IV.
Những định hướng lớn
Bước vào thế kỷ 21, chúng
ta phải làm lại đất nước. Chúng ta phải đổi mới hoàn toàn
hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ giữa nhà nước và
người dân, quan hệ giữa nước ta và thế giới ; chúng ta phải xét
lại vai trò của xã hội dân sự, chọn lựa những giải pháp dài
hạn cho các vấn đề công bằng xã hội và giới hạn dân số.
Chúng ta sẽ làm lại đất
nước trên những định hướng lớn sau đây :
1. Xây dựng đất nước
trên những giá trị thay vì một chủ nghĩa
Một xã hội tiến bộ
phải được xây dựng trên nền tảng của những giá trị tiến
bộ.
Các nước phương Tây
sở dĩ phát triển mạnh mẽ và vượt hơn hẳn phần còn lại
của thế giới là vì xã hội của họ đặt nền tảng trên
những giá trị cơ bản đúng. Những giá trị đó là hòa bình,
tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối
thoại, hợp tác, lợi nhuận, môi trường và liên đới. Những giá
trị này không phải của riêng người phương Tây mà vốn đã
hiện diện trong mọi xã hội và trong mọi nền văn minh. Ưu điểm
của các nước phương Tây là họ đã biết đề cao và phát huy
triệt để một phần lớn trong số các giá trị này để lấy làm
nền tảng cho xã hội. Nhờ vậy họ đã có được sức mạnh và
sự phồn vinh. Tiếp xúc với các nước phương Tây, các quốc gia
đều nhận ra sự thua kém của mình và đều tìm cách thỏa hiệp
với nền văn minh phương Tây. Tuy nhiên quán tính tự nhiên đã
khiến hầu hết các quốc gia đều có khuynh hướng chỉ chấp
nhận một phần những thành tố của xã hội phương Tây để
hội nhập nó vào truyền thống của mình, chẳng hạn như học
hỏi kỹ thuật phương Tây trong khi v¨ẫn giữ nguyên cơ cấu xã
hội cũ. Nhưng một nền văn minh là một tổng thể cấu tạo bởi
những giá trị gắn bó với nhau cho nên rất khó lấy một thành
tố của một nền văn minh để ghép vào một nền văn minh khác.
Không thể chấp nhận kỹ thuật của phương Tây trong khi vẫn từ
chối những giá trị cơ bản đã làm nẩy sinh và đã thúc đẩy
sự tiến phát của các kỹ thuật đó. Kinh nghiệm của các quốc
gia đã chứng tỏ rằng thái độ nửa chừng này chỉ đem lại
những thành công giới hạn. Nước Nga mặc dầu đã bắt đầu
canh tân từ cuối thế kỷ 17 đã không bắt kịp được Tây Âu và
đã khủng hoảng, cuối cùng trở thành một chế độ cộng sản
với hậu quả tai hại mà thế giới đã thấy ; nước Nhật đã tích
lũy những mâu thuẫn để rồi bị dẫn đến chiến tranh tự
hủy. Ngày nay cả Nhật và Nga đều đã nhận ra sai lầm đó.
Nhật đã chấp nhận toàn bộ các giá trị của thế giới tiến
bộ từ sau Thế Chiến II và Nga cũng đang chuyển hóa mạnh mẽ
theo chiều hướng đó.
Chấp nhận một cách thành
thực và quả quyết những giá trị chính trị, văn hóa, xã hội
của thế giới tiến bộ là điều kiện tiên quyết. Nhật Bản vì
chọn lựa như vậy đã trở thành một cường quốc hàng đầu
thế giới. Các nước châu Á khác từ ba thập niên gần đây đi
theo khuôn mẫu Nhật Bản cũng đang trỗi dậy mạnh mẽ. Tuy nhiên,
vì vẫn còn nhiều vướng mắc với quá khứ và chưa chọn lựa
một cách dứt khoát các giá trị tiến bộ mới, đặc biệt là dân
chủ, các nước vừa phát triển tại châu Á đã tích lũy nhiều mâu
thuẫn dẫn tới cuộc khủng hoảng trầm trọng trong năm 1997 và đã
chỉ bắt đầu phục hồi sau khi đã dân chủ hóa. Chấp nhận toàn
bộ các giá trị tiến bộ là chọn lựa chúng ta phải làm và
phải làm một cách thật quả quyết. Giữa sự dùng dằng, lưỡng
lự của các nước trong vùng, chọn lựa này là một cơ may cho phép
chúng ta vươn lên bắt kịp và vượt qua họ.
Trong những giá trị trên
đây, giá trị mà ta cần nhất là hòa bình. Truyền thống chống
ngoại xâm dần dần đã khiến ta coi bạo lực như là phương cách
tự nhiên để giải quyết xung đột. Ta quen tôn vinh những anh hùng
có chiến công hiển hách mà coi nhẹ những cố gắng xây dựng âm
thầm, nền tảng của mọi tiến bộ. Từ nay chúng ta phải nguyền
rủa bạo lực và nâng hòa bình lên làm một giá trị tuyệt đối.
Chúng ta đừng lo sợ
chấp nhận những giá trị mới sẽ làm ta mất đi quốc hồn
quốc túy. Những giá trị này đã có sẵn trong xã hội ta, chỉ
tiếc rằng ta đã không phát huy chúng một cách đầy đủ đến
nỗi phải khổ nhục và thua kém như ngày nay. Chấp nhận chúng không
phải là tự phủ nhận chúng ta mà chỉ có nghĩa là phát huy cái
hay sẵn có trong chúng ta. Vả lại, tiến lên và bắt kịp thế
giới là điều kiện để chúng ta có thể tồn tại như một
quốc gia và giữ được văn hóa và bản sắc dân tộc.
Trên những giá trị chung
các nước phương Tây đã xây dựng nên nhiều nếp sống khác nhau
tùy đặc thái riêng của mỗi nước. Xã hội Anh khác với xã
hội Pháp, văn hóa Đức khác với văn hóa Ý, nước Mỹ không
giống như nước Thụy Điển. Trên căn bản các giá trị mới
Nhật Bản và nhiều nước châu Á khác vẫn giữ được truyền
thống của họ. Trên căn bản các giá trị tiến bộ Việt Nam cũng
vẫn sẽ là Việt Nam, nhưng là một Việt Nam vinh quang hơn.
Chúng ta cần một cuộc
vận động tư tưởng lớn. Giáo dục của ta, luật pháp của ta, các
sinh hoạt văn hóa, xã hội, kinh tế của ta đều phải nhấn mạnh
và tôn vinh các giá trị tiến bộ. Trường học ngoài sứ mệnh
cốt lõi của nó là chuyển giao kiến thức, còn phải là môi trường
tập quen tuổi trẻ với tinh thần bao dung, tinh thần trách nhiệm,
cách suy nghĩ tự do và khách quan và lòng yêu quí đất nước, đồng
bào, nhân loại và thiên nhiên. Một cố gắng đặc biệt cũng sẽ
được dành cho thể dục thể thao nhằm phát huy óc khách quan, tinh
thần tranh đua trong hòa bình, tinh thần thượng tôn luật pháp.
Cuộc vận động tư tưởng này là cố gắng quan trọng nhất trong
mọi cố gắng, bởi vì đây chính là cố gắng xây dựng nền
tảng của xã hội mới.
2. Lấy tự do làm động
lực để phát huy óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến
Dân tộc ta có truyền
thống giữ nước vẻ vang, nhưng bù lại ta cũng đã mất quá
nhiều thời giờ và nghị lực cho cố gắng chống ngoại xâm.
Trong những tranh đấu cam go ấy ta luôn luôn phải đề cao kỷ
luật và sự nhất trí, luôn luôn phải gác lại những tranh cãi để
đương đầu với những vấn đề cấp bách. Lịch sử chật vật
ấy một mặt khiến chúng ta có khả năng thích nghi cao với điều
kiện sinh sống nhưng mặt khác cũng làm ta dần dần mất đi cái
nhìn dài hạn, sáng kiến, óc phát minh và tinh thần mạo hiểm.
Chúng ta có một bờ
biển dài và một đại dương hiền hậu, nhưng biển cả hình như
không có một tiếng gọi nào với chúng ta cả. Chúng ta đã thiếu
hẳn quyết tâm chinh phục và tận dụng đại dương. Chúng ta không
có kỹ thuật đóng tàu và đi biển, không có đội thương
thuyền, không có những nhà hải hành lớn. Chúng ta chỉ sống
với đất như một dân tộc lục địa. Chúng ta đã hài lòng với
khuôn mẫu Khổng Mạnh từ đời này qua đời khác mà không hề có
ý định thay đổi, mặc dầu khuôn mẫu độc đoán và hà khắc đó
sau khi đã cho phép chúng ta đạt những thành tựu lớn lúc ban đầu,
đã bắt chúng ta dẫm chân tại chỗ trong nhiều thế kỷ sau đó.
Óc sáng tạo và tinh
thần cầu tiến là điều chúng ta phải học và tập quen. Muốn như
thế chúng ta phải khuyến khích và tôn vinh tự do suy nghĩ và phát
biểu. Chúng ta cần nâng lên hàng một nguyên tắc tuyệt đối là
trong nước Việt Nam tương lai sẽ không thể có những vấn đề
cấm bàn tới và cũng không thể có những ý kiến cấm nêu ra. Không
một người Việt Nam nào có thể bị trừng phạt vì lối sống
của mình hay vì những gì mình phát biểu, trừ trường hợp trực
tiếp kêu gọi bạo lực.
3. Phát huy lòng yêu nước
tự nguyện
Trong gần suốt dòng
lịch sử chúng ta sống dưới những chế độ quân chủ tuyệt đối
coi đất nước của riêng một dòng vua, khi chúng ta không bị
ngoại thuộc. Lòng yêu nước của chúng ta vì vậy không có điều
kiện để phát triển. Khi ý niệm quốc gia như là của mọi người
và phải được sự đóng góp của mọi người xuất hiện, do
hậu quả của một di sản trong đó vua là trời và dân là nô
lệ, nó đã mau chóng bị tuyệt đối hóa. Tổ quốc trở thành thiêng
liêng, tối thượng, không có trách nhiệm nào và không chấp nhận
một đòi hỏi nào. Tổ quốc đó đã được dùng làm chiêu bài
cho quá nhiều tội ác. Chiến tranh, tang tóc, thất vọng, sự chịu
đựng quá lâu một chế độ độc tài vừa tồi dở vừa bạo ngược,
mặc cảm thua kém các dân tộc khác làm cho lòng yêu nước của chúng
ta bị tổn hại trầm trọng. Chính vì lòng yêu nước đã bị suy
giảm mà trước đây chúng ta đã để cho đảng cộng sản, một
đảng mà lý tưởng là phục vụ cho một phong trào quốc tế thay
vì đất nước, xuất hiện như một đảng yêu nước, lôi kéo
được một số đông đảo đồng bào và khống chế chính trường.
Chính vì ý chí và lòng yêu nước đã hao mòn mà ngày nay chúng ta
đã không phản ứng đủ quyết liệt trước một chế độ độc
tài đảng trị coi đất nước là của riêng mình như các vua chúa
ngày xưa, trong khi cả nhân loại đang tiến về dân chủ và chính
chúng ta cũng biết đất nước rất cần dân chủ.
Nhưng chúng ta là người
Việt Nam, và tương lai của chúng ta gắn liền với tương lai của
đất nước Việt Nam. Chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là
xây dựng một tương lai Việt Nam chung. Và để xây dựng tương
lai chung đó, lòng yêu nước vẫn là mẫu số chung bắt buộc. Chúng
ta cần một sức bật mới của lòng yêu nước. Chúng ta cần
phục hồi và phát minh lại lòng yêu nước.
Chúng ta cần xác định lòng
yêu nước như một tình cảm tự nguyện của những con người
tự do, ràng buộc mật thiết với nhau để xây dựng một tương
lai chung cho mình và cho con cháu. Chúng ta cần để cho mỗi người
yêu nước theo cách của mình, chúng ta không thể để cho lòng yêu
nước bị đồng hóa với sự tán thành một chủ nghĩa. Chúng ta
cần hòa giải người Việt Nam với đất nước. Chúng ta cần
một tổ quốc hiền hòa, một tổ quốc có trái tim, một tổ
quốc đáng yêu, một tổ quốc của nhân quyền và dân quyền,
một tổ quốc khuyến khích, một tổ quốc có trách nhiệm và
gần gũi với mọi người thay vì quá thiêng liêng đến nỗi trở
thành trừu tượng và xa cách.
Muốn như thế chính
quyền, người đại diện và hành động nhân danh tổ quốc, phải
là một chính quyền khiêm tốn, cần kiệm và tận tụy, quí
trọng từng người dân và để cho mỗi người thấy rõ ràng mình
được quí trọng. Chính quyền ấy sẽ hóa giải mọi hận thù,
sẽ nhân danh sự liên tục quốc gia để xin lỗi, phục hồi danh
dự và bồi thường thiệt hại cho mọi nạn nhân của những oan
ức. Chính quyền ấy sẽ thường trực cảnh giác để không một
thành phần dân tộc nào cảm thấy bị bỏ rơi. Chính quyền ấy
sẽ không bắt bất cứ ai phải yêu nước, trái lại sẽ dồn
mọi cố gắng tạo điều kiện để mọi người có thể yêu nước.
Cùng với dân chủ tự
do, ý kiến và sáng kiến, nhưng trên tất cả, lòng yêu nước sẽ
là một vũ khí chủ yếu giúp chúng ta chinh phục tương lai.
4. Tôn trọng và phát huy
xã hội dân sự
Mọi quốc gia văn minh đều
phải đặt nền tảng trên xã hội dân sự. Xã hội dân sự là toàn
thể các giáo hội, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức thiện
nguyện, các nghiệp đoàn, hợp tác xã, công ty, xí nghiệp. Nói
chung, đó là tất cả các kết hợp của người dân, được thành
lập để cùng theo đuổi một số mục đích chung và không nhắm
tranh giành quyền lực chính trị.
Ý niệm xã hội dân sự
đã được xuất hiện cùng một lúc với các xã hội văn minh. Đó
là những sợi dây chằng chịt gắn bó những con người với nhau
và gắn bó con người với xã hội. Những sợi dây liên lạc đan
xen đó tạo ra sự bền chắc của quốc gia. Các kết hợp công dân
tạo thành xã hội dân sự cũng là những cái nôi cho ý kiến, sáng
kiến và tiến bộ. Một xã hội dân sự mạnh bảo đảm các ý
kiến mới được nảy sinh nhanh chóng, các mâu thuẫn được phát
hiện và giải quyết kịp thời, xã hội không ngừng tiến hóa
trong hòa bình và trật tự.
Trong mô hình xã hội
của chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một vai trò quan
trọng là thực hiện liên đới xã hội, giúp đỡ và bênh vực
những người yếu kém và thiếu may mắn.
Mọi kết hợp đều tạo
ra sức mạnh. Sức mạnh của xã hội dân sự là sức mạnh tổng
hợp, nhưng không bao giờ thống nhất, của các kết hợp công dân
có khi cùng hướng với nhau, có khi biệt lập với nhau và cũng có
khi đối chọi với nhau. Sức mạnh của xã hội dân sự từng lúc
và từng cơ hội hòa nhập với nhà nước hay đối lập với nhà
nước, nhưng lúc nào cũng ảnh hưởng trên nhà nước và không bao
giờ có tham vọng tranh quyền với nhà nước bởi vì nó không có
và không thể có tham vọng chính trị.
Xã hội dân sự đảm
bảo sự năng động của xã hội và đồng thời cũng bảo đảm
tự do, dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ độc tài chuyên
chính. Mọi chế độ độc tài bạo ngược đều nhắm trước
hết tiêu diệt xã hội dân sự. Bản chất của các chế độ độc
tài là dựa trên một thiểu số để khống chế một xã hội phân
hóa. Các bạo quyền không cần dân chúng tin yêu mình mà chỉ cần
người dân đừng gắn bó với nhau để không có sức đề kháng.
Không gì thỏa mãn các tập đoàn độc tài hơn là sự thờ ơ và
bất lực của quần chúng.
Triết lý của một chế
độ dân chủ, trái lại, coi xã hội dân sự là thành tố áp đảo
và nền tảng của quốc gia vì thế vai trò của nhà nước là làm
cho các kết hợp công dân ngày càng đông đảo, không ngừng tiến
lên và mạnh lên để đóng góp tích cực cho sự phồn vinh của xã
hội. Nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là công cụ của xã
hội dân sự với sứ mệnh bảo đảm hoạt động lành mạnh của
xã hội dân sự, để xã hội dân sự tạo hạnh phúc cho các công
dân. Đó không phải là một sự từ nhiệm mà là một triết lý
chính trị mới của một chính quyền đủ tự tin để đặt lòng
tin vào các công dân. Trong quan hệ biện chứng với xã hội dân
sự, nhà nước dân chủ đa nguyên tự coi mình là người trọng tài,
phối hợp và thể hiện những nguyện vọng của xã hội dân sự.
Nhà nước phục vụ chứ không khống chế xã hội dân sự.
Sẽ không thể có một
cản trở nào cho sự thành lập và phát triển của các kết hợp
công dân. Đặc biệt các hiệp hội không có mục đích lợi
nhuận sẽ chỉ cần khai báo sự thành lập chứ không cần giấy
phép hoạt động. Các hiệp hội có mục đích văn hóa, xã hội còn
có quyền đòi hỏi nhà nước giúp đỡ.
5. Xác định Việt Nam là
đất nước xây dựng trên các cộng đồng
Đất nước ta tuy có
một lịch sử dài nhưng lại là một đất nước mới. Miền Trung
mới hội nhập xong từ th°ê kỷ 17, miền Nam từ thế kỷ 18. Nước
ta đã tiếp nhận rất nhiều đóng góp mới về đất đai và
chủng tộc. Tuy vậy tổ chức của ta lại không thích nghi với
những thay đổi đó và vẫn được quan niệm một cách sai lầm như
là đất nước của một cộng đồng duy nhất : cộng đồng người
Kinh. Lịch sử của ta là lịch sử của người Kinh. Văn hóa của
ta là văn hóa của người Kinh. Các quan niệm về đạo lý, xã
hội, luật pháp đều dựa trên người Kinh và nhắm phục vụ cho
người Kinh. Có lẽ là quá trình mở nước và giữ nước khó khăn
của ta đã không cho ta thời giờ và phương tiện để suy nghĩ
một cách nghiêm túc về một chính sách cộng đồng, nhưng phải nói
thực là chúng ta rất thiếu sót về điểm này. Trong suốt dòng
lịch sử, trừ một vài ngoại lệ ít ỏi, người Kinh hầu như chưa
hề nhìn nhận một trách nhiệm nào đối với các sắc tộc ít người
mà chỉ áp đặt khuôn mẫu của mình, nếu cần bằng bạo lực. Tình
trạng này nếu không được nhận định rõ rệt để kịp thời có
chính sách thỏa đáng có thể dẫn tới những hậu quả rất tai
hại, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay và sắp tới.
Nhiều quốc gia đang và sẽ còn phải khốn đốn vì những cuộc
nổi dậy cuồng nhiệt của các sắc tộc ít người vùng lên đòi
bản thể. Nếu chúng ta không cảnh giác để cho tình trạng này
xảy ra thì hai vùng rộng lớn của đất nước là miền Thượng
Du phía Bắc và miền Cao Nguyên Trung Phần có thể trở thành bất
ổn và không phát triển được.
Các cộng đồng đều
phải được tôn trọng như nhau trong một đất nước Việt Nam
được định nghĩa như là đất nước của các cộng đồng.
Cộng đồng người Việt gốc Khmer đã sống từ ngàn xưa tại
miền Nam, cộng đồng người Việt gốc Hoa đã góp công lớn khai
mở ra miền Nam phải được coi là những người Việt Nam trọn
vẹn trước luật pháp cũng như trong tình cảm dân tộc.
Quốc gia Việt Nam phải
gạt bỏ hẳn ý đồ đồng nhất hóa để mưu tìm đồng tiến
trong dị biệt. Chúng ta phải khẳng định rằng đất nước Việt
Nam không được định nghĩa bằng một chủng tộc mà bằng sự
chấp nhận chia sẻ một tương lai chung.
Ngày nay người Kinh đã
chiếm đa số trên khắp lãnh thổ, giải pháp thành lập những vùng
tự trị cho các sắc tộc không còn khả thi nữa, nhưng tản
quyền sẽ cho phép các sắc tộc có tiếng nói đáng kể trong các
chính quyền địa phương. Văn hóa, ngôn ngữ của các sắc tộc ít
người phải được coi là thành phần của văn hóa Việt Nam mà nhà
nước có nhiệm vụ gìn giữ. Lịch sử Việt Nam cũng phải được
xét lại và được coi như lịch sử của các sắc dân đã hợp
lại để tạo thành đất nước Việt Nam.
Tinh thần tôn trọng các
cộng đồng cũng phải được mở rộng ra tới các cộng đồng tôn
giáo, các cộng đồng tư tưởng, các cộng đồng nghề nghiệp và
các cộng đồng không thành hình thái do nếp sống khác nhau của
từng địa phương mà có. Các cộng đồng này phải được đảm
bảo chỗ đứng và tiếng nói trong một định chế quốc gia với
nhiều thẩm quyền.
Kể từ ngày 30-4-1975 chúng
ta lại có thêm một cộng đồng mới : cộng đồng người Việt
hải ngoại. Những người Việt Nam này đã phải bỏ nước ra đi
vì không thể chịu đựng những biện pháp hạ nhục, trù dập và
phân biệt đối xử. Đất nước Việt Nam phải mở rộng vòng tay
và tấm lòng đối với họ. Họ phải được nhìn nhận quyền công
dân tức khắc và trọn vẹn, cho họ cũng như cho con cái sinh ra
tại nước ngoài.
Sự hình thành của cộng
đồng Việt Nam hải ngoại là một yếu tố rất mới và một may
mắn lớn cho đất nước. Nhờ cộng đồng này người Việt Nam đã
làm quen được với mọi nếp sống và mọi nền văn minh, đã
thử nghiệm mọi khuôn mẫu tổ chức xã hội, đã len lỏi vào
mọi bộ môn khoa học kỹ thuật. Cộng đồng này, một khi nối
lại được quan hệ bình thường với đất nước, sẽ là một
bảo đảm rằng Việt Nam sẽ là một nước cởi mở, sẽ rũ bỏ
được mọi cố chấp và thành kiến, sẽ vĩnh viễn ra khỏi ngõ
cụt cố chấp. Cộng đồng này tuy chưa đông nhưng có tiềm năng
đóng góp lớn cho đất nước. Người Việt hải ngoại sẽ là
những đầu cầu khoa học, kỹ thuật, văn hóa, thương mại vô cùng
quí báu mà nhà nước Việt Nam không có phương tiện để tạo ra.
Kinh nghiệm cho thấy rằng các quốc gia phát triển mau chóng trong
những năm gần đây đều đã nhờ sự đóng góp của một cộng
đồng hải ngoại hùng mạnh. Bất cứ một nhà nước Việt Nam khôn
ngoan nào cũng phải khuyến khích liên lạc giữa trong và ngoài nước,
nhìn nhận một thực thể Việt Nam Hải Ngoại và tìm mọi sáng
kiến để cộng đồng Việt Nam hải ngoại ngày một lớn mạnh.
6. Dứt khoát chọn lựa
một nền kinh tế thị trường lấy tư doanh làm nền tảng
Kinh nghiệm thế giới
trong nhiều thập niên qua đã chứng tỏ rằng các chính sách kinh
tế tập thể, quốc doanh đều dẫn đến thất bại. Kinh nghiệm cũng
đã cho thấy rằng thị trường tự do là hướng dẫn chính xác
nhất cho sản xuất và là bảo đảm chắc chắn nhất cho một sự
phân phối hiệu nghiệm. Chọn lựa kinh tế phải có cho Việt Nam là
một nền kinh tế thị trường, lấy xí nghiệp tư làm nền tảng,
lấy óc kinh doanh và sáng kiến làm sức mạnh, lấy tinh thần cầu
tiến và làm giàu làm động cơ, lấy lợi nhuận làm phần thưởng
và chất kích thích.
Chọn lựa ấy có nghĩa là
nhà nước sẽ không làm tất cả những gì mà tư doanh có thể làm
được. Vai trò kinh tế chủ yếu của nhà nước là bảo đảm
sự ổn vững của đồng tiền, ngăn ngừa những cạnh tranh bất
chính và đầu tư vào những ngành nhiều triển vọng mà tư nhân
chưa dám hoặc chưa đủ khả năng đầu tư. Nhà nước cũng có
chức năng cảnh giác trước những khuynh hướng kinh doanh có hại
và khuyến khích những hoạt động kinh tế có lợi, nhưng nhà nước
thực hiện chức năng này chủ yếu bằng thông tin và nâng đỡ
chứ không phải bằng mệnh lệnh và cấm đoán. Nhà nước sẽ
dồn mọi cố gắng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ
trật tự an ninh, bảo vệ công lý, bảo vệ môi trường sinh
sống, phát huy các mối bang giao quốc tế có lợi, xây dựng và
củng cố đồng thuận dân tộc, nghĩa là làm đúng chức năng
của một nhà nước.
7. Không ngừng cảnh giác
bảo vệ công bằng xã hội
Trong các nhiệm vụ của
nhà nước dân chủ đa nguyên, nhiệm vụ trọng yếu nhất là bảo
đảm công bằng xã hội. Trong căn bản triết học của nó, chủ
nghĩa đa nguyên tôn trọng mọi thành phần trong xã hội, do đó nó
không chấp nhận để một thành phần bóc lột và chà đạp một
thành phần khác. Chúng ta tôn vinh lợi nhuận như một giá trị và
tìm kiếm lợi nhuận chủ yếu là để có phương tiện thực
hiện liên đới xã hội. Vả lại, một dân tộc không có liên đới
thì không còn là một dân tộc. Chúng ta hiểu công bằng xã hội là
liên đới xã hội. Chúng ta không thể bỏ rơi những người yếu
kém, sa cơ lỡ bước, như một xã hội văn minh không thể từ khước
một cái nạng cho người thương tật. Chúng ta nhìn nhận sự bình
đẳng của mỗi con người trong xã hội và chúng ta cần dành
những phương tiện để thực hiện sự bình đẳng đó.
Công bằng xã hội là điều
kiện cơ bản để giữ gìn sự bền chắc của nền tảng xã
hội, bảo đảm sự tham gia tích cực và phấn khởi của mọi người
vào tương lai đất nước, tránh những xung đột có thể làm gãy
đổ đà tiến của dân tộc về tương lai và đưa đến bạo
loạn.
Trong thực tế, phát
triển kinh tế thường đẻ ra và làm trầm trọng thêm những chênh
lệch trong xã hội. Nhiệm vụ trọng yếu của nhà nước là ngăn
chặn và làm giảm thiểu những nguyên nhân căng thẳng mà sự phát
triển, vì không thể nào hoàn toàn cân đối, chắc chắn sẽ đem
lại.
Công bằng xã hội đòi
hỏi một cố gắng không ngừng trong việc tái phân phối lợi
tức quốc gia nhằm bênh vực những thành phần yếu kém.
Công bằng xã hội đòi
hỏi một hệ thống bảo trợ xã hội đảm bảo những nhu cầu
tối thiểu về thực phẩm và sức khỏe cho mọi người.
Công bằng xã hội đòi
hỏi một hệ thống giáo dục và đào tạo phổ cập và liên tục
đảm bảo những cơ hội thăng tiến đồng đều cho mọi công dân.
Nhìn một cách ngắn hạn
công bằng xã hội có thể là một gánh nặng cho quốc gia và một
trở ngại cho phát triển kinh tế nhưng, nhìn một cách dài hạn hơn
và sáng suốt hơn, nó là một bắt buộc để đà phát triển kinh
tế có thể tiếp tục. Công bằng xã hội cũng là điều kiện
tối cần thiết để đảm bảo tình tự dân tộc và sự gắn bó
của quốc gia.
Công bằng xã hội tuyệt
đối là điều không thể có. Điều quan trọng là nhà nước coi công
bằng xã hội là ưu tư thường trực. Chính vì công bằng xã hội
là vấn đề vừa cần thiết, vừa tế nhị mà chúng ta phải gìn
giữ nó thật cẩn trọng, coi nó như một cuộc chiến đấu giữ nước.
Nhà nước dĩ nhiên đảm
nhận nhiệm vụ thực hiện công bằng xã hội. Nhưng nhà nước cũng
sẽ đặc biệt khuyến khích xã hội dân sự, qua các tổ chức
thiện nguyện, góp phần tích cực vào công tác trọng đại đó.
Một phần ngân sách xã hội sẽ được sử dụng qua ngả xã hội
dân sự. Các tổ chức thiện nguyện sẽ được tài trợ, trong
một tỷ lệ do khả năng ngân sách, so với nguồn tài nguyên mà
họ đã động viên được từ quần chúng cho các công tác xã
hội.
Việc tham gia tích cực
của xã hội dân sự vào cố gắng thực hiện công bằng xã hội
vừa có tác dụng vận động sự đóng góp của quần chúng vào công
tác liên đới xã hội vừa có hiệu lực đặc biệt về mặt tinh
thần. Trước một văn phòng cứu trợ xã hội của nhà nước người
cần được giúp đỡ có thể chỉ gặp một công chức, nhưng
tại một cơ quan thiện nguyện họ gặp một người tình nguyện làm
công tác xã hội vì niềm tin, họ gặp một người và một tấm lòng,
sợi dây liên đới xã hội và tinh thần phấn đấu vượt qua
trở ngại chỉ có thể mạnh thêm.
Chúng ta cần khẳng định
rằng công bằng xã hội là nhiệm vụ của nhà nước với sự
hợp tác của xã hội dân sự chứ không phải là trách nhiệm
của các xí nghiệp. Các xí nghiệp ngoài bổn phận tôn trọng nhân
phẩm của công nhân, tôn trọng luật pháp của nhà nước và tôn
trọng những hợp đồng đã ký kết với các công nhân, chỉ có
chức năng tạo ra lợi nhuận để đóng góp vào sự giàu mạnh
của xã hội và để nộp thuế cho nhà nước, để nhà nước có
tài nguyên bảo đảm liên đới xã hội. Chúng ta khẳng định
rằng công bằng xã hội không thể can thiệp vào hoạt động kinh
tế và trở thành một trở ngại cho các xí nghiệp.
8. Tiến tới một nền
kinh tế công nghiệp và dịch vụ
Với đất đai canh tác
tuy ít nhưng phì nhiêu, Việt Nam có tiềm năng nông nghiệp đáng
kể. Nông nghiệp trong ngắn hạn là đòn bẩy cho sự hồi sinh và
điểm khởi đầu của phát triển kinh tế. Do đó nông nghiệp là
trọng tâm kinh tế tức khắc của chúng ta và cũng sẽ còn là
trọng tâm kinh tế của chúng ta trong khoảng một thập niên nữa.
Tuy nhiên trong trung hạn,
vì đất đai chật hẹp và dân số đông đảo, Việt Nam không
thể là một nước nông nghiệp lớn. Ngược lại vị trí của ta
thuận lợi, nhân lực của ta dồi dào và tinh nhuệ. Chức năng
tự nhiên của chúng ta là chức năng của một quốc gia công
nghiệp, thương nghiệp và hàng hải. Chúng ta phải chuẩn bị ngay
từ bây giờ cho tương lai đó.
Mục tiêu kinh tế của chúng
ta trong hai mươi năm tới là chuyển hóa từ một nền kinh tế nông
nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp và thương nghiệp. Điều
này có nghĩa là mặc dầu năng suất và sản lượng của nông
nghiệp vẫn không ngừng tăng lên trọng lượng của nông nghiệp
trong tổng sản lượng quốc gia cũng như trong phối trí nhân lực
sẽ giảm dần đi. Bước đầu của cố gắng chuyển hóa này là
phát triển những ngành công nghiệp gắn bó với nông nghiệp như
công nghiệp thực phẩm, chế tạo phân bón, thuốc trừ sâu, nông
cơ, v.v. song song với cố gắng tìm thị trường xuất khẩu cho nông
phẩm.
Ngoài những cố gắng
dồn vào những ngành mà triển vọng đã thấy rõ như ngư nghiệp,
du lịch, chúng ta sẽ đặc biệt chú trọng tới hai triển vọng
mới là dịch vụ thương cảng và tin học. Cả hai ngành này đều
đòi hỏi một chính sách mở cửa trọn vẹn, thẳng thắn ra thế
giới bên ngoài.
Do vị trí và bờ biển
thuận lợi của ta, Việt Nam có thể có những thương cảng rất
lớn. Chúng ta sẽ sẵn sàng ký những hợp đồng xây dựng và khai
thác dài hạn một số thương cảng với các tổ hợp nước ngoài.
Nhưng điều quan trọng để thu hút những dịch vụ thương mại
quốc tế là tình hình trật tự an ninh phải ổn định, thể chế
chính trị phải cởi mở và hệ thống viễn thông phải hoàn
chỉnh.
Người Việt Nam ta rất có
khiếu về ngành tin học. Đây là một ngành đang phát triển và còn
cần tới rất nhiều chuyên viên với giá rất cao. Tin học nếu
được sử dụng đúng đắn cũng là dụng cụ quản lý khách quan
cho phép loại trừ nhiều nguyên nhân đưa tới tham nhũng. Nước ta
hiện đang có rất nhiều dự án tin học hóa khu vực công mà các
định chế quốc tế sẵn sàng tài trợ. Chúng ta có thể lấy
việc thực hiện các dự án này làm bàn đạp để đào tạo một
đội ngũ chuyên viên tin học giỏi và cập nhật về kỹ thuật.
Triển vọng càng cao vì các tiến bộ về truyền thông ngày càng
cho phép thực hiện những hợp đồng tin học trên khắp thế
giới mà không cần xuất ngoại.
Nhà nước phải lấy làm
mục tiêu nối kết mọi gia đình vào mạng lưới Internet để sử
dụng tối đa mạng lưới này như một phương tiện thông tin,
học hỏi, trao đổi và mua bán.
Chúng ta sẽ không thiết
lập các khu kinh tế với qui chế đặc biệt như kiểu "khu
chế xuất" mà sẽ dành mọi khuyến khích và dễ dãi cho các
hoạt động kinh tế trên cả nước, với một luật kinh doanh chung
cho toàn lãnh thổ.
Đất nước ta may mắn là
một quốc gia duyên hải, các vùng đông dân đều không xa bờ
biển và cũng không xa các cảng tốt. Dựa vào ưu thế đó chúng
ta sẽ thiết lập các trung tâm công nghiệp trải đều trên khắp
lãnh thổ. Chính sách này đòi hỏi một đầu tư quan trọng cho
hệ thống giao thông và truyền thông nhưng bù lại sẽ tiết kiệm
được những tốn kém còn quan trọng hơn về di dân, và đồng
thời cũng tránh được nạn nhân mãn tại các thành phố lớn mà
các quốc gia đang mở mang đều gặp. Cần nhấn mạnh rằng mọi
chính sách tương lai đều tuyệt đối không mang tính cưỡng bách.
Tái phối trí dân số và lực lượng lao động là hiện tượng thường
trực và tự nhiên trong mọi quốc gia, nhất là tại các quốc gia
đang phát triển, nhưng cách hay nhất vẫn là để người dân toàn
quyền chọn lựa nghề nghiệp và nơi sinh sống sau khi được thông
tin đầy đủ về các cơ hội. Đó là phương thức để trí tuệ
cá nhân và sách lược quốc gia bổ túc cho nhau và điều chỉnh
lẫn nhau.
9. Theo đuổi một
"chủ nghĩa nước nhỏ"
Chúng ta hiện nay là một
nước rất thua kém, yêu cầu cấp bách nhất của chúng ta là phát
triển, bắt kịp các nước mở mang. Do đó chính sách căn bản
của Việt Nam trong giai đoạn này phải là một chủ nghĩa nước
nhỏ.
Chủ nghĩa nước nhỏ là
gì? Nói một cách giản dị, đó là nhẫn nhục hôm nay để lớn
mạnh ngày mai.
Về mặt đối nội, chủ
nghĩa nước nhỏ có nghĩa là chúng ta sẽ không chia rẽ và xung
khắc với nhau về những chủ thuyết cao siêu, sẽ cùng nhau nhận
diện số phận hẩm hiu, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau để cùng
dắt tay nhau ra khỏi bế tắc. Nhà nước sẽ từ chối những chi
tiêu có tính huênh hoang gây thanh thế, tập trung mọi tài nguyên và
sinh lực cho cố gắng ra khỏi tình trạng thua kém. Nhà nước sẽ
trân trọng bảo vệ và gìn giữ những thành quả ít ỏi đã đạt
được, nhà nước sẽ đặt trọng tâm vào giáo dục và đào
tạo, và sẽ đầu tư vào một nền giáo dục thực dụng trước
tiên.
Về mặt đối ngoại, chúng
ta sẽ không tranh giành một vai trò quốc tế nào, sẽ không có thái
độ trong những tranh chấp quốc tế trừ khi để bênh vực lẽ
phải, đạo đức và công pháp quốc tế. Chúng ta sẽ cố gắng
tạo một hình ảnh hiền hòa, khiêm tốn để được cộng đồng
quốc tế chấp nhận như một quốc gia có thể giao thương được,
sẽ dứt khoát không can dự vào một xung đột quốc tế nào.
Điều đáng lo ngại
hiện nay là chúng ta đang sống trong một khu vực có nhiều khả năng
gây ra căng thẳng, thậm chí xung đột. Chúng ta coi sự hiện diện
quân sự tích cực của Hoa Kỳ trong vùng là một yếu tố cần
thiết để bảo đảm hòa bình và ổn vững, và chúng ta sẽ
khuyến khích sự hiện diện đó.
Chúng ta coi hợp tác với
Hoa Kỳ và các nước phương Tây là một phúc lợi lớn không
những mở ra cho ta những thị trường lớn, đem lại những
chuyển giao khoa học kỹ thuật quí báu mà còn giúp ta tiếp thu cách
tổ chức, suy nghĩ và làm việc của các xã hội dân chủ tiên
tiến. Chúng ta sẽ thành thực và khiêm tốn hợp tác với họ và
học hỏi nơi họ.
Với một chính sách đối
ngoại khiêm tốn và hòa bình chúng ta sẽ không cần một quân
lực đông đảo. Với một chính sách đối nội tôn trọng mọi
quyền tự do và dựa trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân
tộc, chúng ta sẽ không cần một bộ máy cảnh sát công an đồ
sộ. Quân đội và cảnh sát vì vậy sẽ được giảm tới mức
tối thiểu, nhưng đầy đủ, để làm tròn nhiệm vụ của những
công cụ phi chính trị bảo vệ lãnh thổ và giữ gìn trật tự an
ninh.
Tinh thần của chủ nghĩa
nước nhỏ là nhìn nhận sự thua kém của mình và động viên
tất cả tài nguyên và sinh lực để đưa đất nước đi lên.
Với dân số đông đảo và những con người cần mẫn, lại được
một vị trí thuận lợi, Việt Nam có tiềm năng lớn và có quyền
mong muốn một chỗ đứng vẻ vang trên thế giới nếu biết cố
gắng và nhẫn nhục trong một vài thập niên.
10. Thực hiện một chính
sách đối ngoại hòa bình và hợp tác song song với một chính sách
láng giềng tốt
Trong một thế giới đầy
tranh đua như hiện nay các mối bang giao tốt là điều không thể
thiếu. Chúng ta sẽ không bỏ lỡ một cơ hội nào để thiết
lập và tăng cường mọi liên hệ hợp tác với mọi quốc gia trên
thế giới, trước hết là với các quốc gia lân cận.
Đối với các nước phương
Tây, đặc biệt là Pháp và Hoa Kỳ là hai nước đã từng có
những quan hệ phức tạp và xung động, chúng ta bình thường hóa
không những quan hệ ngoại giao mà cả quan hệ văn hóa và tình
cảm. Chúng ta còn rất nhiều để học hỏi nơi họ và cũng có
rất nhiều để trông đợi ở một sự hợp tác lưỡng lợi. Chúng
ta cũng cần lưu ý đặc biệt đến những quốc gia mà chính sách
di dân còn dễ dãi hoặc có triển vọng dễ dãi để phát triển
cộng đồng người Việt hải ngoại. Một chính sách đối ngoại
hiếu hòa và khiêm tốn, đi song song với sự tận dụng khả năng
đóng góp của cộng đồng Việt Nam hải ngoại là căn bản của
những cố gắng ngoại giao của chúng ta.
Nhưng gần hơn hết chúng
ta phải củng cố và tăng cường chỗ đứng của ta tại khu vực
châu Á và Thái Bình Dương đặc biệt là trong lòng khối ASEAN.
Trong lòng khối này chúng ta sẽ góp phần tích cực tăng cường
sự liên đới, hạ thấp dần những hàng rào văn hóa và mậu
dịch, thúc đẩy sự hình thành thực sự của một vùng trao đổi
tự do.
Gần nhất, ta phải thắt
chặt quan hệ hợp tác với hai nước bạn láng giềng Lào và
Cam-bốt. Chúng ta đã là nạn nhân của một âm mưu chia để trị
xuất phát từ thời ngoại thuộc Pháp mà ngày nay ta phải phá
vỡ. Biên giới của ta với hai nước này không đổi từ hơn hai
thế kỷ nay. Đó là một trong những biên giới ổn vững nhất
thế giới, làm chứng cho khả năng sống chung hòa bình giữa Việt
Nam, Lào và Cam-bốt. Nhưng chúng ta cũng cần dõng dạc tuyên cáo
một chính sách hiếu hòa thực sự và làm nhiều cố gắng ngoại
giao để đánh tan những hiểu lầm do một quá khứ còn khá mới
để lại. Chúng ta sẽ đề nghị và vận động để ký kết với
hai nước láng giềng này một hiệp ước tôn trọng các biên
giới hiện có với mọi dễ dãi về giao thông và thương cảng để
họ có thể khai thông ra đại dương. Chúng ta sẽ đề nghị với
họ cùng hợp tác xây dựng các trục lộ giao thông ra biển, và
nếu có thể, tiến tới một thỏa ước tự do đi lại và di trú.
Cả Lào và Cam-bốt đều cần đường ra biển qua ngả Việt Nam nên
sự hợp tác sẽ là điều tự nhiên nếu họ vững tin rằng Việt
Nam tôn trọng bản thể và lãnh thổ của họ. Việt Nam, Lào và
Cam-bốt có nhiều triển vọng để hình thành một khối hợp tác
gắn bó trong đó cả ba đều có lợi và đều phát huy được
thế mạnh kinh tế riêng của mình.
Đối với Trung Quốc chúng
ta cần giải quyết trong tinh thần hữu nghị những tranh chấp về
lãnh hải và hải đảo để mở đầu một giai đoạn hợp tác.
Hai nước có chung một biên giới dài, đã từng chia sẻ một văn
hóa và cũng có rất nhiều tương đồng về cấu tạo nhân văn cho
nên sự hợp tác là một lẽ tự nhiên. Điều đáng lo ngại hiện
nay là Trung Quốc một mặt đang gia tăng sức mạnh quân sự và
mặt khác biểu lộ một chính sách bá quyền khu vực. Đối với
Trung Quốc, chúng ta cần chứng tỏ một thái độ khiêm tốn, hòa
nhã nhưng kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên lãnh thổ, vùng
biển và các hải đảo. Chúng ta hy vọng sự hiện diện quân sự
tích cực của Hoa Kỳ trong vùng sẽ là một đảm bảo cho hòa bình
và an ninh. Chúng ta có lý do để tin rằng Trung Quốc sẽ chọn
lựa đường lối hòa hoãn và hợp tác, nhưng hiện đại hóa khả
năng tự vệ của chúng ta cũng là một yếu tố khuyến khích Trung
Quốc đi theo đường lối tốt đẹp đó. Trong ngắn hạn, khi vấn
đề thống nhất của Trung Quốc chưa giải quyết xong, chúng ta
sẽ chú trọng đặc biệt vào sự phát triển các quan hệ ngoại
thương phi chính trị với Đài Loan.
Chúng ta không thể phủ
nhận vai trò lãnh đạo kinh tế châu Á của Nhật và phải đặt
quan hệ kinh tế với Nhật lên hàng một quốc sách phát triển. Chúng
ta phải tranh thủ vốn đầu tư của các công ty Nhật, đồng
thời quân bình đầu tư của Nhật với đầu tư từ các nước khác.
Sau cùng chúng ta cũng
cần có một nhận định sáng suốt và thực tiễn đối với các
nước thuộc Đông Âu và Liên Xô cũ. Các nước này là những
thị trường đầy tiềm năng trong đó chúng ta đã sẵn có nhiều
người bạn, nhiều quan hệ và hiểu biết cần được khai thác.
11. Ngăn chặn đà gia tăng
dân số
Chúng ta hiện có một dân
số gần 80 triệu dân, đứng hàng thứ 13 trên thế giới, với
một diện tích rất hẹp, 330.000 cây số vuông. Đã thế tỷ lệ
đất đai thực sự canh tác và sinh sống được của ta lại rất
thấp, chỉ ở mức một phần ba. Trong khi đó dân số của ta
tiếp tục gia tăng một cách báo động, gần 2% mỗi năm. Mặt khác
khả năng kinh tế và điều kiện địa lý của ta không cho phép
dự trù những đầu tư lớn vào việc mở rộng vùng đất sinh
sống và canh tác. Chặn đứng đà gia tăng dân số vì vậy là
một vấn đề sinh tử và cấp bách.
Kinh nghiệm của chính
quyền cộng sản cho thấy là một chính sách hạn chế sinh đẻ
quả quyết đến độ dã man chỉ làm xuống cấp con người chứ
không làm giảm dân số. Vấn đề cần được giải quyết ở
tận gốc rễ văn hóa và nhân sinh quan của nó. Trong giáo dục
học đường và đại chúng cần phổ biến các kiến thức về
ngừa thai và bình thường hóa quan hệ nam nữ, cần tách rời
việc lập gia đình và có con cái với việc thỏa mãn nhu cầu sinh
lý.
Sinh đẻ nhiều cũng do
hai nguyên nhân khác mà ta cần khắc phục, đó là trình độ văn hóa
và vai trò xã hội kém của phụ nữ, và sự lo âu của tuổi già.
Nâng cao trình độ văn hóa của phụ nữ và hội nhập một cách tích
cực phụ nữ vào sinh hoạt kinh tế xã hội là một đầu tư cần
thiết để chặn đà gia tăng dân số. Mọi kinh nghiệm trên thế
giới đều chứng tỏ rằng càng có trình độ văn hóa cao, càng
tham gia tích cực vào sinh hoạt kinh tế, phụ nữ càng có khuynh hướng
tự hạn chế sinh đẻ. Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng bảo đảm
cuộc sống cho người già sẽ hạn chế được một cách đáng
kể đà gia tăng dân số vì con đông trước hết là một đảm
bảo cho tuổi già ở các nước thiếu an sinh xã hội. Phải săn sóc
người già nếu không muốn phải tiếp nhận thêm quá nhiều trẻ
thơ mà chúng ta không có khả năng nuôi dưỡng và giáo dục. Chúng
ta cần một đạo luật bảo đảm một lợi tức tối thiểu cho
những người già cả. Chính sách này sẽ tạo một tâm lý an toàn
và chắc chắn sẽ làm giảm ngay mức sinh đẻ, nhất là với
niềm tin là lợi tức bảo đảm cho tuổi già sẽ càng ngày càng tăng
với phát triển kinh tế.
II.Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
III.Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới
V. Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên
VI. Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên
VII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII. Vì đất nước hôm nay
và ngày mai :
chung một giấc mơ Việt Nam