V.
Chế độ chính trị cho một
nước Việt Nam dân chủ đa nguyên
Việc chọn lựa một
chế độ chính trị không thể là một chọn lựa thuần túy lý
thuyết, càng không thể là sự sao chép một khuôn mẫu sẵn có đã
thành công tại một quốc gia khác, dù chúng ta trân trọng tới đâu
kinh nghiệm của các dân tộc trong cuộc hành trình tới dân chủ và
phồn vinh.
Chúng ta chọn lựa một
chế độ chính tri đáp ứng sáu yêu cầu cơ bản của đất nước
:
- xây dựng dân chủ,
- thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc,
- phát triển đất nước,
- giảm thiểu chênh lệch giữa các vùng,
- thỏa mãn những khát vọng chính đáng của các cộng đồng sắc
tộc và tôn giáo,
- và thực hiện thống nhất đất nước thực sự.
Dưới ánh sáng của sáu
yêu cầu cơ bản đó chúng ta chọn một chế độ chính trị dân
chủ đại nghị và tản quyền.
1. Hai
thành kiến sai lầm về chế độ chính trị
Trước khi thảo luận
về một chế độ chính trị hợp tình, hợp lý cho Việt Nam, chúng
ta cần giải tỏa hai thành kiến, cũng là hai lo âu không đúng nhưng
rất phổ biến của người Việt.
1.1. Dân
chủ đa nguyên và ổn định chính trị
Lo âu thứ nhất là một
chế độ đa nguyên và đa đảng có thể gây ra tình trạng phân tán
đảng phái, trong đó không có đảng nào có được đa số để
nắm chính quyền và do đó gây ra tình trạng bất ổn chính trị.
Người ta có thể lo sợ rằng chính quyền sẽ thay đổi liên tục
tùy theo những hợp tan của những liên minh tạm bợ.
Lo âu này không có căn
cứ, nó xuất phát từ một hiểu lầm do một tuyên truyền đầu
độc mà nhiều người Việt Nam đã là nạn nhân.
Sự kiện có ít hay
nhiều đảng phái tùy thuộc chủ yếu ở thể thức đầu phiếu,
chứ không phải ở mức độ tự do chính trị. Nói một cách
giản dị : lối đầu phiếu đơn danh và một vòng đưa tới chế
độ lưỡng đảng vì loại bỏ các đảng nhỏ, trong khi lối đầu
phiếu theo tỷ lệ đưa tới sự xuất hiện của nhiều chính đảng.
Bầu đơn danh và một vòng
có nghĩa là mỗi đơn vị bầu cử bầu ra một dân biểu và các
ứng cử viên ra tranh cử với tư cách pháp lý cá nhân, dù có
thể mang nhãn hiệu của một chính đảng, ai được số phiếu cao
nhất sẽ đắc cử. Lối bầu cử này có lợi cho các chính đảng
lớn, loại các đảng nhỏ và bảo đảm sự hiện hữu thường
trực của một đa số để thành lập và điều hành chính phủ
một cách ổn vững, ngược lại nó không cho phép các khuynh hướng
thiểu số có tiếng nói tại nghị trường. Trên thực tế nó thường
đưa tới chế độ lưỡng đảng. Như vậy lối đầu phiếu đơn
danh và một vòng là giải đáp kỹ thuật cho ưu tư có một chính
quyền ổn vững mà không cần giới hạn tự do chính trị về
mặt pháp chế.
Bầu theo tỷ lệ có nghĩa
là đầu phiếu chung trên cả nước hay trong mỗi vùng, giữa các
chính đảng với nhau, và số dân biểu đắc cử của mỗi chính
đảng sẽ tỷ lệ với số phiếu của mình, thí dụ đảng được
20% số phiếu thì trên nguyên tắc cũng được 20% dân biểu. Lối
đầu phiếu này rất dân chủ vì cho phép mọi khuynh hướng có
tiếng nói và chỗ đứng trong quốc hội, nhưng ngược lại nó có
nguy cơ đưa tới một quốc hội phân tán trong đó không có đảng
nào có đa số đủ để cầm quyền.
Giải pháp tối ưu là
một sự phối hợp giữa hai lối đầu phiếu này để vừa đảm
bảo dân chủ vừa đảm bảo sự ổn vững tương đối của chính
quyền. Về mặt kỹ thuật có thể có vô số công thức, kể cả
lối đầu phiếu đơn danh hai vòng với tác dụng kết hợp các đảng
có cùng khuynh hướng trong vòng hai.
Những nhận định này
cho phép ta khẳng định rằng viện lý do ổn định chính trị để
giới hạn hoạt động chính đảng là vô căn cứ. Trong nước
Việt Nam tương lai không cần có, và cũng không thể có, bất cứ
một giới hạn nào đối với quyền thành lập và phát triển các
chính đảng.
Cũng cần chấm dứt một
sự lẫn lộn gian trá về ổn định. Ổn định có hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất là ổn
định dân sự, nghĩa là ổn định trong cuộc sống của mỗi công
dân, là đảm bảo không bị bắt bớ, tịch thu tài sản, cấm kinh
doanh, không là nạn nhân của những thay đổi luật pháp đột
ngột và thường xuyên, hay những quyết định tùy tiện của chính
quyền. Ổn định này rất cần thiết cho phát triển kinh tế, vì
có như thế người dân mới có thể yên trí để tiên liệu và
hoạch định sinh hoạt của mình. Ổn định này đòi hỏi dân
chủ, nhân quyền và nhà nước pháp trị.
Nghĩa thứ hai là ổn định
của tập đoàn cầm quyền, hay nói khác đi là sự kéo dài của
một chính quyền với cùng những người cầm quyền. Sự kéo dài
này, nếu không do bầu cử tự do mà là do một chế độ độc tài
bạo ngược, còn rất mâu thuẫn với ổn định dân sự và do đó
hoàn toàn mâu thuẫn với phát triển, bởi vì người dân luôn luôn
phải sống trong sợ sệt, không dám và không thể lập những kế
hoạch kinh doanh lâu dài.
Kinh nghiệm cho thấy ổn
định dân sự rất cần cho phát triển, trong khi ổn định của
tập đoàn cầm quyền hoàn toàn không có ảnh hưởng, hoặc chỉ có
ảnh hưởng xấu. Tại Nhật, từ sau Thế Chiến II tới nay, ít có
chính phủ nào kéo dài được hai năm. Tại Ý, tuổi thọ trung bình
của các chính phủ còn ngắn hơn nhiều. Mặc dầu vậy kinh tế
của cả hai nước này đều phát triển nhanh chóng, họ đều là
thành viên của nhóm bảy nước phát triển nhất. Trong khi các nước
có những chính quyền kéo dài như Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên
và nhiều nước thuộc châu Phi và châu Mỹ La Tinh lại rất trì
trệ và lạc hậu.
Khi các tập đoàn độc tài
- như ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam - nói cần phải có
ổn định để phát triển, nhiều người đồng ý với họ vì
hiểu đó là ổn định dân sự trong khi họ thực hiện ổn định
theo nghĩa thứ hai, nghĩa là ổn định của tập đoàn cầm quyền.
Đó là một sự gian trá cần được tố giác.
1.2.
Thống nhất và tản quyền
Lo âu thứ hai là tản
quyền có thể phương hại tới thống nhất lãnh thổ và tái lập
lại tình trạng sứ quân.
Câu trả lời dứt khoát
là không.
Các vùng không phải là
những quốc gia, tự quản không đồng nghĩa với độc lập. Luật
pháp của vùng không thể mâu thuẫn với luật pháp quốc gia.
Cũng nên có một cái nhìn
lành mạnh hơn về thống nhất, vượt lên trên sự thống nhất hành
chính, nặng nề và bàn giấy. Thống nhất chủ yếu là thống
nhất trong lòng người. Khi mỗi người và mỗi địa phương cảm
thấy có chỗ đứng và tiếng nói trong cộng đồng quốc gia trong
khi những nét đặc thù của mình vẫn được tôn trọng thì họ càng
cảm thấy hòa nhập vào quốc gia, và hòa hợp dân tộc càng mạnh
thêm. Ngược lại, trong thế giới vừa dồn dập vừa phức tạp
hiện nay và trong một quốc gia với gần một trăm triệu người,
một chính quyền trung ương tập quyền không thể nào định đoạt
tất cả, các địa phương trên thực tế vẫn tự trị, nhưng tự
trị một cách bất hợp pháp, nghĩa là luôn luôn ở trong thế xung
đột hợp lý nhưng bất hợp pháp với chính quyền trung ương, và
do đó với cộng đồng quốc gia. Trung ương tập quyền vì vậy
đưa tới sứ quân thay vì thống nhất. Chính vì tác dụng đoàn
kết dân tộc của nó mà tản quyền cần được thực hiện cả
trên bình diện quốc gia lẫn trong tổ chức của mỗi vùng.
Tản quyền là xu hướng
áp đảo của thời đại này, và là kết luận của hai thế kỷ
thử nghiệm dân chủ trên trái đất. Điều đáng ngạc nhiên là các
dân tộc đã mất một thời gian dài như vậy để khám phá một
sự thật đơn giản : một nội các chỉ có thể gồm một số ít
người, và một số ít người không thể quyết định tất cả
cho một quốc gia rộng lớn với số người đông đảo, sinh sống
trên những vùng đất với những điều kiện địa lý và nhân văn
khác nhau.
Tản quyền có những ưu
điểm rõ rệt : nó khuyến khích sinh hoạt chính trị tại các địa
phương, nó đem dân chủ tới mọi nơi với mọi người, nó tránh
được những đường dây hành chính dài và phức tạp cho sinh
hoạt thường ngày, nó kích thích sinh hoạt văn hóa và báo chí địa
phương, nó cho phép mỗi địa phương chọn lựa công thức sinh
hoạt phù hợp nhất với đặc tính của mình và nhờ đó mà phát
triển.
Các vùng nghèo khó sẽ có
được một chính quyền riêng dành tất cả ưu tư cho việc phát
triển vùng và đưa vùng lên ngang tầm phát triển của cả nước,
thay vì bị quên lãng bởi một chính quyền trung ương bận rộn
với những vấn đề dồn dập của các vùng đã phát triển và có
hoạt động mạnh. Không ai báo động một cách thành tâm và chính
xác tình trạng khó khăn của một vùng bằng một chính quyền
của vùng mà sứ mạng duy nhất là phát triển vùng.
Tản quyền còn đóng góp
vào sự ổn vững của quốc gia và của dân chủ. Một mặt nó vô
hiệu hóa những âm mưu đảo chính (lật đổ chính quyền trung
ương rồi làm gì với các chính quyền địa phương?). Mặt khác nó
tránh các khủng hoảng đáng lẽ không có ở cấp trung ương, bởi
vì vấn đề có thể đặt ra ở từng địa phương một vào
những thời điểm khác nhau. Một ưu điểm vô cùng quan trọng khác
của tản quyền là nó làm giảm bớt xung đột chính trị bởi vì
một đảng có thể thua ở cấp trung ương nhưng vẫn có thể nắm
quyền tại một số địa phương, nơi mà họ được tín nhiệm.
Xung khắc chính quyền - đối lập vì vậy sẽ bớt gay gắt. Trong
hoàn cảnh lịch sử hiện nay của Việt Nam, tản quyền vì vậy tránh
được tình trạng được thì được hết, thua thì thua luôn, và
đóng góp tích cực cho hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Tản quyền cho phép
những khuynh hướng thiểu số, các tôn giáo và các sắc tộc ít
người có trọng lượng chính trị đáng kể tại những địa phương
mà họ hiện diện đông đảo, do đó làm dịu bớt những tâm
trạng bất mãn và các ý đồ ly khai, tự trị.
Một điểm lợi quan
trọng khác của tản quyền là chính nhờ các chính quyền địa phương
mà mỗi khi có thay đổi chính quyền thì những người lên cầm
quyền ở trung ương cũng không phải là những người tập sự mà
ít nhất đã có kinh nghiệm ở cấp địa phương.
Tuy nhiên, muốn tản
quyền có nội dung và tác dụng thực sự của nó, các vùng phải
có một diện tích và một dân số khả dĩ có thể tồn tại và
phát triển được.
Nước ta hiện nay có
khoảng 80 triệu dân, khi đà gia tăng dân số đã khựng lại, dân
số của chúng ta sẽ ổn định ở một mức độ nào đó chung
quanh con số 100 triệu dân. Chúng ta có thể có từ mười đến mười
lăm vùng, mỗi vùng từ năm tới mười triệu người.
Để tránh những phiền
phức về hành chính và nhất là về hộ tịch, các vùng sẽ là
sự kết hợp của một số tỉnh hiện có. Việc tập trung các
tỉnh vào một vùng sẽ dựa trên các tiêu chuẩn cấu tạo sắc
tộc, chức năng kinh tế, tài nguyên thiên nhiên và giao thông.
Mỗi vùng sẽ có một
nghị viện riêng được quyền bổ nhiệm chính quyền vùng, ban hành
các luật lệ vùng không mâu thuẫn với hiến pháp và pháp luật
quốc gia, biểu quyết mức độ của một số sắc thuế, biểu
quyết ngân sách địa phương.
Chính quyền vùng do nghị
viện địa phương bầu ra để thi hành những chính sách đã được
nghị viện địa phương biểu quyết.
Các vùng không có quyền
có quân đội, không được phát hành tiền tệ riêng, không có đại
diện ngoại giao, không được quyền ký hiệp ước với các nước
khác, không được làm chủ các công ty có mục đích kinh doanh, không
được tổ chức những trưng cầu dân ý có mục đích chính trị.
Mọi cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải được chính quyền
trung ương cho phép và nhìn nhận kết quả mới có giá trị.
Các vùng không được ký
hiệp ước với nhau. Việc phối hợp giữa các vùng hoàn toàn
thuộc thẩm quyền của chính quyền trung ương.
Mỗi công dân có quyền
chọn lựa nơi cư trú trên toàn lãnh thổ. Các vùng không có
quyền cấm cản sự nhập cư vào vùng mà chỉ có quyền giới
hạn phạm vi lưu thông của các công dân trong tình trạng điều
tra pháp lý.
Số lượng cảnh sát vùng
không được vượt quá một tỷ lệ, do chính quyền trung ương qui
định, so với số cảnh sát quốc gia hiện diện tại vùng.
Chính quyền trung ương
được quyền ấn định một nội dung tối thiểu cho mỗi trình độ
giáo dục. Các bằng cấp cho phép hành nghề tự do phải được chính
quyền trung ương chuẩn nhận.
Các cơ quan chính quyền
tỉnh và dưới cấp tỉnh sẽ do một đạo luật quốc gia qui định
theo nguyên tắc tản quyền.
2. Chế độ
chính trị
2.1.
Chế độ đại nghị : thể chế dân chủ và ổn vững nhất
Quyết tâm của chúng ta là
thực hiện dân chủ và ngăn chặn sự trở lại của bất cứ
một hình thức độc tài nào. Chúng ta lựa chọn thể chế chính
trị trên căn bản của quyết tâm đó. Việc đầu tiên phải làm
là chọn lựa giữa một trong ba công thức : chế độ tổng
thống, chế độ bán tổng thống và chế độ đại nghị.
Trước hết, chúng ta
loại bỏ chế độ tổng thống, nghĩa là chế độ trong đó một
người được dân chúng trực tiếp bầu cử theo phổ thông đầu
phiếu và nắm trọn quyền hành pháp, vì nó dành quá nhiều quyền
lực cho một người và, trong hoàn cảnh của một nước vừa thử
nghiệm dân chủ, nó có khả năng đưa tới lạm quyền và độc tài.
Trên mặt thuần túy lý
thuyết chế độ tổng thống có ưu điểm của nó, mà ưu điểm
nổi bật nhất là đảm bảo một chính quyền mạnh có khả năng
quyết định mau chóng những chọn lựa chiến lược cần thiết,
nhưng trên thực tế không nên quên ba sự kiện rất cơ bản :
một là hiện nay nguy cơ chiến tranh không còn nữa, ngay cả chiến
tranh lạnh cũng đã chấm dứt, nhu cầu có một chính quyền mạnh
để lấy những quyết định quan trọng một cách nhanh chóng không
còn đặt ra nữa ; hai là cho tới nay, trừ trường hợp của Hoa
Kỳ, tất cả mọi chế độ tổng thống trên thế giới đều đã
thất bại ; ba là chế độ tổng thống dễ đưa tới một chế độ
độc tài cá nhân, như trường hợp của hầu hết các quốc gia
theo chế độ này, hoặc một xung đột bế tắc giữa hành pháp và
lập pháp.
Chính sự thất bại của
các chế độ tổng thống đã đưa đến sự xuất hiện của các
chế độ "bán tổng thống", nghĩa là vừa có một tổng
thống vừa có một thủ tướng. Tổng thống vừa là nguyên thủ
quốc gia vừa chia sẻ một phần quyền hành pháp, nhiều hay ít
theo qui định của hiến pháp, với một thủ tướng chịu trách
nhiệm trước quốc hội trong đa số các trường hợp. Tổng
thống do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra nên uy thế
rất lớn, ngang hàng với một tổng thống trong chế độ tổng
thống thuần túy ngay cả khi quyền hiến định có thể khác. Uy
thế này là một bảo đảm cho ổn vững chính trị, tương tự như
một chế độ tổng thống, bù lại cái giá phải trả là, một
mặt, một số bất lợi của chế độ tổng thống và, mặt khác,
những mâu thuẫn về thẩm quyền không tránh khỏi trong nội bộ hành
pháp giữa tổng thống và thủ tướng.
Các chế độ bán tổng
thống có tác dụng giảm bớt những bất lợi của chế độ
tổng thống bằng cách dung hòa nó với chế độ đại nghị. Đã
có nhiều chế độ bán tổng thống thành công. Tuy nhiên, chế độ
bán tổng thống là một chế độ rất phức tạp, bản chất và
nội dung chế độ có thể thay đổi tùy theo những yếu tố tình
cờ : tổng thống và thủ tướng cùng đảng hay khác đảng,
nhiệm kỳ của tổng thống và của quốc hội ngắn dài bằng nhau
hay khác nhau, tổng thống hay quốc hội mới được bầu gần đây.
Trong một chế độ đại
nghị, quyền hành pháp ở trong tay một thủ tướng do quốc hội
bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Như thế khi bầu
ra một quốc hội, một cách gián tiếp, người dân cũng chọn
lựa một thủ tướng. Ưu điểm của chế độ đại nghị là người
dân bầu trước hết cho một dự án chính trị của một đảng
thay vì cho một người và sau đó chọn lựa một dân biểu trong
số những ứng cử viên sinh hoạt gần gũi với họ mà họ có điều
kiện để đánh giá ; qua dân biểu của họ, họ cũng có khả năng
theo dõi và kiểm soát một cách thường trực sinh hoạt của chính
phủ.
Thể chế đại nghị là
thể chế dân chủ nhất và cũng là thể chế đúng đắn nhất,
với điều kiện là không dẫn tới tình trạng lạm phát chính đảng
và một quốc hội tê liệt vì bị phân hóa giữa nhiều khuynh hướng
đối nghịch. Điều kiện này, như kinh nghiệm đã chứng minh, có
thể thỏa mãn được bằng cách bầu tất cả hoặc phần lớn các
dân biểu quốc hội theo phương thức bầu cử đơn danh và một vòng.
Cả hai chế độ đại
nghị và bán tổng thống nếu được thực hiện đứng đắn đều
có khả năng đảm bảo dân chủ và phát triển. Chúng ta chọn
lựa chế độ đại nghị vì sự giản dị và tính dân chủ cao
của nó.
2.2. Tổ
chức chính quyền
Một thể chế tản
quyền đưa tới sự hiện hữu tất nhiên của hai nghị viện ở
cấp trung ương. Thượng nghị viện đại diện cho các vùng, trong
khi quốc hội đại diện cho quần chúng. Ở mỗi vùng, chỉ cần
một nghị viện giữ vai trò của quốc hội ở cấp địa phương.
Thượng nghị viện chỉ
có ở cấp trung ương. Mỗi vùng có một số thượng nghị sĩ
bằng nhau do cử tri toàn vùng trực tiếp bầu ra, cộng đồng người
Việt hải ngoại cũng sẽ được đại diện. Thượng nghị viện
có vai trò : bảo đảm sự thống nhất và hòa hợp quốc gia qua các
vùng, đề nghị các dự luật, phúc nghị, nếu cần, các đạo
luật do quốc hội biểu quyết, khuyến cáo và đề nghị với chính
phủ về các chính sách và về việc bổ nhiệm nhân sự cấp cao.
Thượng nghị viện có quyền đòi các viên chức chính quyền mọi
cấp ra điều trần.
Quốc hội gồm các dân
biểu mà đại đa số sẽ được bầu theo lối đầu phiếu đơn
danh và một vòng, số còn lại được bầu theo tỷ lệ. Trong một
nước Việt Nam với dân số 80 triệu, quốc hội có thể gồm
khoảng 500 dân biểu, trong đó khoảng 450 được bầu theo thể
thức đơn danh và một vòng, số còn lại bầu theo tỷ lệ trên
cả nước. Việc đa số được bầu theo thể thức đơn danh và
một vòng bảo đảm rằng sẽ không có tình trạng lạm phát chính
đảng và sẽ có một đa số (của một đảng hay do liên minh của
một vài đảng cùng khuynh hướng) để thành lập một chính phủ.
Thiểu số bầu theo tỷ lệ cho phép mọi đảng phái có mặt trong
quốc hội và cũng cho phép những người lãnh đạo các chính đảng
có tầm vóc quốc gia khỏi phải tranh cử tại địa phương và để
tập trung cố gắng cho những vấn đề của cả nước.
Quốc hội có quyền chỉ
định và bãi nhiệm thủ tướng, biểu quyết mọi đạo luật,
biểu quyết ngân sách, chất vấn chính phủ về mọi chính sách và
biện pháp của nhà nước.
Tại mỗi vùng, phần
nghị viên được bầu theo tỷ lệ có thể cao hơn, các nghị viên
có thể được bầu một nửa theo phương thức đơn danh một vòng,
một nửa theo tỷ lệ.
Để giới hạn con số các
chính đảng, cần đặt một mức tối thiểu để có thể hiện
diện trong quốc hội hay nghị viện vùng qua lối bầu tỷ lệ, thí
dụ 5%.
Về hành pháp, ở cấp
trung ương, thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm
trước quốc hội. Các bộ trưởng do thủ tướng chỉ định.
Tại các vùng, hành pháp nằm trong tay một thống đốc do nghị
viện vùng bầu ra và chịu trách nhiệm trước nghị viện vùng.
Vị nguyên thủ quốc gia,
tổng thống, có thể do một cử tri đoàn gồm tất cả dân biểu,
thượng nghị sĩ ở cấp trung ương bầu ra. Vị nguyên thủ quốc
gia này vì được bầu ra do một cử tri đoàn hùng hậu sẽ có
một uy tín rất cao. Tổng thống không giữ một quyền hành cụ
thể nào cả, nhưng là vị nguyên thủ quốc gia đúng nghĩa, đứng
ngoài và đứng trên cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp, có vai
trò bảo đảm sự liên tục, ổn vững và đoàn kết của quốc
gia.
Pháp Viện Tối Cao, gồm
những thẩm phán được chọn trong các luật gia, có nhiệm kỳ dài,
khoảng mười năm, do tổng thống, chủ tịch thượng nghị viện và
chủ tịch quốc hội bổ nhiệm, mỗi vị một phần ba. Pháp Viện
Tối Cao có quyền phán quyết tính hợp hiến hay bất hợp hiến
của các đạo luật, trọng tài những tranh tụng giữa các cơ quan
quyền lực, xét xử những cấp lãnh đạo cấp cao, xét lại các
bản án do các tòa án quốc gia cũng như địa phương.
2.3. Các
chính đảng : một thành tố khắng khít của đất nước
Trong một thể chế như
vậy sẽ có thể có rất nhiều chính đảng, nhưng ở cấp trung
ương sẽ chỉ có vài đảng lớn. Ở mỗi địa phương cũng sẽ
chỉ có một số đảng địa phương giới hạn bên cạnh các đảng
có tầm vóc quốc gia.
Mọi chế độ dân chủ
đích thực đều phải trân trọng sinh hoạt chính đảng. Không
thể có sinh hoạt chính trị đứng đắn nếu không có chính đảng.
Trong hoàn cảnh nước ta, sau bao năm dài dưới các chế độ độc
tài trong đó mọi sinh hoạt chính trị bị đàn áp, các chính đảng
không những cần thiết mà còn cần được khai sinh, khuyến khích
và nuôi dưỡng. Các chính đảng là yếu tố không thể thiếu cho
đất nước, và vì thế quốc gia không những không được cấm
cản mà còn phải sẵn sàng trả giá cho sinh hoạt chính đảng.
II.Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
III.Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới
V. Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên
VI. Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên
VII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII. Vì đất nước hôm nay
và ngày mai :
chung một giấc mơ Việt Nam