàn hảo". Như vậy Đấng Toàn Hảo phải là một thực thể. Cách suy luận này không thỏa mãn con người hiện đại và điều này chứng minh sự bất lực của thuần túy nghị luận đứng trước những nghi vấn như vậy. Khi chúng ta tự đặt câu hỏi tại sao thế giới hiện hữu và sự sống có ý nghĩa gì, luận lý không cho chúng ta câu giải đáp và chính tư tưởng của chúng ta trở nên xa lạ với chúng ta.

     Đi xa hơn nữa, triết gia Đức Emmanuel Kant (1724-1804) một mặt kêu gọi nhân dân tháo gỡ xích xiềng lệ thuộc với các giảng sư, với giáo quyền và chính quyền để tự tìm lấy chân lý cho mình, một mặt khác, trong quyển "Critique de la Pure Raison" (Phê bình Tính Thuần Lý), ông luận rằng không thể nào xác quyết trật tự mà chúng ta nhận thấy trong thiên nhiên có mối tương quan gì với thực tế bên ngoài. "Trật tự" này chỉ là một sản phẩm của trí óc chúng ta và ngay cả những định luật khoa học của Newton cho phép thấy rõ tâm lý con người hơn là vũ trụ. Tất cả suy tưởng của chúng ta đều có tính cách chủ quan và phân định. Trong khi Descartes cho rằng tư tưởng con người là sinh vật duy nhất trong vũ trụ vô giác thì Kant lại cắt đứt sợi dây liên kết giữa con người với thế giới bên ngoài và giam hãm con người trong chính trí não của con người. Thường trong mỗi cuộc canh tân bàn tay trái thu hồi những gì bàn tay phải ban phát. Kant nghĩ rằng không thể nào chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế, vì hình ảnh của Thượng Đế vượt ra khỏi cảm quan của con người, do đó trí não con người không thể nào vươn tới được. Và cũng vì vậy Kant cho rằng không thể nào phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế được. Kant cực lực phản bác ý niệm lề luật phát xuất từ Đấng Tối Cao, vì điều này khước từ thô bạo tính chất tự trị và độc lập của con người.

     Trong khi luận lý được xem là tiêu chuẩn chân lý độc nhất tại Âu châu, lại xảy ra những tranh chấp tôn giáo không lấy gì làm thuận lý cả. Tin lành (Protestant) và Công giáo (Catholique) bách hại lẫn nhau tại Anh quốc. Cuộc nội chiến tại Pháp giữa Tin lành và Công giáo xảy ra vào những năm 1562 và 1563. Một cuộc tàn sát tín đồ Tin Lành trên khắp lãnh thổ Pháp diễn ra năm 1572. Cuộc Chiến 30 Năm (1618-1648) đã tàn phá Âu châu. Năm 1642 xảy ra cuộc nội chiến tại Anh quốc, và kết thúc khi Oliver Cromwell ra lệnh hành quyết vua Charles Đệ nhất (1649). Sau đó thể chế quân chủ lập hiến được thành lập (1660). Các thể chế dân chủ tại Âu châu bắt đầu thành hình sau bao nhiêu nhục hình và chết chóc. Cách mạng Pháp 1789 được tiếp nối bằng sự thống trị của khủng bố và chế độ độc tài quân phiệt. Trật tự chỉ được vãn hồi nhờ vào tài trí của Napoléon. Di sản của Cuộc Cách Mạng Pháp để lại cho thế giới hiện đại là một vị thần lưỡng diện : nó nâng cao lý tưởng (của thời kỳ Ánh Sáng) tự do, công bằng và tình huynh đệ nhưng nó cũng để lại dấu ấn của một chế độ nhà nước khủng bố. Tại thuộc địa Mỹ châu, Anh và Pháp chém giết lẫn nhau trong Cuộc Chiến 7 Năm (Seven Years War) (1756-1763). Và sau đó là Cuộc Chiến dành Độc Lập (War of Independence) (1775-83) khai sinh nước cộng hòa thế tục đầu tiên của thế giới hiện đại. Một thể chế xã hội công bằng và bao dung hơn ra đời ở Tây phương, sau gần 200 năm bạo lực. 

Thượng Đế đã chết ? 

     Các nhà tư tưởng lớn của thế kỷ thứ 18 và 19 tại Âu châu không theo con đường của tôn giáo nhưng theo con đường của thế tục. Con người càng ngày càng chú tâm đến đời này hơn là đời sau. Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) đưa ngôi vị Thượng Đế tối cao xuống vị thế của loài người, và luận rằng con người phải nhận thức chính mình là linh thiêng. Đây cũng là một cố gắng linh thiêng hóa một thế giới thiếu vắng Thượng Đế, xác định năng động tính của thế giới hiện đại. Hegel đưa ra tiến trình biện chứng trong đó con người luôn tìm cách đánh đổ những tư tưởng trước đây vẫn được coi là linh thiêng và bất khả luận. Ông cho rằng mọi hình thái hiện hữu luôn kiến tạo một hình thái đối lập, cả hai hình thái xung đột với nhau để rồi hội nhập với nhau để trở thành một tổng hợp tiến bộ hơn ; và tiến trình này cứ như thế lập lại. Theo nhãn quan này, việc trở về căn bản, về nguồn gốc không thể xảy ra, chỉ có tiến hóa liên tục để đạt tới một chân lý hoàn toàn mới.

     Tây phương không những bắt đầu xem tôn giáo và huyền tượng không còn thích hợp nữa mà còn có hại là đàng khác. Thay vì điều chỉnh cảm quan tha hóa của con người, nó gia tăng lệ thuộc tính của con người vào đó. Ludwig Feuerbach (1804-1872), một đệ tử của Hegel, biện luận rằng tôn giáo đưa đến sự bất đồng nhất, "sự bất túc" của con người : Thượng Đế toàn hảo, con người bất toàn; Thượng Đế vĩnh cửu, con người hạn hữu ; Thượng Đế toàn năng, con người yếu hèn". Và, theo Karl Marx (1818-1883), tôn giáo là triệu chứng của một xã hội bệnh họan, là ma túy xoa dịu nỗi đau của một xã hội khốn khó và tước đọat ý chí đi tìm giải pháp, đánh lạc hướng con người, khiến con người không còn ý chí để tìm giải pháp cho đời này mà chỉ mưu tìm hạnh phúc đời sau.

     Với thuyết tiến hóa, năm 1859 Charles Darwin (1809-1882), trong quyển "The Origin of Species by Means of Natural Selection", 1859 (Nguồn gốc các loài do sự tuyển chọn tự nhiện) đưa ra giả thuyết cho rằng : thú vật, cây cỏ và loài người không được tạo dựng một cách toàn diện (như Thánh Kinh đã ghi), nhưng đã phát triển từ từ qua một chuỗi dài thời gian thích ứng với môi trường sinh sống. Mặc dù chủ đích của Darwin không phải để đả phá tôn giáo, nhưng tên của Darwin trong giới toàn thống đồng nghĩa với vô thần. Copernicus đã đưa nhân loại ra khỏi vị trí trung tâm của vũ trụ, Descartes và Kant tách rời con người ra khỏi thế giới hiện hữu, và giờ đây Darwin cho rằng con người chỉ là thú vật. Con người cũng tiến hóa như mọi loài vật, nó chẳng phải do Thượng Đế đặc biệt tạo ra. Quả thật, hình như Thượng Đế không có chỗ đứng trong tiến trình tạo dựng vũ trụ và thế giới này hiện hữu không vì mục đích linh thiêng nào cả.

     Khi nhận định chân lý tôn giáo như một thực luận thuần lý, các khoa học gia và các triết gia Tây phương đã vô hiệu hóa tín ngưỡng. Năm 1882, Friedrich Nietzche (1844-1900) tuyên bố Thượng Đế đã chết. Trong "Le Gai Savoir" (The Gay Science, tạm dịch là "Hý Học" hay "Cái Học Vui Nhộn"), ông kể chuyện một người điên một buổi sáng chạy ra giữa chợ hô hoán : "Tôi tìm Thượng Đế". Khi đám đông nghịch ngợm và lãnh đạm hỏi y xem Thượng Đế đã di trú hay đã cao bay xa chạy nơi nào, người điên trố mắt hỏi "Thượng Đế đi đâu rồi ? Chúng ta đã giết ngài ! Chính anh và tôi, chúng ta là những kẻ sát nhân đã giết ngài !". Ở một khía cạnh nào đó, Nietzsche có lý. Không còn huyền tượng, không còn lễ thức, không còn tế tự và không còn nguyện cầu, con người mất đi ý niệm linh thiêng. Người điên của Nietzsche tin rằng cái chết của Thượng Đế đã đánh bật nhân loại ra khỏi cội rễ của mình, xô đẩy con người vào vũ trụ vô định hướng. Con người hiện đại có lẽ đang kinh qua một nỗi kinh hoàng vô biên, một cảm xúc vô nghĩa, một cảm giác hư vô bất tận cùng.

     Canh tân xã hội là một điều khó khăn đối với tín đồ Ky tô giáo, nó càng khó khăn hơn đối với người Do Thái và Hồi giáo. Phong hóa của thế kỷ thứ 18 rất thù nghịch với Do Thái giáo. François-Marie Voltaire (1694-1778), trong  Dictionnaire philosophique, 1756 (Tự Điển Triết Học) gọi Do Thái là "một quốc gia hoàn toàn dốt nát". Baron d’Holbach (1723-89) xem người Do thái là "kẻ thù của nhân loại". Kant và Hegel, cả hai đều nghĩ rằng Do Thái giáo là một tín ngưỡng nô lệ và đồi trụy, hoàn toàn trái ngược với luận lý tính. Karl Marx, mặc dù mang gốc Do thái, luận rằng người Do Thái là nguyên ủy của chế độ tư bản và chính đó là cội nguồn của tất cả những tệ nạn của thế giới. Do đó người Do Thái phải thích nghi vói thời đại trong một bối cảnh đầy hận thù. Sau này, chính nhờ Napoléon với đạo quân viễn chinh đã du nhập những nguyên tắc bình đẳng vào các nước ông tiến chiếm mà người Do Thái được "khai phóng". Tuy nhiên những thành kiến cố hữu vẫn tồn tại. Khi Napoléon thất trận tại Waterloo (1815), tất cả những quyền lợi bố phát cho người Do Thái tại Âu Châu đều bị thu hồi, trừ ở Pháp và Hòa Lan. Nhưng vì nhu cầu của quốc gia tân tiến, các chính phủ đã lần hồi trao lại quyền công dân cho người Do Thái, với điều kiện là họ từ bỏ Do thái giáo.

     Các quốc gia trao quyền bình đẳng và quyền công dân cho người Do thái, như Anh, Pháp, Hòa Lan, Áo, và Đức trở nên thịnh vượng ; các quốc gia Đông Âu không chấp nhận dân chủ hóa, vẫn duy trì những bổng lộc của việc canh tân cho một thiểu số thành phần ưu việt, hóa ra chậm tiến. Đến năm 1870, người dân Do Thái được khai phóng toàn diện trên toàn cõi Âu châu. Tuy nhiên tại Đông Âu và nước Nga, vì các chính quyền áp dụng những biện pháp cứng rắn để tiêu diệt Do thái giáo nên hàng triệu người Do Thái, bị gạt ra ngoài xã hội tân tiến, đã cố bám víu vào truyền thống Rabbi và Hassidi. Cho đến nay, trong tiềm thức, người Do Thái vẫn sống trong nỗi ám ảnh bị gạt ra ngoài lề xã hội.

     Tại Ai Cập và Iran, người Hồi giáo kinh qua những biến cố canh tân của Tây phương trên một bình diện hoàn toàn khác. Khi Napoléon xâm chiếm Ai Cập năm 1798, ông khai mào một thời kỳ mới trong mối bang giao Đông và Tây. Kế hoạch của ông là thiết lập căn cứ tại Suez để kiểm sóat thủy đạo của Anh, đồng thời có thể tấn công đế quốc Nhật Nhĩ Man từ Syrie. Ai Cập và Palestine vì vậy trở thành chiến địa giữa Anh và Pháp nhằm bành trướng thế lực của họ. Napoléon xuất hiện và tự nhận mình là nguời đem lại tiến bộ và ánh sáng cho Ai Cập. Sau khi đánh bại kỵ binh Mamluk trong Trận chiến Kim Tự Tháp ngày 21-7-1798, ông đưa ra một bản tuyên bố bằng tiếng Ả Rập hứa rằng sẽ giải phóng Ai Cập khỏi ách nô lệ ngọai bang. Từ hàng thế kỷ sắc dân Mamluk đã khai thác dân Ai Cập, nay ách đô hộ này không còn nữa. Nhưng người Ai Cập cảm nhận công cuộc giải phóng này chỉ là bịp bợm. Bonaparte là người Ky tô giáo, con của người Ky tô giáo. Kinh Coran dạy rằng bao lâu tín nam, tín nữ tổ chức xã hội theo thánh ý của Thượng Đế sẽ chẳng bao giờ thất bại. Nay rõ ràng lực lượng Hồi giáo đã bị thế lực ngọai bang đánh bại. Người Ai-cập cảm nhận đây là một cuộc đổi đời khó hiểu và tiếp nhận công cuộc canh tân trong sự sợ hãi. Họ đã bị người Mamluk đô hộ quá lâu nên việc tự trị cai quản đất nước đối với họ là một ý niệm quá xa lạ.

     Năm 1871, khi đến Cairo, thủ đô Ai Cập, Afghani, tên thật là Jamal al-Din (1839-1897), bắt đầu lo ngại thế lực bành trướng của Tây phương trên toàn thế giới. Afghani kêu gọi thế giới Hồi giáo thống nhất dưới ngọn cờ Islam và ứng dụng tôn giáo để phản công lại mối đe dọa thống trị của đế quốc Tây phương. Afghani trở thành một trong những người toàn thống đầu tiên của Hồi giáo. Năm 1896, Afghani ra lệnh cho một đệ tử ám sát Nasir ad-Din Shah, xúc phạm đến một trong những giới răn thiết yếu nhất của mọi tôn giáo : kính trọng tính cách linh thiêng tuyệt đối của mạng sống con người. Afghani đã hành động trong sự tuyệt vọng vô bờ, vì nghĩ rằng thế giới Hồi giáo sẽ bị xóa bỏ bởi sức mạnh của Tây phương. Khi Afghani sinh sống tại Paris vào thập niên 1880, đương sự phải đương đầu với một tân chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của triết gia Ernest Renan (1823-1892) ; hai người thảo luận về vị trí của Hồi giáo trong thế giới hiện đại. Ông Renan xác tín rằng ngôn ngữ của những sắc tộc Do Thái và Ả Rập bị thái hóa và là một điển hình của sự phát triển đình trệ. Những ngôn ngữ này không có phẩm chất tiến bộ và phát triển sẵn có trong hệ thống ngôn ngữ "Aryan", và không thể nào tự cải tiến được. Các sắc tộc hậu duệ của Shem (còn gọi là sắc tộc Semite-Shem là con cả của Noé, tổ phụ huyền tượng của dân Ả Rập và Do Thái trong thánh kinh Torah của Do Thái giáo và Ky tô giáo, nhân vật duy nhất sống sót trong trận Đại Hồng Thủy) không có khả năng khai triển nghệ thuật, thương mại, nói chung là văn hóa. Islam đăïc biệt không thích hợp với công cuộc canh tân, rõ ràng là các nước Hồi giáo thấp kém. Giống như các dân tộc ở Phi châu, dân tộc các nước Hồi giáo không thể nào có được tinh thần luận lý khoa học và không hề có một phát kiến độc đáo nào. Ông Renan tiên đoán rằng Islam sẽ tan biến và trong một tương lai gần sẽ không còn hiện diện trên thế giới. Chính vì vậy mà Afghani lo ngại cho số phận của Islam và khai triển tinh thần cố thủ trong tư tưởng của người Hồi giáo. Nhãn quan định để và sai lạc vể Hồi giáo của một số nhà tư tưởng hiện đại như Renan biện minh cho việc thuộc địa hóa các nước Hồi Giáo.

     Chủ nghĩa thuộc địa phát sinh từ nhu cầu bành trướng kinh tế tư bản của Âu châu. Vào cuối thế kỷ thứ 19, việc thuộc địa hóa Trung Đông gần như hoàn tất. Pháp đã chiếm Algérie năm 1830, Anh chiếm Aden (thủ đô của Yémen hiện nay) năm 1839. Tunisie bị chiếm đóng năm 1830, Soudan năm 1889, Lybie và Maroc năm 1921. Năm 1915, hiệp ước Sykes-Picot cho phép Pháp và Anh chia cắt đế quốc Nhật Nhĩ Man (Ottoman). Người dân Trung Đông không xem cuộc canh tân do Tây phương đem lại là tiến bộ. Nó mang tính cách xâm chiếm, ép buộc và lấn áp hơn, nó không cho phép họ tự canh tân mà lại biến xã hội họ thành bản sao mờ nhạt của xã hội Âu châu.

     Từ khi Nietzsche tuyên bố Thượng Đế đã chết, con người hiện đại ý thức được văn hóa của họ có một không gian trống vắng. Những thành quả mỹ mãn của luận lý khoa học đã khiến ý niệm Thượng Đế khó và không thể chấp nhận được đối với đa số người Âu châu, đồng thời ý niệm huyền tượng cũng tan biến mất. Trên nhiều khía cạnh, thế giới đã trở thành tốt đẹp hơn. Con người đã tìm thấy được ý niệm vượt thoát bản ngã trong văn chương, nghệ thuật, phái tính, tâm lý học, y dược học và cả trong thể thao. Vào giữa thế kỷ thứ 20, đại đa số người Âu châu nghĩ rằng tôn giáo không còn đóng một vai trò quan trọng nào trên trường quốc tế. Tất cả hầu như được chuyển sang lãnh vực tư nhân và mọi người đều cảm thấy mãn nguyện, từ người lãnh đạo thế quyền đến người kiểm soát truyền thông. Trong môi trường Âu châu Ky tô giáo, vì tôn giáo đã thường xuyên là yếu tố tàn nhẫn và đàn áp nên nhu cầu của một xã hội tân tiến là tinh thần bao dung. Không có vấn đề trở lại thời buổi Thập Tự Chiến hay Truy Tín (Inquisition). Thế quyền phải được thực thi. Tuy nhiên vào giữa thế kỷ thứ 20, sự thiếu vắng của Đấng Tối Cao không đem lại hạnh phúc cho con người, mà chỉ đem lại chém giết và tang tóc.

     Từ năm 1914 đến năm 1945, 70 triệu người tại Âu châu và Liên Bang Xô Viết đã chết trong bạo lực. Nước Đức đã thực hiện một trong những hành động độc ác nhất, mặc dù nước Đức là một trong những nước có nền văn hóa cao nhất Âu châu. Điều này chứng tỏ một nền giáo dục thuần lý chưa đủ để loại trừ thú tính trong con người. Hành động "Hỏa Diệt" (Holocauste, người Do Thái gọi là Shoah) của Đức Quốc Xã chứng tỏ một trại tập trung cũng có thể được xây dựng bên cạnh một khu đại học lớn. Tầm vóc to lớn của công cuộc diệt chủng của chủ nghĩa Quốc Xã hoặc trại Gulag của Xô Viết nói lên tính cách hiện đại của chúng. Không có một thể chế xã hội xa xưa nào có thể hình dung được một mô thức tiêu diệt lớn lao như vậy. Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) kết thúc trong máu lửa, trong sự tàn phá của hai quả bom nguyên tử trên hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản. Đây cũng là cảnh tượng hãi hùng do quyền lực của khoa học hiện đại và do mầm mống tự hủy của văn hóa hiện đại phơi bày. Cả hàng thế kỷ, con người chỉ sợ Thượng Đế quyết định ngày tận thế của nhân lọai, nay con người khám phá ra mình không cần đến đấng linh thiêng nào cả để tiêu hủy thế giới. Con người đã sử dụng tài năng và trí tuệ của mình để tìm kiếm phương cách tự hủy. Đứng trước những sự kiện, trước những tai họa trên bình diện toàn cầu như vậy, con người cảm nhận giới hạn của phong hóa luận lý. Lý trí im lặng, không có gì để nói và không có gì để giải thích.

     Cảnh Hỏa Diệt nhắc nhở những hiểm họa có thể xảy ra vì hình ảnh Thượng Đế thiếu vắng trong tâm thức con người. Theo thần học Ky tô giáo, địa ngục được định nghĩa như sự thiếu vắng Thượng Đế. Các trại tập trung gợi lên hình ảnh hỏa ngục, nơi mà người Âu Châu bị ám ảnh từ hàng nhiều thế kỷ nay. 

Toàn thống, một giải đáp cho sự bế tắc ? 

     Cảnh giết hại trong trại tập trung và nấm mây của bom nguyên tử cho phép chúng ta thấy được phần nào tâm trạng những người sùng đạo khi họ nhìn thế giới hiện đại. Một vài nhóm toàn thống nhận xét công cuộc canh tân là xấu xa, quỷ quái. Nhãn quan của họ đối với thế giới thế quyền hiện đại giống như nhãn quan đau đớn và tuyệt vọng của con người trước thảm cảnh đen tối của những trại Auschwitz. Vào giữa thế kỷ thứ 20, những nhóm toàn thống của ba khối tín ngưỡng nhất thần đã bắt đầu rút lui ra khỏi trào lưu xã hội hiện đại và tạo dựng một nền văn hóa tương phản thích hợp với nhãn quan của họ hơn.

     Những nhóm toàn thống khởi sự phản công vào những năm 1974-1979. Thế giới bàng hoàng không hiểu gì cả vì nghĩ rằng tôn giáo chẳng còn giữ một vai trò quan trọng nào trên chính trường. Năm 1979, cộng đồng quốc tế ngơ ngác nhìn một giáo chủ Hồi giáo Iran vô danh hạ bệ chế độ của Shah Muhammad Reza Pahlavi, một chế độ được đánh giá là tiến bộ và bền vững nhất Trung Đông. Vào những thập niên 1970, Iran có vẻ như phồn thịnh. Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ giống như một trung tâm trao đổi thị trường chứng khoán, đem lợi nhuận cho những nhà đầu tư Hoa Kỳ và những thành phần ưu tú của xã hội Iran. Nhà Nước trở nên giàu có, nhưng người dân mỗi ngày một nghèo hơn. Khi giá dầu hỏa gia tăng vào những năm 1973-1974, nạn lạm phát tăng theo, hàng triệu người dân Iran mất việc. Chính quyền của Shah Pahlavi trở nên độc tài và độc đoán hơn. Tháng 6-1975, sinh viên trường đại học luật Islam (Madrasah) Fayzziyah tổ chức một cuộc biểu tinh để tưởng niệm ngày Khomeini bị bắt năm 1963. Cảnh sát tràn vào khu đại học, sử dụng hơi cay và giết một sinh viên. Chính quyền đóng cửa đại học này và khuôn viên trống vắng của đại học là một biểu tượng rõ rệt tính chất thù nghịch của chế độ Shah đối với tôn giáo. Nhân dân coi vị Shah là kẻ thù của tín ngưỡng, là sát nhân của đấng tử vì đạo Husain, là kẻ thù của Khomeini, mà ngày hôm nay quần chúng xem là Giáo Chủ (Imam). Ngày 3-11-1977, Mustafa con của Khomeini chết một cách bí mật do bàn tay của mật vụ chính quyền. Điều này càng làm rõ nét độc ác của chính quyền và tăng thêm hào quang cho Khomeini, vì giáo chủ tử đạo Husain cũng có một người con bị giết trong truờng hợp tương tự. Ngày 9-1-1978, 4.000 sinh viên xuống đường ở Qum đòi hỏi chính phủ áp dụng trở lại hiến pháp 1906, tự do ngôn luận, thả các tù nhân chính trị và cho phép Khomeini trở về Iran. Cảnh sát bắn hạ có đến cả chục sinh viên. Bắt đầu từ ngày đó chế độ của Shah kể như chấm dứt. Gia đình của Shah Pahlavi trốn chạy sang Ai Cập. Ngày 1-2-1979, Chapour Bakhtiar, thủ tướng đương thời, buộc phải ký sắc lệnh cho phép Khomeini trở về Iran.

     Cùng thời gian này, trong khi thế giới hoan nghênh sáng kiến hòa bình của tổng thống Ai Cập Anwar Sadat vì ông công nhận quốc gia Israel và mở cửa tiếp đón Tây phương, thanh niên Ai Cập lại hướng về tôn giáo. Họ ăn mặc trở lại theo Islam cổ xưa và phủ nhận giá trị tự do của thế giới hiện đại. Từ lâu, những người theo tinh thần tôn giáo thủ cựu cực đoan cảm thấy bị truy lùng, bị đàn áp, bị đày đọa bởi những quyền lực thế tục, họ mang não trạng của kẻ bị vây hãm, bị dồn đến chân tường và họ hành động trong tuyệt vọng đến độ hy sinh mạng sống.

     Ông Sadat nhận định rõ thành phần đối lập và muốn tránh số phận bi thảm của ông bạn Shah. Ông quyết tâm ra tay đàn áp mạnh hơn nữa. Năm 1978, khi cuộc cách mạng tôn giáo khởi sự tại Iran, ông ban hành sắc luật, gọi là "Sắc Luật Ô Nhục", qua đó tất cả những sai trái về tư tưởng, về lời nói, về hành động đối với luật lệ hiện hành sẽ bị trừng phạt. Chính quyền thu hồi quyền công dân, tịch thâu thông hành và tịch thâu tài sản. Người dân bị cấm không đươc tham gia bất cứ tổ chức nào, không được tham dự bất kỳ chương trình phát thanh nào, hoặc ấn hành tất cả những gì làm nguy hại đến "sự thống nhất của quốc gia hoặc trật tự xã hội". Ngay cả những lời phê bình trong khuôn khổ gia đình cũng bị chế tài. Chế độ của ông Sadat mỗi ngày một khắc nghiệt hơn. Ngày 3-9-1981, Sadat bắt giam 1.536 kẻ chống đối ông , trong đó có các vị bộ trưởng, các chính trị gia, những thành phần trí thức, ký giả, các giảng sư và thành viên những nhóm Islam. Một trong những người bị bắt là Muhammad Islambouli, anh em của kẻ ám sát Sadat thiếu úy Khaled Islambouli (cả hai thuộc nhóm khủng bố "Anh Em Hồi Giáo" -Jamaat Al-Islamiyaah).

      Ông Sadat và bà vợ Jihan sống như người Tây phương,  tiếp đón những tài tử và minh tinh màn bạc, uống rượu, sống xa hoa trong những dinh thự trị giá hàng triệu mỹ kim. Họ sống xa rời quần chúng. Ngày 6-10-1981, trong cuộc diễn hành kỷ niệm những thành quả cuộc chiến năm 1973 chống Israel, Anwar Sadat bị bắn hạ. Chính phủ Tây phương bị xúc động mãnh liệt vì họ yêu mến Sadat. Tuy nhiên, trong ngày tiễn đưa Sadat, không một lãnh tụ Ả Rập nào đến tham dự, quần chúng cũng không kéo đến ào ạt. Người dân Ai Cập không khóc thương Sadat như người dân Iran thương tiếc Khomeini. Quả nhiên xã hội Tây phương và xã hội truyền thống Trung Đông không cùng một cảm nhận và không chia sẻ cùng một nhãn quan trên một sự kiện.

     Khi Mubarak lên cầm quyền, ông đã trả tự do cho những người bị giam cầm và thỏa hiệp với những nhóm Islam ôn hòa. Hiện nay xã hội Ai Cập đã tương đối ổn định, nhờ vào đại đa số thành phần theo cao trào cải cách tôn giáo của thập niên 1970 đã trở nên ôn hòa hơn. Tuy nhiên những thành phần cực đoan vẫn tiếp tục khủng bố (nhóm Jamaat Al-Islamiyyah bắn chết 58 du khách ngoại quốc và 4 người Ai Cập tại Luxor ngày 17-11-1997), và một số gia nhập tổ chức Al Qaida của Oussama Ben Laden.

     Cuộc chiến tại Trung Đông diễn ra trên hai bình diện: một cuộc chiến giữa khối Ả Rập và Israel ; một cuộc nội chiến trong lòng các nước này, giữa các phe phái thần quyền và thế quyền. Tháng 9-1987, nhân dân Palestine tung ra chiến dịch intifadah. Khởi sự vào năm 1967, cả một thế hệ Palestine đã sinh trưởng trong vùng Gaza và lãnh thổ Đông Jérusalem dưới sự kiểm soát của quân đội Israel. Họ bức xúc với cấp lãnh đạo cũ của tổ chức OLP (Tổ chức Giải phóng Palestine), vì không hoàn tất được chủ quyền và độc lập. Chính quyền Israel hy vọng dân Ả Rập trong vùng chiếm đóng của Israel lần hồi sẽ chấp nhận lề luật của Israel. Nhưng sự chống đối đạt đến cao điểm năm 1987. Phụ nữ và thiếu niên đều tham gia ném đá chống quân đội Israel. Trong thời gian này, tổ chức Hamas (Haqamat al-Muqawamah al-Islamiyyah, Phong trào Kháng Chiến Islam) xuất hiện với xác quyết nhân dân Palestine phải trở về với đạo Islam vì dân Israel thành công là nhờ họ trung tín với đạo Do Thái, đồng thời Israel chủ trương tiêu diệt Islam. Họ cho rằng cuộc chiến này là một cuộc chiến tự vệ. Bạo lực nuôi dưỡng bạo lực và cuộc chiến tiếp diễn

     Năm 1993 Yitzhak Rabin ký kết Hiệp ước Oslo với Yasser Arafat, lãnh tụ OLP, trên đó tổ chức OLP công nhận lãnh thổ và biên thùy Israel đã được quy định năm 1948 và hứa chấm dứt bạo lực và khủng bố, đổi lại Israel chấp nhận dân Palestine được một phần tự trị trên vùng Tây Ngạn (West Bank) và giải Gaza trong thời hạn 5 năm, sau đó những thương thuyết về những vấn đề lãnh thổ định cư của dân Israel, vấn đề bồi hoàn cho dân tị nạn Palestine và tương lại của Jérusalem sẽ khởi sự. Nhưng cảm tử quân trên lãnh thổ Israel chứng tỏ Arafat không kiểm soát được những thành phần cực đoan của Hamas và bên phía Israel, các thành phần cực hữu tố cáo Rabin đã bán bỏ an ninh của Israel tại Oslo. Tháng 7-1995, Rabbi Avraham Shapira và 14 vị rabbi Gush ra lệnh cho quân lính bất tuân lệnh của cấp trên khi quân đội Israel bắt đầu triệt thoái ra khỏi những vùng đất chiếm đóng, vì họ cho rằng Rabin là "kẻ bách hại" dân Do Thái, đáng phải giết. Ngày 4-11-1995, Yigal Amir, một cựu chiến binh, một cựu sinh viên yeshiva (Trường Thần Luật Do Thái), ám sát Rabin trong một cuộc nhóm hội ăn mừng hòa bình tại thủ đô Tel Aviv và sau này xác quyết đó là bổn phận đương sự phải thi hành.

     Trên đây là những sự kiện điển hình đã xảy ra tại hai nước Iran và Ai Cập, nói lên sức tàn phá của những nhóm toàn thống tại Trung Đông. Mô hình đấu tranh này đã lan tràn sang Á châu, với nhóm Abou Sayaff tại Phi Luật Tân, nhóm Jamat Islamiyaah tại Nam Dương (Indonesia). Tại Hoa Kỳ, những nhóm toàn thống mang màu sắc Ky tô giáo (trong đó có Cơ Đốc giáo) và màu sắc kỳ thị chủng tộc cũng không kém phần bi thảm. Ngày 28-2-1993, FBI (Federal Bureau of Investigation) tấn công doanh trại của nhóm David Koresh (chi nhánh của Seventh Day Adventists), làm thiệt mạng 80 người. Nhóm Christian Identity (Bản sắc Ky tô) kêu gọi tiêu diệt dân Do Thái và lật đổ chính phủ Hoa Kỳ, vì cho rằng dân Do Thái thoán đoạt ngôi vị "Dân được Thượng Đế Tuyển Chọn" của người Aryen và chính phủ Hoa Kỳ là tay sai của nhóm dân này. Chính lối lập thuyết này đã thúc đẩy Timothy McVeigh đặt bom và cho nổ trụ sở của FBI tại Oklahoma City ngày 19-4-1995. Trong tương lai, những nhóm toàn thống và toàn thủ sẽ tiếp tục khủng bố nếu các chính phủ không biết ngăn chặn và không có biện pháp hóa giải ôn hòa. Và đây không phải là một công tác dễ dàng vì nó đòi hỏi một thay đổi phong hóa của cả hai bên. 

     Tại sao tại Việt Nam không có hiện tượng toàn thống và toàn thủ ? Có lẽ vì chế độ cộng sản hiện nay tại Việt Nam đã là một chế độ toàn thống với tất cả những hệ lụy của nó. Lịch sử cận đại cho thấy Việt Nam đã không may đi theo một chủ nghĩa toàn thống trong khi tìm cách rũ bỏ ách đô hộ của người Pháp. Hoa Kỳ đã tìm cách ngăn cản tiến trình này cùng với một thiểu số sáng suốt người Việt. Nhưng Hoa Kỳ đã ứng xử quá vụng về để rồi Việt Nam đi theo con đường toàn thống.

     Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đem chủ thuyết Mác-xít làm huyền tượng thay thế cho ngôi vị thiên tử của Việt Nam. Người Cộng Sản những tưởng hình ảnh "thế giới đại đồng" và "xóa bỏ giai cấp" sẽ đem lại ấm no cho nhân dân Việt Nam. Họ tự xem họ là đỉnh cao của trí tuệ loài người và họ mượn danh nghĩa của người vô sản để đàn áp và tiêu diệt tất cả những thành phần mà họ cho là cản trở bước tiến của họ. Họ thành tâm tin tưởng rằng để thể hiện lý tưởng đó, trứng cần phải được đập vỡ để có chả trứng mà ăn. Nhưng, đúng như Isaiah Berlin minh luận, trứng đã bị đập vỡ quá nhiều nhưng chả trứng không thấy đâu cả và kết quả lùi dần trong một khoảng thời gian vô hạn định. Người xưa đem tế con người để dâng cho vô số các vị thần linh, người nay để dâng cho các chủ nghĩa nhất nguyên, xã hội chủ nghĩa, quốc xã chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa...

     Máu đã đổ quá nhiều, xương đã chất thành núi, thiết nghĩ người Việt Nam nên tìm lại huyền tượng "Đồng Bào" (cùng trong một Bọc Trăm Trứng) để thể hiện tinh thần đa nguyên vốn đã sẵn có trong lòng mỗi người Việt.

Nguyễn GiaThưởng
(Brussels)

<Trở về đầu trang>