Tham
khảo
Nguồn
gốc của đa nguyên và những hình thái của xã hội đa nguyên
Nguyễn
Gia Thưởng
Cùng với dân chủ và nhân quyền, đa
nguyên là một trong ba giá trị soi sáng của xã hội tiến bộ
hiện đại. Đa nguyên được nói đến nhiều sau này là khi bức tường
Bá Linh sụp đổ (1989), Liên Bang Sô Viết tan vỡ và tất cả các
nước Đông Âu từ bỏ chế độ gọi là xã hội chủ nghĩa. Đa
nguyên được xem như là giải pháp thay thế cho những chế độ
chuyên chế, độc tài, nhất nguyên, coi nhẹ giá trị của con người,
của cá nhân. Đa nguyên kết tinh những khát vọng đi tìm một cơ
sở tư tưởng mới.
Tuy nhiên đa nguyên không phải là
một hiện tượng xuất hiện mới đây, đa nguyên càng không phải
là một kết hợp những truyền thống, những hệ thống giá trị,
những nếp sống, những nếp suy nghĩ khác biệt. Đa nguyên không
phải là tổng hợp của các hệ thống trên. Khởi sự, đa nguyên
là một cố gắng thích nghi để sinh tồn của các xã hội "lương"
trong lòng của xã hội ki-tô-giáo đang thời kì thịnh phát vào
giữa thế kỉ thứ tư. Sự việc các vị sáng lập Giáo Hội Công
Giáo chấp nhận thỏa hiệp sống chung với nếp văn hóa lương (tương
phản với văn hóa ki-tô-giáo) là khởi điểm phát sinh các xã
hội đa nguyên, và trải qua hằng thế kỉ, nguyên lý "đồng
nhất trong sự khác biệt" đã thấm nhập các xã hội Âu châu.
Như triết gia Pierre Abélard (1079-1142) đã nhấn mạnh nguyên lý này
: "diversa non adversa" (khác biệt nhưng không là địch
thủ), Âu châu của nhất nguyên ki-tô-giáo trở thành đa nguyên.
Danh từ "đa nguyên" chỉ
xuất hiện mới đây thôi. Triết gia Đức Christian Wolff là người
đầu tiên xử dụng danh từ này vào năm 1720. Ý niệm đa nguyên đã
được các nhà chính trị và văn hào như Benjamin Constant và Alexis
de Tocqueville đề cao như một phương thức khả dĩ đem lại thái
hoà cho xã hội.
Triết gia và toán học gia Anaxagore de
Clazomène (500-428 trước công nguyên) được coi là cha tinh thần
của đa nguyên. Trong một vài bài ông để lại cho hậu thế, ông
mô phỏng thế giới như một kết hợp của những phần tử rời
rạc trong một tổng thể. Ông thấy nơi mọi sự vật chỉ là
"qui tụ và tán phát", khởi đầu của sự vật là qui tụ
và kết thúc của sự vật là tán phát.
Theo Nietzsche, đa nguyên bắt nguồn
từ tôn giáo đa thần. Việc tạo dựng các vị thần linh, các đấng
anh hùng cũng như đủ lọai vật kì dị phản ảnh bản năng phóng
khoáng và hình thái đa dạng của tư tưởng con người, nó cũng bày
tỏ những khát vọng của bản ngã, của cá nhân.
Theo William James, đa thần là biểu hiệu tính chất đa nguyên
của vũ trụ, là tổng hợp của những hình thái và những nguyên
lý bao trùm vũ trụ.
Theo Friedrich von Wieser, con người không
bao giờ trực diện với xã hội, nhưng trực diện với những
tập hợp, những hiệp hội, hoặc những định chế do xã hội
lập nên.
Như vậy đa nguyên là gì ? Thể hiện
tinh thần đa nguyên ra sao ?
Thể hiện tinh thần đa nguyên là tìm
cách giải thích cái tổng thể dựa trên căn bản các phần tử phân
tán, rời rạc, bất túc, bất phân giản. Các phần tử không
những là khởi điểm của tư tưởng mà cũng là kết quả của tư
tưởng. Người có tư tưởng "nhất nguyên" giải thích
sự vật theo một khuôn mẫu nhất định, đã vạch định sẵn.
Họ gạt bỏ ra ngoài những phần tử dị biệt. Trái lại, con người
đa nguyên không dám khẳng định mình đã đạt được cái nhìn rõ
rệt của tổng thể.
Đa nguyên là chú ý đến những mối
tương quan giữa những phần tử và khi hành động, tạo nên
những sợi dây liên kết mềm dẻo không ngoài mục đích tôn
trọng hoặc bảo tồn tối đa tinh thần tự trị của các phần
tử.
Đa nguyên là không bao giờ quên
những khác biệt giữa sự vật và sự việc và không gian ngăn cách
chung, đồng thời phải thấu hiểu những cơ cấu trung gian của chúng.
Đa nguyên là luôn cảnh giác với con
số 1 (quyền lực của một ông chủ độc nhất), là tìm cách thông
hiệp bằng những danh từ "một vài" hoặc "số
nhiều" nhưng không đi đến một con số quá to lớn. Đa nguyên
là từ chối mọi chủ thuyết triết học và xã hội học có tính
cách đặt để nhân danh lịch sử. Đa nguyên chủ trương tinh
thần cởi mở bằng cách thay thế động từ "phải" (mà các
đệ tử của Hegel thích dùng) bằng động từ "có thể".
Và theo William James, đằng sau mỗi một lịêt kê nên thêm chữ
"vân vân" vì "luôn luôn có một cái gì đó nó thoát
ra khỏi sự chú ý của chúng ta".
Đa nguyên là gắn bó tha thiết với
sự sống và thiên nhiên (vì bản chất của thiên nhiên là đa
dạng), là học hỏi bài học vô tận của những dữ kiện. Về
mặt khoa học, đa nguyên đồng nghĩa với tinh thần thực tiễn,
với phương pháp luận thực nghiệm (pragmatisme)
Đa nguyên là chấp nhận đối thọai,
chấp nhận những liên hệ cá nhân - liên tôn, liên tộc, liên
quốc - trong tinh thần tương kính và tinh thần bao dung.
Con người đa nguyên nhận định
thời kì thống nhất các thể chế là một hiện tựơng chậm
trễ trong tiến trình xây dựng những nền văn hóa. Nguyên tắc này
được chấp nhận với một thái độ dè dặt (ví dụ việc kết
hợp các nước Âu châu vào một thể chế chung).
Con người đa nguyên lo lắng khi thấy
xuất hiện những lề luật, những tập quán có khuynh hướng đồng
nhất vì khuynh hướng đồng nhất xóa bỏ những yếu tố dị thường,
khác biệt và con người đa nguyên có cảm quan đã mất đi một cái
gì không thể lấy lại được.
Dựa trên những nhận xét trên, ta có
thể quyết đoán mô hình xã hội đa nguyên là một mô hình xã
hội cởi mở trái ngược với mô hình xã hội khép kín đã được
Platon, Hegel và Marx đề cao. Theo Karl R. Popper, mô hình xã hội cởi
mở là một hình thức tổ chức xã hội mới xuất hiện sau này,
phát xuất từ sự tan rã của những xã hội khép kín hoặc xã
hội có tính cách bộ lạc.
Chúng ta thử tìm hiểu các hình thái
của những xã hội đa nguyên. Một cách tổng quát, chúng ta có
thể nhận diện những xã hội đa nguyên qua những đặc điểm sau
:
1. Tính cách thẩm thấu biên giới
của các xã hội này cho phép những trao đổi về mọi mặt như di
chuyển tự do, giao lưu tư tưởng và hàng hóa. Đó là nguồn gốc
của sự giàu có, sự phong phú, sự thái hòa của các xã hội. Điều
này đã được kiểm nghiệm với thời gian. Thương mại là nền
tảng không thể thiếu vắng của tự do cá nhân và tự do cộng đồng.
2. Biết thích nghi với nguyên lý
"biến dịch", sự biến đổi bất tận của mọi sự vật
không mâu thuẫn với ý niệm liên tục, ý niệm tiếp nối vốn
sẵn có trong xã hội đa nguyên. Việc cải tiến xã hội là công
trình của những cá nhân tự do, năng động và có tinh thần trách
nhiệm. Trái ngược với các chế độ thần quyền và chế độ
chuyên chế, xã hội tự do tiến hóa theo những hằng số, trong đó
"con người của muôn thủa" là một hằng số biểu tượng
nhất.
3. Cá nhân là mục tiêu, là đối tượng
phục vụ của Nhà Nước. Cá nhân tích lũy những truyền thống,
những tín ngưỡng và những giá trị "bất diệt" hoặc
"vĩnh cửu" do cha ông truyền lại. Cá nhân cũng là nguồn gốc phát huy sáng
kiến. Cá nhân là trung tâm của một hệ thống, một mạng lưới
liên hệ xã hội, một phần do được thừa hưởng, một phần do
y gầy dựng. Mỗi một con người tự tạo cho mình một số dây liên
lạc trong đó bao gồm gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những thành
viên hội đoàn và câu lạc bộ. Mọi xã hội đều được cấu
tạo bởi toàn thể những hệ thống như vậy.
4. Đa nguyên được thể hiện qua vai
trò sáng tạo của cá nhân, qua tương quan hỗ tương giữa sáng
kiến cá nhân và ý muốn bảo tồn giá trị của tập thể, trái
ngược với xã hội tập quyền trong đó cá nhân là một chướng
ngại vật cần phải đè bẹp để xây dựng một xã hội thuần
nhất, rập khuôn xã hội của loài ong, loài kiến, loài mối.
5. Trong xã hội đa nguyên, cá nhân
tự tạo cho mình một khoảng không gian riêng biệt, tự trị, không
ràng buộc.
6. Cá nhân và tự do : những ý niệm
này không phải là kết quả của một chuỗi dài suy tư và học
hỏi, nó sẵn tiềm ẩn trong lòng xã hội đa nguyên. Một xã hội
tìm cách giới hạn những tự do bằng cách viện dẫn những trường
hợp lịch sử "khách quan", thường cuối cùng xóa bỏ hoàn
toàn những tự do này. Con người không tìm đến tự do, con người
sinh ra trong tự do.
7. Quyền sở hữu. Theo Aristote, con người
có hai động cơ chính : quyền sở hữu và cảm tình ; hai yếu tố
này không có chỗ đứng trong xã hội khép kín của Platon. Xã hội
mở, trái ngược với xã hội khép kín, coi quyền sở hữu như
một định chế cho phép cá nhân đương đầu với quyền lực
của chính quyền.
8. Một chính quyền không mạnh quá mà
cũng không yếu quá. Theo Joseph de Maistre (1821), đó là lý tưởng
trung hòa mà người Âu châu luôn mong ước và ông khẳng định
tất cả những suy tư, những đòi hỏi của người Âu châu đối
với chính quyền là : "Làm thế nào để giới hạn quyền
lực tối thượng mà không phá hủy nó ?".
9. Chính quyền pháp trị. Những tương
quan giữa công dân và chinh quyền đặt trên căn bản
pháp luật. Người dân sống theo pháp luật chứ không theo võ
lực.
Jacob Burckhardt (1818-1897) là người đầu
tiên ghi nhận phương thức sinh hoạt của một xã hội có cơ cấu
đa nguyên. Ông phân biệt ba yếu tố lớn : chính quyền, tôn giáo
và văn hóa. Yếu tố văn hóa rất linh động, khác hẳn hai yếu
tố chính quyền và tôn giáo và được dùng làm kim chỉ nam cho hai
yếu tố kia. Cả ba yếu tố này không có cùng một động năng.
Trong một trường hợp nào đó, một trong ba yếu tố này trội hơn
hai yếu tố khác. Có khi trong giai đọan khủng hoảng, ta thấy có
trường hợp thoán đoạt, chẳng hạn như trường hợp Giáo Hội Công
Giáo tiếp thu quyền lực của đế quốc La Mã khi đế quốc La Mã
tan vỡ. Khi chính quyền hoặc tôn giáo khống chế các yếu tố khác,
xã hội mất đi tính cách đa nguyên (trường hợp xã hội Đức
thời quốc xã Hitler, xã hội Nga thời Liên Bang Sô Viết, xã hội
Iran và xã hội Việt Nam hiện nay, vân vân…).
Ông Burckhardt nhận định có 6 định
hướng xã hội : Văn hóa do Chính quyền định hướng ; Chính
quyền do Văn hóa định hướng ; Văn hóa do Tôn giáo định hướng
; Tôn giáo do Văn hóa định hướng ; Chính quyền do Tôn giáo định
hướng ; Tôn giáo do Chính quyền định hướng.
Chúng ta chú ý đến ba định hướng
đầu :
- Văn hóa do chính quyền định hướng. Đây là trường hợp
của văn hóa Ai Cập thời Trung Cổ, của văn hóa Pháp thời Louis
XIV đồng thời cũng là trường hợp của
văn hóa Nga thời Liên bang Sôviết, văn hóa các nước Đông
Âu vào những năm 1948 và 1989, văn hóa Việt Nam hiện nay, v.v.
- Chính quyền do Văn hóa định hướng . Đây là thời kỳ
"cách mạng văn hóa" của thời buổi Ánh Sáng, do công trình
của Voltaire, của Jean Jacques Rousseau và giới trí thức Paris ở Pháp.
- Văn hóa do Tôn giáo định hướng. Đây là trường hợp
của Islam (Hồi Giáo), của đế quốc Byzance (330-1453) và của một
số cộng hòa thần quyền thời Phục Hưng (Renaissance) và thời
Cải cách (Réforme).
Sau đây là nhận định tổng quát
về tinh thần chỉ đạo xã hội đa nguyên. Một xã hội trong đó
sự hợp nhất được thực hiện qua những định hướng vừa có
tính cách bổ túc, vừa có tính cách mâu thuẫn gồm những đặc
điểm chung :
1. Luôn có những xung khắc hay xung đột có tính cách nội
tại hoặc cơ cấu vì những ước vọng muốn chế ngự phạm vi
ảnh hưởng của các phần tử cấu tạo nên xã hội đa nguyên.
2. Sự hiện hữu của những tổ chức hoặc những thủ tục
hoà giải để giải quyết những mâu thuẫn. Nói chung, sức
thuyết phục thay thế cho sức bạo động. Con người đa nguyên là
con người của thương thảo.
3. Những giải pháp đề nghị luôn có tính cách tạm thời,
có thể thay thế bằng những phương thức mới để kịp thích
ứng với trạng huống mới. Chính vì vậy nó đòi hỏi chữ
"khiêm" nơi những vị xây dựng luật pháp, những nhà thương
thuyết.
4. Ý niệm thỏa hiệp, trong bối cảnh này, mang một sắc thái
tích cực, nơi đây không có kẻ thắng người bại. Những giải
pháp chấp nhận không làm tổn thương danh dự của cả hai bên.
5. Tinh thần chấp nhận khác biệt và tinh thần tương kính
giữa các phần tử trong xã hội
6. Trong các xã hội đa nguyên , thường phát sinh những cảm
giác xa lạ và ngăn cách vì những cảm quan dị biệt, và có
những câu hỏi thường được đặt ra như : "Có phải chúng
ta cùng trong một xã hội không ?", "Chúng ta có những điểm
tương đồng nào với những người kia ?".
7. Lý tưởng "trung dung" hay "trung hòa" là
nền tảng cơ sở của xã hội đa nguyên.
8. Tinh thần bao dung cũng đóng giữ một vai trò quan trọng.
Không có tinh thần này thì mọi cơ cấu, mọi guồng máy chính
trị, xã hội, v.v. mặc dù đã được xây dựng với bao nhiêu kiên
nhẫn, có thể bị hao mòn, khựng đứng và gẫy đổ.
9. Tinh thần thực nghiệm (pragmatisme) thấm nhập vào luật pháp.
Nó yêu cầu các nhà sọan thảo luật pháp tránh mọi quan điểm có
tính cách chủ nghiã hay giáo điều Những giải pháp "có giá
trị đối với mọi người và ở mọi nơi" không phù hợp
với kiểm nghiệm lịch sử của thể chế đa nguyên. Tinh thần
thực tiễn, óc quan sát thực tế, những sự thật hiển nhiên,
những sự vật hiển hiện và nhất là "thân phận con người",
tất cả những yếu tố này không thể thiếu vắng trong xã hội
đa nguyên.
Thêm vào cơ cấu định chế của
những xã hội đa nguyên đã được trình bày, còn có một vài điểm
khác cần nêu lên:
- Việc hình thành những quyền lực trung gian, làm trái độn
giữa "trên" và
"dưới", giữa cấp lãnh đạo và người dân. Những trạm
quyền lực trung gian chính là cơ cấu quyết định, dựa vào đó các
hiệp hội nảy nở và bao trùm xã hội dân sự (ngược lại trong
xã hội khép kín, các cơ quan hành chánh chỉ là những "sợi dây
chuyển tiếp" mệnh lệnh của chính quyền trung ương).
- Thay vào khuynh hướng "Nhà Nước/Quốc gia" là
khuynh hướng tản quyền. Hiện nay ở Âu châu đang xuất hiện
những phong trào "tự trị vùng".
- Chen vào các hệ thống liên lạc hàng dọc là các hệ
thống liên lạc hàng ngang. Các cấp lãnh đạo vùng và địa phương
có thể liên lạc trực tiếp với nhau.
- Trong mô hình xã hội khép kín, quyền phát kiến (phát huy sáng
kiến) tùy thuộc triệt để vào cấp lãnh đạo nằm trên đỉnh
cao của kim-tự-tháp. Trái lại trong mô hình xã hội mở ( xã hội
đa nguyên), mỗi thành phần của xã hội đều có quyền ảnh hưởng
lên Nhà Nước, lên những khu vực họat động của xã hội.
- Nhà nước và xã hội dân sự nằm trong trạng thái năng động
thường trực. Cá nhân đối với sinh họat cộng đồng có thái độ
tích cực, trái ngược với chế độ độc tài, chuyên chế, Nhà nước
kềm kẹp xã hội trong một tình trạng bất động thường trực và
đòi hỏi sự tham dự của cá nhân trong những cuộc biểu diễn
lực lượng không đòi hỏi trách nhiệm nơi họ.
- Các thành phần gọi là "sống bên lề xã hội" không
bị gạt ra ngoài. Họ cũng được chú trọng như mọi thành phần
xã hội khác.
- Những buổi lễ ăn mừng không nằm trong khuôn khổ định
chế nhà nước cho phép con người thoát ra khỏi những gò bó của
cuộc sống hàng ngày.
Đa nguyên chính trị và xã hội thường
được xem như một hiện tượng chậm trễ và có tính cách
chuyển tiếp. Vì đa nguyên dựa trên những giá trị nhân bản như
lòng bao dung, tính ôn hòa, tinh thần trung chính, óc thỏa thuận, nên
dễ bị hiểu lầm là một thể chế chuyển tiếp giữa hai thời
kỳ chuyên chế. Nhiều người lầm tưởng rằng những đối thủ
truyền kiếp của đa nguyên - độc tài chuyên chế và chủ nghĩa
quốc gia hẹp hòi - có những vũ khí mạnh gấp bội để giới
hạn đa nguyên trong thời gian. Nhưng thực tế không phải như
vậy.
Hiện tượng đa nguyên mang rất
nhiều hình thái. Đó là một trạng thái của tinh thần, đó là
một quan điểm triết học, đó là một cảm quan của cá nhân đối
với thế giới và trên hết là một mô hình tổ chức xã hội
bắt nguồn từ thời Thượng Cổ. Đa nguyên còn tồn tại cho đến
ngày nay là nhờ nó bắt rễ ăn sâu vào bản thể con người.
Về mặt tư tưởng, đa nguyên nổi
bật trong văn hóa chính trị ngày nay cùng với những giá trị :
con người, tự do, đời sống cộng đồng, quyền sở hữu, Nhà nước
pháp trị, v.v.
Về mô hình tổ chức xã hội, xã
hội đa nguyên vượt trội hơn những mô hình xã hội khép kín. Xã
hội Đức vào thời Hitler trong một thời gian ngắn nhưng đẫm máu
đã khước từ mô hình đa nguyên. Trong vòng 40 năm, đa nguyên
tiềm ẩn trong những nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại các nước
Đông Âu để rồi vào những thập niên 1970 và 1980 trở lại
mạnh mẽ hơn bao giờ. Năm 1989 khai mào một kỷ nguyên mới mang hình
thái đa nguyên cho cả Đông Âu.
Tại Việt Nam, chế độ xã hội chủ
nghĩa sẽ chỉ là một dấu ngoặc nhỏ trong quá trình xây dựng đất
nước. Mặc dù Việt Nam đã trải qua rất nhiều chế độ quân
chủ, có một điều chắc chắn mô hình xã hội đa nguyên đã được
thực thi, vì trong pháp chế sử Việt Nam có câu : "Phép vua
thua lệ làng". Việc khảo cứu mô hình xã hội đa nguyên trong
lịch sử Việt Nam thuộc
phạm vi của một chương trình nghiên cứu khác.
Nguyễn
Gia Thưởng
(Brussels, Belgium)