VII.
Chuyển tiếp thành công về dân chủ
1. Bài
toán chuyển tiếp
Sau khi chế độ độc tài
đảng trị chấm dứt chúng ta sẽ trải qua một giai đoạn chuyển
tiếp cực kỳ khó khăn. Trong một khoảng thời gian chừng năm năm,
chúng ta sẽ phải làm những cố gắng rất phi thường để vượt
qua những thử thách vô cùng cam go, trước khi đất nước có thể
trở thành một quốc gia bình thường và hội nhập thực sự vào
cộng đồng quốc tế.
Chúng ta sẽ phải chuyển
đổi từ một hệ thống nhất nguyên, tập trung, chuyên quyền sang
một chế độ đa nguyên, tản quyền và phân quyền.
Chúng ta sẽ phải thay
thế một kinh tế hoạch định đặt nền tảng trên các xí
nghiệp quốc doanh bằng một kinh tế thị trường lấy các xí
nghiệp tư làm sức mạnh.
Chúng ta sẽ phải biến
một guồng máy nhà nước quan liêu, bàn giấy, công cụ của một
đảng thành một nhà nước hữu hiệu, trách nhiệm, lành mạnh,
phục vụ cho công ích.
Chúng ta sẽ phải chấm
dứt lối quản lý bằng nghị quyết và chỉ thị để thiết lập
một nhà nước pháp trị.
Chúng ta sẽ phải thay
thế một nền giáo dục tuyên truyền và nhồi sọ bằng một nền
giáo dục khách quan và khai phóng.
Chúng ta kế thừa một đất
nước suy kiệt toàn diện, trộm cướp lộng hành, tham nhũng đã
thành nền nếp, buôn lậu đã thành một phong trào quốc gia, các
bệnh truyền nhiễm lan tràn một cách không kiểm soát, tuổi trẻ
thất học và bỏ học, con người suy nhược, bi quan và chán nản,
môi trường sinh thái bị hủy hoại và ô nhiễm, chủ quyền kinh
tế và ngay cả đất đai đã mất nhiều về tay người ngoại
quốc, hàng chục triệu người sống trong cảnh nghèo khổ cùng
cực. Chúng ta sẽ phải biến đất nước đó thành một đất nước
có kỷ cương, có chủ quyền, có lòng tin, có liên đới, có sức
bật kinh tế và có sức thu hút đầu tư nước ngoài.
Chúng ta kế thừa một đất
nước chồng chất hận thù do chiến tranh và các chính sách phân
biệt đối xử để lại. Chúng ta sẽ phải hàn gắn những đổ
vỡ mà không gây ra những đổ vỡ mới. Chúng ta sẽ phải phục
hồi danh dự cho những người đã bị xúc phạm mà không xúc
phạm những người khác, phải bồi thường thiệt hại cho những
nạn nhân mà không tạo ra những nạn nhân mới.
Chúng ta cần minh định :
vấn đề đặt ra không phải là đi tìm một công thức mầu
nhiệm nào có thể biến đất nước thành giàu mạnh, không làm gì
có một công thức như vậy. Vấn đề là từ những thực tại
của đất nước và bối cảnh thế giới nhận diện những vấn
đề cần được giải quyết ưu tiên và đề ra những giải đáp.
Mục tiêu của giai đoạn
chuyển tiếp này là tăng sản lượng quốc gia lên gấp đôi trong
khoảng thời gian năm năm đồng thời cải thiện được môi trường
và giềng mối xã hội, hóa giải mọi hận thù và hiềm khích,
thực sự đưa một Việt Nam hòa hợp vào quỹ đạo tiến bộ.
Mục tiêu này có thể đạt được và sẽ phải đạt được
bằng những chính sách và biện pháp không mâu thuẫn với những
định hướng lớn đã vạch ra.
Chúng ta có quá nhiều
vấn đề văn hóa xã hội trầm trọng và cấp bách cần giải
quyết nhưng lại chỉ có những tài nguyên rất eo hẹp. Nếu chúng
ta dành quá nhiều tài nguyên cho các vấn đề ấy thì chúng ta sẽ
không còn tài nguyên để phát triển kinh tế và sẽ dẫm chân
tại chỗ trong cảnh đói khổ. Ngược lại có những vấn đề văn
hóa xã hội gay gắt đến độ nếu không được giải quyết sẽ
triệt tiêu mọi cố gắng kinh tế. Phải nhìn nhận một thực tế
phũ phàng là chúng ta sẽ còn phải chung sống với sự nghèo khổ
cơ cực nhiều năm nữa. Trong hoàn cảnh ngân sách eo hẹp chúng ta
sẽ phải thiết lập một thứ tự ưu tiên cho các vấn đề. Tinh
thần chỉ đạo là giải quyết cấp bách những vấn đề tối
cần thiết cho hòa giải dân tộc, an ninh xã hội và phát triển
kinh tế, các vấn đề khác sẽ được giải quyết theo một thứ
tự ưu tiên khác ngay khi khả năng kinh tế cho phép.
2. Những
biện pháp chính trị
2.1.
Trả chính quyền về cho nhân dân
Việc đầu tiên phải làm
là phi chính trị hóa guồng máy chính quyền, quân đội và công
an. Công chức và quân nhân có quyền tham gia các tổ chức chính
trị nhưng mọi sinh hoạt đảng phái trong mọi cơ quan hành chính và
quân sự của nhà nước sẽ bị nghiêm cấm. Bộ máy hành chính,
quân đội và công an phải là những công cụ phi chính trị, hoàn
toàn độc lập với mọi chính đảng, tuyệt đối tôn trọng
hiến pháp, tuyệt đối phục tùng mọi chính quyền dân cử. Quân
đội và công an sẽ trở lại với sứ mạng cao cả là bảo vệ
đất nước, giữ gìn trật tự an ninh, và do đó cần được tách
rời hẳn khỏi mọi hoạt động kinh doanh. Các công ty hiện do quân
đội và công an làm chủ sẽ được giải tư. Những người đang
làm việc tại các công ty đó nếu muốn có thể được giải ngũ
để tiếp tục công việc.
Quân đội sẽ được
hiện đại hóa về trang bị và huấn luyện, đồng thời cũng sẽ
được tinh giản quân số.
2.2.
Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc
Một cố gắng phải bắt
đầu ngay và tiếp tục trong nhiều năm là thực hiện đường
lối hòa giải và hòa hợp dân tộc. Hòa giải và hòa hợp dân
tộc là một quốc sách của giai đoạn chuyển tiếp.
Mọi chính trị phạm sẽ
được trả tự do và phục hồi quyền công dân ngay tức khắc.
Mọi người vì lý do chính
trị, vì các chính sách đánh tư sản, cải cách ruộng đất, hay vì
đã từng là công chức quân nhân của miền Nam mà đã bị giam
cầm, hạ nhục sẽ được phục hồi danh dự và sẽ được bồi
thường thiệt hại ít nhất là một cách tượng trưng.
Nhà nước sẽ nhân danh
sự liên tục quốc gia nhận lỗi về những sai lầm trong quá
khứ, nhất là đối với những người đã chết oan dù ở trong hàng
ngũ nào và trong giai đoạn nào.
Những người đã bị
tịch thu tài sản sẽ được nhà nước nhận bồi hoàn, sự bồi
hoàn thực sự sẽ được thi hành dần dần với thời gian theo
khả năng kinh tế của nhà nước.
Một cơ quan đặc biệt,
cấp bộ, sẽ được thành lập để thực hiện chính sách hòa
giải dân tộc, đặc biệt là để nhận và giải quyết những
hồ sơ khiếu nại và đòi bồi thường của dân chúng. Một ủy
ban của quốc hội sẽ có trách nhiệm đảm bảo rằng mọi luật
lệ và qui định không đi ngược với quốc sách hòa giải và hòa
hợp dân tộc. Một hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc, độc
lập với chính quyền và gồm đại diện của các chính đảng, đại
diện các tôn giáo, đại diện các sắc tộc và các nhân vật có
uy tín thuộc xã hội dân sự sẽ được thành lập để giám sát
việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Nhà nước sẽ nghiêm
cấm mọi hành động trả thù báo oán và phân biệt đối xử.
Mọi người Việt Nam dù có quá khứ nào đều được đối xử bình
đẳng trong nghĩa vụ cũng như trong quyền lợi. Mọi công chức, quân
nhân đều sẽ được duy trì ở lại chức vụ đang giữ. Mọi
thay đổi nhân sự đều sẽ phải có lý do kỹ thuật, khách quan và
chính đáng.
Việc thực thi hòa giải
và hòa hợp dân tộc sẽ cần một thời gian rất dài. Mọi biện
pháp của nhà nước phải luôn luôn chứng tỏ thiện chí muốn
thực sự hàn gắn những đổ vỡ do quá khứ để lại, để mọi
người Việt Nam hài lòng bắt tay nhau xây dựng đất nước.
Để chính sách hòa giải
và hòa hợp dân tộc có nền tảng chính đáng và thêm sức mạnh,
một đạo luật về hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ được
soạn thảo để toàn dân biểu quyết qua trưng cầu dân ý.
2.3. Ban
hành một hiến pháp mới cho Cộng Hòa Việt Nam và tu chỉnh luật
pháp
Hiến pháp này sẽ do
một quốc hội lập hiến, cơ chế đầu tiên được bầu ra,
biểu quyết. Hiến pháp này phù hợp với chế độ chính trị đã
được chọn lựa và trình bày, và sẽ không được mang bất cứ
một qui chiếu nào về một chủ nghĩa, một tôn giáo hay một chính
đảng nào. Hiến pháp mới sẽ long trọng xác nhận những quyền
tự do căn bản. Án tử hình sẽ được bãi bỏ vì nó phản văn
minh và thực ra nó cũng không có cái hiệu lực mà sự dã man của
nó có thể làm ta lầm tưởng. Sau khi hiến pháp mới đã biểu
quyết xong, quốc hội lập pháp - có thể là ngay chính quốc hội
lập hiến biểu quyết tự biến thành quốc hội lập pháp nếu hoàn
cảnh cho phép - sẽ biểu quyết các bộ luật căn bản. Tinh thần
chỉ đạo cho việc soạn thảo các bộ luật căn bản này là
giản dị, sáng sủa, dễ hiểu và dễ tôn trọng trong bối cảnh
đất nước. Các đạo luật đầu tiên không nhất thiết phải hoàn
chỉnh. Điều quan trọng là đặt những nền tảng lành mạnh cho
sinh hoạt quốc gia, các đạo luật sau đó sẽ được bổ túc thêm
để càng ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh. Các đạo luật
hiện hành sẽ được rà soát lại ; một số đạo luật mới có
thể xuất phát từ các đạo luật hiện hành, sau khi đã loại
bỏ các qui chiếu về chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, và
các điều khoản phản dân chủ hay trái ngược với các quyền
tự do hiến định.
2.4.
Bắt đầu đem tản quyền vào thực tế
Ngay sau đó cần đem tản
quyền vào sinh hoạt chính trị. Điều này có nghĩa là cần một
đạo luật tổ chức lãnh thổ qui định ranh giới của từng địa
phương và một lịch trình bầu cử và thành lập các chính quyền
địa phương. Nguyên tắc chỉ đạo là các vùng phải khá thuần
nhất về mặt địa lý, giao thông, cấu tạo sắc tộc, chức năng
kinh tế, và phải có diện tích và dân số đầy đủ để có
thể là những thực thể tồn tại và phát triển được.
3.
Những biện pháp văn hóa xã hội
Những vấn đề gay gắt
nhất và cấp bách nhất đang đặt ra cho đất nước không phải là
những vấn đề kinh tế mà là những vấn đề văn hóa xã hội.
3.1. Tăng
cường trật tự an ninh
Việt Nam ngày hôm nay đang
là một trong những nước thiếu an ninh nhất thế giới. Mối đe
dọa an ninh đầu tiên chính là đảng và nhà nước cộng sản.
Bắt người trái phép, giam cầm và đánh đập dã man đã trở thành
thông lệ. Tình trạng thiếu an ninh cũng do những thành phần bất
hảo càng ngày càng đông đảo và càng ngày càng lộng hành. Dĩ
nhiên những tệ đoan xã hội là sản phẩm tự nhiên của xã hội
bế tắc hiện nay và chắc chắn sẽ giảm sút với sự trở lại
của hy vọng và niềm tin. Nhưng dầu sao đi nữa thì đất nước
ta cũng sẽ còn bất ổn trong một thời gian khá lâu và an ninh
trật tự sẽ là một vấn đề nhức nhối cho một chính quyền dân
chủ vừa được thành lập. Bảo đảm trật tự an ninh không có
nghĩa là giới hạn tự do mà còn là một điều kiện bắt buộc
để có tự do thực sự.
Luật pháp cần nghiêm
minh chứ không cần phải khe khắt, và nhất là không cần phải
hung bạo.
Mọi người Việt Nam đến
tuổi trưởng thành đều được cấp thẻ căn cước và giấy thông
hành, có quyền ở bất cứ nơi nào mình muốn và di chuyển tự do
trên lãnh thổ hay ra nước ngoài.
Luật pháp không rõ ràng
cũng là một nguyên nhân đưa đến phạm pháp. Trong tương lai đất
nước ta cần một luật pháp thật giản dị, thật dễ hiểu và
dễ tôn trọng nhưng cũng rất nghiêm khắc với những sai phạm.
Chính quyền hiện nay có
rất nhiều công an, nhưng công an được sử dụng trước hết vào
việc bảo vệ quyền lực của đảng cộng sản thay vì bảo vệ
trật tự an ninh, để đàn áp những khát vọng tự do dân chủ hơn
là để đàn áp những tệ đoan xã hội. Bởi vậy trong tương lai
các cơ quan công an tình báo, bảo vệ chính trị sẽ được
chuyển qua lực lượng bảo vệ trật tự an ninh. Việc tăng cường
trật tự an ninh như vậy chỉ là một sự cải tổ guồng máy an
ninh. Sự cải tổ này không những không tốn kém mà còn có thể
tiết kiệm rất nhiều cho ngân sách. Một chính quyền Việt Nam
thực sự dân chủ, không có nhu cầu đàn áp đối lập có thể
giảm ngân sách an ninh và đồng thời tăng cường trật tự xã
hội.
3.2.
Khắc phục các tệ nạn xã hội
Chúng ta hiện đang chứng
kiến một cuộc giằng co bất phân thắng bại giữa chính quyền
cộng sản và các tổ chức buôn lậu được sự bao che của
nhiều bộ phận của chính nhà nước. Về điểm này, một chính
phủ đứng đắn phải vừa cảm thông vừa quả quyết. Cảm thông
vì những người buôn lậu đã chỉ phản ứng lại một cách
quản lý kinh tế không chấp nhận được của chính quyền và vì
họ được sự hậu thuẫn của nhiều thành phần dân chúng. Cảm
thông cũng vì hiện nay buôn lậu là nguồn sinh sống của rất
nhiều người. Nhưng dầu thế nào đi nữa tệ buôn lậu bắt
buộc phải chấm dứt vì nó là một thách thức đối với quốc
gia, một mất mát lớn cho ngân sách và một cạnh tranh bất chính
và nguy hiểm cho hàng nội địa. Chính quyền hiện tại không có
khả năng để chấm dứt phong trào buôn lậu vì không có nổi
hậu thuẫn cần thiết trong dân chúng. Chỉ có một chính quyền có
uy tín, được toàn dân chấp nhận và tin tưởng là đứng đắn và
có khả năng đưa đất nước đi lên mới có thể thuyết phục
được quần chúng rằng chấm dứt phong trào buôn lậu là điều có
ích cho mọi người, và nhờ đó mới cô lập được các tổ
chức buôn lậu. Chính sách cần có là trước hết dẹp tan các
tổ chức buôn lậu qui mô đồng thời nhìn nhận một hình thức
mậu dịch biên giới tầm vóc nhỏ và có kiểm soát. Mục đích
của giai đoạn đầu chưa phải là dẹp hẳn buôn lậu mà là làm
cho các tổ chức lớn tan vỡ thành những nhóm nhỏ có thể chế
ngự được. Sau đó thuế đánh vào mậu dịch biên giới sẽ tăng
dần lên song song với các biện pháp kiểm soát càng ngày càng
chặt chẽ hơn, để sau một thời gian chừng năm năm việc trao đổi
qua biên giới trở thành bình thường.
Tham nhũng là bệnh ung thư
đối với sinh hoạt kinh tế. Không dẹp được tham nhũng thì bất
cứ chính sách kinh tế nào, dù hoàn chỉnh đến đâu cũng sẽ
thất bại. Tệ tham nhũng ngày nay đã đạt tới một mức độ khó
tưởng tượng. Nguyên nhân chính của tham nhũng trước hết là chính
bản chất của chế độ độc tài toàn trị trong đó việc bổ
nhiệm và thay thế các quan chức hoàn toàn không tùy thuộc vào
quần chúng và dư luận. Sau đó là guồng máy nhà nước áp đảo
và kềnh càng, là luật lệ rườm rà, mâu thuẫn cho phép những
giải thích chủ quan, thiên vị, tùy tiện. Tham nhũng là lợi dụng
công quyền cho lợi ích cá nhân, do đó muốn chống tham nhũng trước
hết phải giảm trọng lượng của quyền lực nhà nước, nghĩa là
phải thay thế guồng máy nhà nước nặng nề và toàn quyền bằng
một nhà nước nhẹ và quyền lực giới hạn. Sau đó cần một
luật pháp giản dị, minh bạch khiến người dân biết chắc chắn
những gì mình có thể làm và những gì mình không được làm và
không còn là những con tin của các quan chức nhà nước.
Một nguyên nhân quan
trọng khác là sự cấu kết và bao che giữa các đảng viên cộng
sản với nhau. Chính quyền cộng sản đã thú nhận là họ không
chống được tham nhũng, nhưng điều họ chưa chịu thú nhận là
chính đảng cộng sản là một nguyên nhân của tình trạng tham nhũng,
do đó tệ tham nhũng sẽ chỉ khắc phục được khi đảng cộng
sản không còn độc quyền chính trị.
Chống tham nhũng cũng như
chống buôn lậu cần phải có quyết tâm nhưng cũng cần có lòng
tin và hậu thuẫn của toàn dân. Một trong những đồng minh của
ta trong trận chiến cam go này là tự do ngôn luận. Trong một chế
độ thực sự tự do, nạn tham nhũng và hà hiếp dân chúng nếu không
bị dẹp hẳn thì cũng phải rút xuống ở một mức độ thấp.
Sự tố cáo của những người công dân tự do biết rõ mọi
quyền của mình là vũ khí chống tham nhũng hiệu lực nhất.
Mọi sáng kiến sẽ được
hoan nghênh để tranh thủ sự hưởng ứng tích cực của toàn dân
vào cố gắng quốc gia này.
3.3. Bãi
bỏ hoàn toàn mọi chính sách và biện pháp kiểm duyệt
Hiến pháp mới phải long
trọng nhìn nhận quyền tự do sáng tác và phát hành sách báo và văn
hóa phẩm, và cấm chỉ mọi đạo luật theo chiều hướng kiểm
duyệt. Trong nước Việt Nam tương lai sẽ không thể có một sự
giới hạn nào về tự do phát biểu đến từ chính quyền cả.
Luật pháp sẽ chỉ chế tài những văn hóa phẩm trắng trợn kêu
gọi bạo lực, xúc phạm đến danh dự và quyền lợi của các công
dân hay các đoàn thể công dân và bị chính các cá nhân hay đoàn
thể này truy tố. Các hiệp hội công dân như vậy sẽ nắm một
vai trò then chốt trong việc bảo vệ sự lành mạnh của văn hóa.
Chúng ta đừng quên rằng xã hội dân sự là nền tảng của thể
chế dân chủ đa nguyên.
3.4.
Bảo đảm sự khách quan của giáo dục và một trình độ văn hóa
tối thiểu cho mọi công dân
Sẽ không có vấn đề nhà
nước áp đặt sách giáo khoa chính thức. Quyền sáng tác sách giáo
khoa sẽ không bị giới hạn và quyền chọn sách giáo khoa hoàn toàn
thuộc các nhà giáo. Nhưng một định chế độc lập với chính
quyền, xuất phát từ các nhà giáo, sẽ soạn thảo ra những sách
giáo khoa đầu tiên, và sau đó có thẩm quyền giới thiệu, nhưng
không áp đặt, với các nhà giáo những sách nào có phẩm chất đầy
đủ để có thể được dùng làm sách giảng dạy. Giáo dục là
một đầu tư rất tốn kém của đất nước vì vậy nùó phải
thuần túy hướng về mục tiêu truyền bá kiến thức và mở mang
trí tuệ chứ không thể bị lợi dụng cho những tuyên truyền
một chi)ều.
Một chú trọng đặc
biệt dành cho việc giảng dạy Việt văn. Đó là điều mà ta không
thể tiết kiệm được bởi vì một trình độ văn hóa tối
thiểu và một khả năng truyền thông tối thiểu vừa là điều
kiện không có không được cho phát triển kinh tế, vừa là một
điều kiện cần thiết cho sự ổn vững của xã hội, cho hòa bình
giữa những con người.
Từ nhiều năm nay chính
quyền cộng sản hầu như đã bỏ rơi hoàn toàn mọi cố gắng
về giáo dục. Chúng ta đã mất đi rất nhiều học sinh và phẩm
chất của giáo dục ở mọi cấp đã sút giảm trầm trọng, nhất
là từ khi chế độ cộng sản thực hiện chính sách kinh tế thị
trường hoang dại. Phải thi hành cưỡng bách giáo dục và giáo
dục miễn phí ít nhất tới hết lớp 9. Rất có thể là ngân sách
sẽ không cho phép tuyển dụng đủ số giáo chức cần có, trong trường
hợp này chúng ta cần phát động một phong trào liên đới quốc
gia về văn hóa, sinh viên tiếp tay dạy học sinh, lớp trên tiếp
tay dạy lớp dưới trong tinh thần tình nguyện hay với thù lao tượng
trưng. Cũng cần lưu ý rằng tình trạng bi đát của ngành giáo
dục hiện nay không khó khắc phục. Sự xuống cấp của giáo dục
hiện nay phần chính do chính sách của nhà nước cộng sản. Giáo
dục bị xem là dịch vụ kiếm tiền cho nhà nước thay vì một đầu
tư vào tương lai. Nhà nước cộng sản cũng không phân biệt giáo
dục với tuyên truyền. Học sinh bị nhồi sọ những kiến thức mà
cả người dạy lẫn người học đều biết là sai và vô ích. Thêm
vào đó sự bế tắc của kinh tế cũng như sự băng hoại của xã
hội khiến cho thanh thiếu niên và phụ huynh không biết học để
làm gì.
3.5.
Cải thiện môi trường sinh sống và danh lam thắng cảnh
Chúng ta là một quốc gia
đã bị quá nhiều tàn phá, do đó chúng ta phải gìn giữ và bảo
trì cẩn trọng các di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh.
Đó là những tài sản quí báu, những nguồn tự hào và là những
gạch nối gắn bó người Vi_ệt Nam với nhau. Việc trùng tu các di
tích này sẽ không tốn kém lắm vì số lượng ít ỏi, và cũng có
thể không tốn kém gì hết cho nhà nước. Chúng ta sẽ cho đấu
thầu quyền khai thác và nghĩa vụ bảo trì một số di tích và
thắng cảnh có giá trị du lịch cho các công ty tư nhân, sẽ giao
phó một số di tích có tính tôn giáo cho các giáo hội. Mặt khác
cũng cần qui định và thực hiện nghiêm minh những tiêu chuẩn
về xây dựng để ngăn chặn việc xây cất thiếu an toàn hoặc xô
bồ làm hại cảnh quan. Du lịch sẽ là một sinh hoạt kinh tế quan
trọng và chúng ta khó hình dung kỹ nghệ du lịch có thể thành công
nếu đất nước ta không đẹp.
Cố gắng văn hóa này
gắn liền với một kế hoạch bảo vệ môi sinh trong địa hạt
kinh tế. Chính sách đánh bắt vô tổ chức và vô trách nhiệm
hiện nay đã làm suy giảm trầm trọng nguồn hải sản của ta. Chúng
ta cần có ngay những qui định giản dị, minh bạch và được áp
dụng triệt để nhằm cứu vùng biển và cứu nguồn hải sản.
Phong trào phá rừng bán gỗ bừa bãi - vẫn còn tiếp tục - đang có
cơ nguy biến nước ta thành cằn cỗi ; phong trào này phải được
chặn đứng ngay tức khắc. Việc phục hồi lại cây rừng vừa
cần nhiều vốn lại vừa cần sự bảo vệ và chăm sóc đều đặn
cho nên có thể ngân sách nhà nước không cáng đáng nổi. Cần
nghiên cứu giải pháp giao khoán từng vùng rừng, từng khu rừng
cho các công ty tư nhân phục hồi và khai thác, với những quyền
lợi và những cam kết rõ rệt.
Song song với cố gắng phát
triển công nghiệp cũng phải có những qui định rõ ràng về cách
xử lý các loại phế liệu.
3.6.
Giữ đất của ông cha cho con cháu
Từ nhiều năm nay, chính
quyền cộng sản đã làm ngơ để nhiều vùng đất có giá trị
chiến lược lọt vào tay người ngoại quốc. Việc mua bán đất này,
nhiều khi được thực hiện qua trung gian của những người Việt
cho mượn tên đứng làm chủ, là một mất mát lớn cho đất nước.
Chúng ta quá đông dân và có quá ít đất đai, chúng ta phải gìn
giữ cẩn trọng từng tấc đất của cha ông để lại.
Cần duyệt xét lại
những sang nhượng đất đai để chặn đứng vụ bán đất mờ ám
cho người ngoại quốc. Một biện pháp vừa dung hòa được nhu
cầu thu hút tư bản vừa giữ được đất Việt cho người Việt
là không những cho phép mà còn khuyến khích người Việt định cư
ở nước ngoài mua nhà và đất tại Việt Nam. Đó cũng là biện
pháp để gắn bó người Việt hải ngoại và quê hương.
Những đất đai chuyển
nhượng bất chính sẽ bị thu hồi, trong trường hợp nghiêm
trọng có thể bị tịch thu không bồi hoàn.
4.
Những biện pháp kinh tế
Về mặt kinh tế việc đầu
tiên mà một chính quyền đứng đắn phải làm là chấm dứt lối
cai trị bằng nghị quyết, thông cáo, quyết định, chỉ thị và
thay vào đó bằng những luật lệ rõ ràng, minh bạch và ổn
vững. Một bộ luật kinh doanh là điều không thể thiếu và cũng
không thể đợi. Đồng thời chúng ta cần tập trung cố gắng
quốc gia vào những vấn đề cấp bách.
4.1.
Giải tư đại bộ phận các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa
ruộng đất
Nhà nước không có chức
năng làm xe đạp, bán quần áo, mở công ty du lịch và cửa hàng
ăn uống, quản lý khách sạn và vũ trường. Những công ty quốc
doanh, nông trường quốc doanh làm mất tinh thần chấp nhận rủi
ro, làm trì trệ các sáng kiến và làm mất tinh thần trách nhiệm.
Chúng ta coi tư doanh là nền tảng của kinh tế quốc gia, do đó
giải tư các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất là
một chính sách cốt lõi của giai đoạn chuyển tiếp. Kinh nghiệm
của các nước chuyển hóa về kinh tế thị trường cho thấy
việc giải tư phải được thực hiện trong một thời gian thật
ngắn để tránh tệ nạn đầu cơ, tẩu tán tài sản quốc gia, làm
xuống cấp các xí nghiệp cần giải tư.
Chúng ta sẽ giải tư
tức khắc tất cả mọi công ty, xí nghiệp quốc doanh có thể
giải tư được để đem lại cho kinh tế một sinh lực mới.
Chúng ta sẽ xúc tiến
ngay việc tư hữu hóa ruộng đất theo nguyên tắc trả quyền sở
hữu lại cho những người đang canh tác trên đất của mình, tùy
trường hợp cấp không hoặc bán lại cho nông dân những đất đai
đang được nhà nước giao phó. Việc tư hữu hóa nông nghiệp đặt
ra nhiều vấn đề phức tạp về cả hai mặt kỹ thuật lẫn tình
cảm, thí dụ như trường hợp của những người đã bị truất
hữu một cách oan ức trước đây, nên cần có một chính sách
rất thận trọng.
Nguyên tắc chỉ đạo
của chính sách giải tư và tư hữu hóa là những gì tư nhân có
thể làm được nhà nước sẽ không làm. Chính sách này sẽ phải
hoàn tất về cơ bản sau hai năm cho công nghiệp và sau năm năm cho
nông nghiệp.
4.2.
Khuyến khích tối đa đầu tư kể cả đầu tư từ nước ngoài
Bãi bỏ từng bước các
luật đầu tư hiện nay vì chúng còn quá gò bó và vì chúng dành
cho người ngoại quốc những quyền mà người Việt Nam không có,
chúng còn chia rẽ người trong nước với người sống ở nước
ngoài. Trong tương lai người đầu tư nước ngoài sẽ có tất cả
mọi quyền hạn mà họ đang có và sẽ có nhiều tự do hơn hiện
nay nhưng sẽ không thể có những quyền mà người Việt Nam không
có. Thời gian để hoàn tất mọi thủ tục thành lập công ty sẽ
không thể quá hai tuần lễ. Cần nhận thức giá trị rất tương
đối của các bộ luật nâng đỡ đầu tư. Nếu những đặc
quyền chỉ có hiệu lực ngắn hạn thì luật đầu tư chỉ lôi kéo
được những đầu tư hời hợt, còn nếu những đặc quyền về
đầu tư có hiệu lực dài hạn thì luật đầu tư sẽ có khuynh hướng
trở thành luật lệ bình thường. Vả lại, quyết định đầu tư
chỉ tùy thuộc rất ít vào những biện pháp khuyến khích và tùy
thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị và kinh tế.
4.3. Đẩy
mạnh sự phát triển của thị trường nội địa
Chúng ta sẽ lấy thị trường
trong nước làm bàn đạp để tiến lên. Với 80 triệu dân, nước
ta là một thị trường rất lớn và sự trao đổi giữa những người
Việt Nam với nhau tự nó đã là một động cơ kinh tế vô cùng
quan trọng. Trong bất cứ một nền kinh tế nào, ngay cả trong kỷ
nguyên toàn cầu hóa, trừ trường hợp rất đặc biệt của các nước
xuất khẩu dầu lửa, thị trường nội địa bao giờ cũng quan
trọng hơn hoạt động xuất nhập cảng. Thị trường nội địa
vừa quan trọng về khối lượng, vừa là nơi thử nghiệm cho hàng
xuất khẩu, lại vừa là kho trái độn cần thiết để đương đầu
với những biến thiên của thị trường quốc tế. Thị trường
nội địa có mạnh thì hoạt động xuất cảng mới phát triển
được. Thị trường nội địa sẽ được kích thích do sự giải
tỏa mọi cưỡng chế về kinh doanh và sự thúc đẩy những chương
trình công cộng quan trọng. Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, công
nghiệp thực phẩm, dệt và may mặc là những bàn đạp đầu tiên
cho thị trường nội địa của ta.
Phát triển thị trường
nội địa phải đi song hành với phát triển kinh doanh nội địa.
Chúng ta không có những nhà tư bản lớn cho nên cần tích cực thúc
đẩy, nâng đỡ và khuyến khích các xí nghiệp cá nhân và các công
ty tầm cỡ nhỏ, giúp họ phát đạt và gia tăng tầm vóc, dần
dần trở thành những nhà tư bản lớn.
Một bắt buộc khẩn
cấp của chính sách phát triển thị trường nội địa là phải
tu sửa và tăng cường hệ thống đường giao thông và truyền thông,
các phương tiện chuyên chở và truyền tin.
4.4.
Dồn cố gắng cho hai công trình giao thông chiến lược
Hai công trình lớn mà chúng
ta phải bắt đầu ngay và phải tiếp tục trong nhiều năm, qua
nhiều giai đoạn, là công trình hiện đại hóa và mở rộng theo
đúng tiêu chuẩn quốc tế đường xe lửa Thống Nhất và công trình
xây dựng hai tuyến xa lộ Bắc Nam dọc theo bờ biển và trong đất
liền. Đây là những công trình vừa tối cần thiết cho các hoạt
động kinh tế, vừa cụ thể hóa sự thống nhất của đất nước,
lại vừa tạo nhiều công ăn việc làm trên khắp lãnh thổ.
Những dự kiến hiện nay cho hai công trình này còn ở mức rất
thấp so với nhu cầu của nước ta mà phần lớn sinh hoạt tập
trung dọc theo hai trục giao thông này. Mở rộng và hiện đại hóa
hai công trình này cũng là điều cần thiết cho dự án xây dựng và
khai thác cảng Cam Ranh, một dự án trọng điểm mà ta sẽ tiến hành
mạnh mẽ trong nhiều năm để đem lại sức mạnh kinh tế cho cả
nước và cho miền Trung, miền nhiều triển vọng nhất của đất
nước do vị trí bờ biển nhưng hiện nay là vùng kém mở mang
nhất.
5.
Những nguồn tài trợ cố gắng phục hưng
Một chương trình phục hưng
dù khiêm nhường đến đâu cũng đòi hỏi rất nhiều chi phí. Chúng
ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng ta cũng sẽ có những
nguồn tài trợ.
Trước hết là chấm
dứt những phí phạm do chính quyền cộng sản tạo ra mà phí
phạm lớn nhất là do chính Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hiện nay hàng
trăm ngàn người được trả lương chỉ để làm việc cho bộ máy
của đảng cộng sản. Hàng ngàn nhà và phòng ốc bị chiếm dụng
trái phép làm trụ sở, văn phòng cho các chi bộ đảng. Cán bộ,
đảng viên tham nhũng lợi dụng quyền thế biển thủ một phần
quan trọng tổng sản lượng quốc gia. Trong tương lai khi đảng
cộng sản phải chấp nhận một chỗ đứng bình thường ngang hàng
với các chính đảng khác, nhà nước sẽ tiết kiệm được một
khoản ngân sách lớn, giải tỏa một nguồn nhân lực lớn và thu
hồi một số tài sản lớn.
Nguồn tài trợ thứ hai là
do sự tiết giảm ngân sách an ninh quốc phòng. Chúng ta không có ý
đồ chinh phục nước nào và ngược lại cũng không còn lo ngại
bị chinh phục bằng quân sự. Sự phòng vệ các vùng biển và
hải đảo cũng không cần đến một lục quân đông đảo như ngày
nay mà cần một quân đội cơ giới tinh nhuệ. Guồng máy công an
gần nửa triệu người của nhà nước cộng sản trước hết
nhằm đàn áp những nguyện vọng dân chủ. Một nhà nước dân
chủ thực sự có thể giảm một phần quan trọng chi phí mà còn tăng
cường được khả năng bảo vệ lãnh thổ và duy trì trật tự an
ninh.
Nguồn tài trợ thứ ba là
do sự giải tư các xí nghiệp quốc doanh. Như đã trình bày ở
phần trên, mục đích chính của chính sách giải tư là hợp lý hóa
và lành mạnh hóa sinh hoạt kinh tế. Tuy vậy chương trình giải tư
cũng sẽ đem lại một tài khoản quan trọng.
Nguồn tài trợ thứ tư
do sự đóng góp tích cực hơn của cộng đồng Việt Nam hải
ngoại hơn hai triệu người sau khi một chế độ dân chủ thực
sự, phù hợp với nguyện vọng sâu xa của đồng bào hải ngoại
đã được thiết lập. Khối người Việt hải ngoại, với trên
hai triệu người, phần lớn định cư tại các nước phát triển
và một lợi tức thường niên không dưới 30 tỷ USD có khả năng
tiết kiệm 10 tỷ USD mỗi năm. Nhưng cộng đồng người Việt
hải ngoại không những chỉ là nguồn đầu tư mà còn có thể có
những đóng góp quan trọng khác về văn hóa, khoa học và kỹ
thuật. Một khi quan hệ với trong nước đã được bình thường hóa,
cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ là một đòn bẩy lớn
cho cố gắng phát triển đất nước.
Nhưng nguồn tài trợ quan
trọng nhất và càng ngày càng dồi dào hơn là do chính sự phát
triển của kinh tế. Hiện nay rất nhiều ngành nghề bị tê liệt,
rất nhiều tài năng bị triệt tiêu do sự cấm cản hay sách
nhiễu của chính quyền cộng sản. Trả lại tự do kinh doanh thực
sự cho dân chúng là ta đã khai thông được nhiều sinh lực mới và
có thể chờ đợi những đóng góp mới. Chính sách kinh tế đứng
đắn và lương thiện của ta cũng sẽ có khả năng động viên
nguồn tài chính còn lại trong nhân dân. Không có sức mạnh nào
lớn hơn sức mạnh mà chúng ta sẽ có nhờ giải tỏa và động viên
sinh lực của một dân tộc gần 80 triệu người cần mẫn. Chúng
ta có quyền chờ đợi những thành quả nhanh chóng và to lớn.
6.
Chuyển tiếp về dân chủ sẽ thành công, đất nước sẽ vươn lên
Chúng ta có quyền hy
vọng và lạc quan. Đất nước ta tuy có vấp ngã nhưng vẫn còn
khả năng đứng dậy và đi tới.
Chúng ta không cần trông
đợi ở một phép mầu hay một ân huệ nào cả. Phép mầu ấy chúng
ta có thể tự tạo ra cho mình, ân huệ ấy chúng ta có thể tự
ban cho mình một cách giản dị.
II.Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
III.Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới
V. Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên
VI. Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên
VII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII. Vì đất nước hôm nay
và ngày mai :
chung một giấc mơ Việt Nam