Để có một giải pháp chung cho cả dân tộc  

Võ Xuân Minh

''Cố gắng đầu tiên, trọng đại và cam go của những người dân chủ là thức tỉnh dân chúng rằng bắt buộc phải có một giải pháp chung, nghĩa là một thay đổi chế độ chính trị, chứ mỗi người không thể xé lẻ và luồn lách để giải quyết những vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân. […]

Chừng nào quần chúng còn chưa tin là mọi người Việt Nam đều gắn bó với nhau trong một số phận chung, và do đó cần một giải pháp chung, cuộc vận động dân chủ vẫn chưa thể thành công và chế độ độc tài vẫn tồn tại, hay nếu có sụp đổ do sự ruỗng nát của chính nó thì cũng nhường chỗ cho một tình trạng hỗn loạn vô chính phủ còn tồi tệ hơn cả một chế độ độc tài''.
(Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên – Thành Công Thế Kỷ 21, tr. 89-90).
 

     Sau khi đã có được tiến bộ và phồn vinh, những quốc gia dân chủ đang đầu tư suy nghĩ về một hướng đi mới để nâng cao thêm đời sống và phẩm giá của người dân vốn đã sung túc và được tôn trọng. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nạn độc tài, người dân Việt Nam vẫn chưa có đầy đủ những quyền làm người và sống trong thiếu thốn, tủi nhục.

     Số phận của mỗi người luôn luôn gắn liền với số phận của quốc gia. Cùng là người Việt nhưng nếu sống tại Mỹ thì lợi tức trung bình cao gấp trăm lần lợi tức sống tại Việt Nam. Không những vậy, quyền làm người của họ được tôn trọng và tương lai con em họ cũng được bảo đảm.

     Nếu Việt Nam giàu mạnh như những quốc gia tiến bộ thì đời sống của người dân Việt Nam cũng cao như đời sống của người dân các nước đó chứ không phải khốn khổ như hiện nay ; người Việt hải ngoại cũng sẽ được kính trọng và có được một tâm hồn bình an, chứ không phải bị coi thường và phải ray rứt.

     Nếu có một số người nào đó đã thành công tại Việt Nam, nếu gọi là thành công, thì đó chỉ là một số rất nhỏ và sự thành công đó cũng rất tạm bợ và đầy bất trắc.  Nếu có một số người nào đó đã thành công tại hải ngoại thì thành công đó cũng không toàn vẹn vì nó không xóa được sự tủi nhục của một người mang gốc gác của một quốc gia độc tài lạc hậu. Hơn nữa, hạnh phúc của con người không chỉ tùy thuộc vào của cải vật chất mà còn tùy thuộc vào sự bình an của tâm hồn. Lương tâm của chúng ta sẽ không yên ổn nếu dân tộc Việt Nam khốn khổ.

     Nói chung, số phận và tương lai của Việt Nam đều ảnh hưởng, nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, đến số phận và tương lai của mỗi chúng ta và con em chúng ta. 

     Muốn thay đổi số phận của mình thì phải thay đổi số phận của quốc gia. Không thể xây dựng đời mình, gia đình mình, con em mình mà không nghĩ đến việc xây dựng đắt nước. Tương lai của mỗi người đều gắn bó với tương lai chung của dân tộc. Giải pháp cho mỗi người cũng là giải pháp cho mọi người. Mỗi chúng ta đều cần phải có một giải pháp chung cho cả dân tộc.

     Giải pháp nào ?

     Thế giới đã cho thấy chỉ có tự do và dân chủ mới mang lại tiến bộ vàø phồn vinh ; độc tài và tham nhũng là nguồn gốc của mọi trì trệ và khốn khổ. Giải pháp cho quốc gia Việt Nam hiện nay, giải pháp chung cho cả dân tộc, và cũng là giải pháp cho mỗi người Việt, là chấm dứt độc tài và xây dựng dân chủ. Và giải pháp đó chỉ có thể là một giải pháp chính trị.

     Hầu hết mọi người đều đồng ý là vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay là chính quyền cộng sản, nghĩa là một vấn đề chính trị. Để giải quyết một vấn đề chính trị, giải pháp hay nhất, có khả năng thành công nhanh chóng nhất và bảo đảm hòa bình nhất là giải pháp chính trị. Đối với một quốc gia bình thường điều này là hiểûn nhiên nhưng đối với Việt Nam thì không hẳn như vậy.   

     Một câu hỏi được đặt ra : Tại sao chế độ cộng sản Việt Nam vẫn còn tồn tại đến ngày nay ? Ai ai cũng biết chế độ hiện nay là một chế độ đã tàn phá đất nước, làm ung thối xã hội, đày đọa người dân và giam hãm đất nước trong nghèo nàn lạc hậu ; một chế độ không ngần ngại dâng đất và biển cho ngoại bang, tham nhũng và nuôi dưỡng các băng đảng xã hội đen, bắt giam những thanh niên hiền lành yêu nước và làm Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới ; một chế độ hoàn toàn suy yếu, ruỗng nát, và bị cô lập ; một chế độ không còn lý tưởng cũng như tư tưởng chỉ đạo, luôn giành giựt nhau vì quyền lợi và bị mọi người chán ghét, kể cả những người trong đảng. Nói chung đó là một chế độ không còn có một lý do nào cũng như không có phương tiện và khả năng nào để tồn tại, nhưng vẫn tồn tại và vẫn nắm quyền lãnh đạo quốc gia. Tại sao ?

     Có nhiều lý do. Nhưng lý do chính, quan trọng nhất, là vì dân tộc ta ''dị ứng'' với chính trị.

     Đối với rất nhiều người Việt Nam chính trị là một cái gì cao xa hay xấu xa hay dữ dằn nên không thể hay không muốn đụng đến dù, với kinh nghiệm sống, biết rằng chính trị chi phối mọi lãnh vực, ảnh hưởng lớn đến đời sống của mình, gia đình mình, dân tộc mình. Đây là một vấn nạn lớn của Việt Nam.

     Vì dị ứng với chính trị nên chúng ta xa lánh chính trị, không tham gia các hoạt động chính trị, không ủng hộ các tổ chức chính trị và không chọn giải pháp chính trị.

     Tâm lý dị ứng với chính trị này rất thuận lợi cho các chế độ độc tài. Các chế độ độc tài không sợ người dân oán ghét họ mà chỉ sợ người dân làm chính trị. Thực tế cũng đã cho thấy các chế độ này luôn luôn huy động một bộ máy hùng hậu để dò xét, truy lùng, thủ tiêu và đàn áp những người làm chính trị, nghĩa là những người ưu tư trăn trở về những vấn đề của đất nước, suy nghĩ về những giải pháp và tìm cách phổ biến những giải pháp đó đến với mọi người. Đối với các chế độ độc tài, như độc tài cộng sản, thì những người này mới thật sự là ''lực lượng thù địch'' của họ.

     Tâm lý dị ứng với chính trị là một hỗ trợ rất đắc lực cho các chế độ độc tài. Nó làm cho những người làm chính trị bị cô lập, các phong trào chính trị khó phát triển và cuối cùng bị suy thoái hay bị tiêu diệt. Nếu tâm lý này còn thì các chế độ độc tài còn cơ hội để tồn tại. Và ngay cả một chế độ độc tài nào đó bị trào lưu thế giới cuốn đi thì tâm lý dị ứng với chính trị này sẽ mở đường cho một chế độ độc tài hay mị dân khác nảy sinh và lớn mạnh. Trong trường hợp của Việt Nam đó là nguy cơ một chế độ độc tài mafia-tài-phiệt sẽ thay thế chế độ độc tài cộng sản đang trên đà suy thoái.

     Dị ứng với chính trị đã đưa đến một mâu thuẫn đau lòng: Chúng ta muốn chấm dứt chế độ độc tài nhưng lại giúp cho chế độ này tồn tại. Chúng ta muốn nâng cao đời sống của mình cũng như của gia đình, dân tộc mình nhưng lại ngăn cản quốc gia tiến về dân chủ phồn vinh. Chúng ta cần phải giải quyết mâu thuẫn này để có thể xây dựng một tương lai tươi sáng cho cả dân tộc và cho chính mỗi chúng ta.

     Dị ứng với chính trị thật ra chỉ là một phản ứng tự nhiên của một dân tộc bị tước đoạt quốc gia, của người dân bị tước đoạt đất nước. Cụm từ mà chúng ta thường dùng như ''đất nước Việt Nam của chúng ta'', ''quốc gia Việt Nam của chúng ta'' là chỉ để diễn tả một ý chí, một hy vọng. Trên thực tế thì đất nước Việt Nam, quốc gia Việt Nam chưa bao giờ là thật sự của người Việt Nam cả. 

     Nền quân chủ chỉ chấm dứt trên đất nước Việt Nam vào giữa thế kỷ 20, nghĩa là rất gần đây. Dưới nền quân chủ thì đất nước là của riêng nhà vua. Chính trị là độc quyền của nhà vua. Người dân tuyệt đối không được làm chính trị. Mưu đồ chính trị là một tội lớn, có thể bị tru di tam tộc. Không những vậy, người dân cũng không có quyền yêu nước.  Yêu nước là một tội. Phan Chu Trinh, trong bài ''Đạo đức và luân lý Đông Tây'' đã viết : ''Tiếng thương nước đã có luật Gia-long cấm. Những kẻ học trò và dân gian không được nói đến việc nước, lo đến việc nước. Thương nước mà phải tù tội (!) cho nên những nhà thế phiệt giữ mình cho đến nỗi uốn nắn con từ trong nhà, lấy sự lo việc đời, sự thương nước làm sợ''. Hàng ngàn năm như vậy thì làm sao dân tộc Việt Nam không dị ứng với chính trị ?

     Sau khi chấm dứt được quân chủ thì độc tài thống trị trên nửa nước, rồi cả nước. So với thời quân chủ ngày xưa thì chính quyền hiện tại cũng không khác bao nhiêu. Một số người cũng chiếm lấy đất nước làm của riêng, cũng độc quyền chính trị và độc quyền yêu nước. Trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, thiên niên thứ ba, tại Việt Nam, yêu nước, làm chính trị hay chỉ liên quan đến chính trị vẫn còn là một tội, bị ngăn cấm, đàn áp, tù đày. Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn hiện nay vẫn bị giam chỉ vì quan tâm đến đất nước.

     Đọc cuốn ''Chuyện kể năm 2000'' của Bùi Ngọc Tấn chúng ta thấy nỗi khổ của người dân Việt Nam. Ông Chân (được hiểu là thân sinh của tác giả), đã tham gia cách mạng trước Cách mạng tháng Tám. Các con ông tham gia kháng chiến. Kết quả : ông Chân bị mấy tháng (tù), tác giả bị 55 tháng, một người anh bị 18 tháng. Lời khuyên con của ông Chân cho thấy đời sống của con người Việt Nam trên đất nước Việt Nam : ''Ta xem thời nào cũng vậy thôi, các anh ạ. Quan bênh quan. Là người dân thời nào cũng khổ''. Hay : ''Thời nào thì thời, ngu si hưởng thái bình, các anh chị ạ''. Đây là những câu nói ở thời điểm 1973, còn đúng ở thời điểm 2002 và có thể còn tiếp tục đúng .

     Người dân thời nào cũng khổ thì dấn thân tranh đấu để làm gì và để cho ai ? Không những ý chí tranh đấu mà cả sự sáng suốt (nhìn những vấn đề của đất nước) cũng không nên có. Ngu si hưởng thái bình, thật là thảm thương cho thân phận của người Việt Nam. Chúng ta cần xác định một lần nữa : đất nước Việt Nam, cho đến hiện nay, không phải là của mọi người Việt Nam.

     Nhận định như vậy để hiểu rằng dị ứng với chính trị hay ngay cả thờ ơ với đất nước chỉ là một điều tự nhiên. Điều không tự nhiên là với một đất nước như vậy mà vẫn có những người yêu nước, dấn thân làm chính trị, chấp nhận hy sinh để đưa đất nước đi lên và đưa dân tộc thoát khỏi cảnh tù đày, cơ cực. Có thể nói đó là những người ''đặc biệt'', nếu không nói là ''ngoại hạng''.

     Làm chính trị - được hiểu theo nghĩa là tìm cách giải quyết những vấn đề của quốc gia, mang lại phồn vinh cho đất nước và tiện nghi cho dân tộc - thời nào cũng khó. Nhưng đối với bối cảnh Việt Nam hiện nay thì còn khó gấp bội. Ngoài việc phải đối phó với một chính quyền độc tài dùng mọi thủ đoạn để độc quyền chính trị còn có những khó khăn lớn khác.

     Trước hết, làm chính trị được hiểu theo nghĩa ở trên là một quan niệm rất mới đối với người Việt Nam. Trước đây và ngay cả hiện nay, làm chính trị được hiểu, và thực tế đã cho thấy, là tìm cách giành chính quyền và giữ chính quyền. Để đạt được mục đích, mọi thủ đoạn và mánh lới đều được sử dụng. Không phải trước đây không có người làm chính trị vì dân vì nước. Nhưng số người đó quá ít và bị che lấp bởi những người làm chính trị chỉ vì mình, vì quyền lợi và tham vọng của mình. Câu nói của ông Chân: ''Ta xem thời nào cũng vậy thôi, các anh ạ. Quan bênh quan. Là người dân thời nào cũng khổ''. là một nhận định chung của người Việt Nam về môi trường chính trị Việt Nam. Thực tế là như vậy.

     Để có một giải pháp chung cho cả dân tộc chúng ta phải thay đổi quan điểm về chính trị đó. Và thay đổi một quan điểm đã được thực tế chứng minh trong một thời gian rất dài là một điều rắt khó.

     Một khó khăn kế tiếp là đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, kể cả những người làm chính trị, những khái niệm căn bản để xây dựng đất nước như quốc gia, dân tộc, nhà nước, chế độ chính trị rất mơ hồ, nhiều khi lệch lạc. Làm sao có thể xây dựng quốc gia nếu không có một khái niệm rõ ràng về nó. Làm sao có thể hình thành một nhà nước hiệu năng và lành mạnh nếu không có nhận thức rõ ràng về nhà nước đó. Làm sao có thể chọn lựa một chế độ chính trị phù hợp với đất nước Việt Nam và thời đại nếu không hiểu rõ các chế độ chính trị. Nhiều người làm chính trị cho rằng, và được đa số đồng ý, chỉ cần thay đổi chính quyền là giải quyết được tất cả mọi vấn đề của Việt Nam. Nhưng Việt Nam đã thay đổi bao lần chính quyền, và đời sống của dân tộc Việt Nam ? Lời ông Chân : ''Là người dân thời nào cũng khổ''. Thay đổi chính quyền, chế độ hiện nay chỉ là một điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ. Để đưa đất nước đi lên, để đưa dân tộc thoát khỏi khốn khổ đòi hỏi người làm chính trị có những khả năng, kiến thức khác ngoài việc chấm dứt chế độ hiện nay.

     Một khó khăn khác nữa là Việt Nam thiếu vắng nhân sự chính trị, được hiểu theo nghĩa là những người tìm cách giải quyết những vấn đề của quốc gia, mang lại phồn vinh cho đất nước và tiện nghi cho dân tộc. Từ trước đến nay, hầu hết những người làm chính trị là những người làm mọi cách để giành và giữ chính quyền hay là những người phục vụ cho chính quyền. Những người suy tư về những vấn đề quốc gia và tìm cách giải quyết quả thật là rất ít.

     Và khó khăn quan trọng nhất là thiếu vắng một tư tưởng chính trị (une pensée politique), một triết lý chính trị (une philosophie politique). Tư tưởng và triết lý là nền tảng của văn minh, là động cơ của tiến bộ. Lịch sử thế giới cho thấy thời nào, nơi nào có những nhà tư tưởng lớn, những triết gia lớn thì thời đó, nơi đó có những bước tiến lớn. Những Socrate, Platon, Aristote, Sénèque, Plutarque… đã là những cột trụ của nền văn minh Hy Lạp - La Mã. Họ đã đưa hai quốc gia này lên ngôi bá chủ và đã đóng góp tích cực vào sự tiến bộ chung của nhân loại. Những Montaigne, Descartes, Pascal, John Lock, Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Diderot... đã mở ra thế kỷ Ánh Sáng và đưa phương Tây vượt lên hơn hẳn phần còn lại của thế giới. Không có tư tưởng và triết lý chính trị thì khó có thể có những nhận định hay chọn lựa đúng và nhất là rất dễ có khuynh hướng bạo động hay cực đoan. Chủ nghĩa cộng sản sở dĩ được áp đặt lên trên đất nước chúng ta là vì dân tộc ta đã không có một cơ sở tư tưởng chính trị hay một triết lý chính trị.

     Để có một giải pháp chung cho cả dân tộc những người làm chính trị cần phải ý thức những khó khăn trên để chuẩn bị và vượt qua. Làm chính trị hiện nay là làm lại từ đầu. Phải xây dựng một cơ sở tư tưởng, một triết lý chính trị, phải đào tạo (hay tự đào tạo) nhân sự chính trị, phải nắm vững những khái niệm và kiến thức cần thiết để xây dựng quốc gia, thiết lập nhà nước và tổ chức xã hội, và phải làm sao cho người dân hiểu rằng làm chính trị là tìm cách giải quyết những vấn đề của quốc gia để đưa đất nước đi lên và mang lại đời sống tiện nghi cho dân tộc, nghĩa là làm sao để người dân hiểu rằng: thời này dân không còn khổ nữa. Khi đó người dân mới tham gia và giải pháp chung cho cả dân tộc mới thực hiện được.

     Tuy nhiên chúng ta không thể qui mọi trách nhiệm vào những người làm chính trị. Trong việc mưu tìm một giải pháp chung cho cả dân tộc, vai trò và trách nhiệm của những người trí thức, đặc biệt là những người làm văn hóa, không phải nhỏ.

     Làm văn hóa là gì nếu không phải là tìm cách nâng cao đời sống của mọi người và trước hết là những người khốn khổ gần gũi với mình. Trong những trường hợp đặc biệt, như trường hợp Việt Nam hiện nay, thì làm văn hóa là tìm cách để cho quốc gia có một nền chính trị tốt, vì chính trị ảnh hưởng đến đời sống của mọi người. Tất cả những người mở ra thế kỷ Ánh Sáng đều là những trí thức, triết gia, nhà văn và đều rất quan tâm đến chính trị. Có thể nói chính vì quan tâm đến chính trị nên họ đã cải thiện đời sống của dân tộc họ và tên tuổi họ sống mãi với thời gian.

     Không những không thể nhân danh văn hóa để không quan tâm đến chính trị mà ngược lại phải nhân danh văn hóa để hướng dẫn chính trị. Nếu trong chế độ độc tài văn hóa đóng vai trò thụ động và là công cụ phục vụ chính quyền thì trong chế độ dân chủ văn hóa đóng vai trò chủ động và hướng dẫn quần chúng, có nghĩa là hướng dẫn chính trị.

     Một dân tộc không có tư tưởng, triết lý là một dân tộc không có định hướng. Vai trò và nhiệm vụ của người làm văn hóa không ngừng lại ở bài văn, cuốn truyện mà còn phải góp phần tìm ra một hướng đi cho dân tộc. Một kinh nghiệm đau lòng mà chúng ta cần để ý đến: Những thực trạng của xã hội phong kiến đã được Ngô Tất Tố trình bày trong cuốn ''Tắt đèn'' hay Nguyễn Công Hoan trong cuốn ''Bước đường cùng'' đã đưa đến kết quả tai hại, có thể là ngoài sự mong muốn của họ, là un đúc sự phẫn uất, nuôi dưỡng sự căm thù và làm lợi cho phong trào cộng sản. Tuy nhiên trong bối cảnh ''tranh tối, tranh sáng'' của xã hội thời đó, chúng ta, hay ít ra cá nhân tôi, không có thẩm quyền phán xét họ. Nhưng những thế hệ sau có quyền phán xét tầng lớp trí thức và những người làm văn hóa hiện nay và có quyền trách thế hệ đi trước không góp phần tìm kiếm một giải pháp chung cho cả dân tộc và để lại cho họ một tương lai không mấy tươi sáng.

     Thật ra, nhiệm vụ tìm kiếm một giải pháp chung cho cả dân tộc không phải chỉ dành riêng cho những người làm chính trị hay văn hóa mà là nhiệm vụ, và cũng là quyền lợi, chung của mỗi chúng ta, mỗi người dân Việt Nam.

     Tương lai của mỗi chúng ta một phần tùy thuộc vào chúng ta và phần khác tùy thuộc vào xã hội chúng ta sống. Trong một quốc gia bình thường, dân chủ và giàu mạnh, thì trọng tâm của mỗi chúng ta là lo cho hạnh phúc và tương lai của mình và con em mình. Nhưng trong một xã hội bế tắc thì trọng tâm của chúng ta là giải quyết những vấn đề quốc gia. Khó có thể có một tương lai tươi sáng trong một đất nước tăm tối.

     Để giải quyết những vấn đề của quốc gia chúng ta cần có một giải pháp chung, và giải pháp đó chỉ có thể là giải pháp chính trị. 

     Nếu suy nghĩ về những vấn đề quốc gia, tham gia đời sống chính trị bị cấm đoán trong thời quân chủ hay dưới các chế độ độc tài thì đó là một quyền và cũng là một bổn phận của những người dân chủ.

     Cần phải sống như những người dân chủ trách nhiệm để có dân chủ và để bảo vệ dân chủ. Và chỉ khi nào thật sự có dân chủ thì chúng ta mới có thể làm chủ được đất nước mình cũng như đời mình. Khi đó đất nước Việt Nam sẽ tiến bộ và phồn vinh, đời sống và phẩm giá của người dân Việt Nam được nâng cao và bảo đảm, chúng ta sẽ trút bỏ được thân phận khốn khổ và tủi nhục vì độc tài và lạc hậu.

Võ Xuân Minh

<Trở về đầu trang>