II.
Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
Chúng ta đang đứng trước
một thế giới đầy hy vọng và thử thách. Các chế độ độc tài
đang theo nhau sụp đổ. Làn sóng dân chủ đang trỗi dậy mạnh
mẽ trên khắp thế giới. Số lượng các nước dân chủ tiếp
tục gia tăng nhanh chóng. Các dân tộc vừa được giải tỏa khỏi
ám ảnh thế chiến vừa được một cơ hội vô cùng thuận lợi
để loại bỏ những tập đoàn chuyên chính và tổ chức lại xã
hội của mình một cách hợp lý hơn. Nhưng mặt khác họ cũng bị
đặt trước một thế giới tranh đua gay gắt hơn, với các thông
số đã đổi mới.
1. Những nét
đậm của thế giới hôm nay
1.1. Sự ra
đời của một kỷ nguyên mới
Thế giới đang trải qua
một cuộc chuyển hóa trọng đại.
Các tiến bộ khoa học
kỹ thuật dồn dập tới hằng ngày làm thay đổi hẳn bản chất
của hoạt động kinh tế và những trao đổi giữa các quốc gia,
đẩy các quốc gia vào một cuộc cạnh tranh dữ dội. Vận tốc
thay đổi quá mau trong khi chưa ai biết chắc kết quả sẽ như
thế nào. Một trật tự mới chưa hình thành trong khi nhiều dấu
hiệu đáng ngại đã xuất hiện. Sự tranh đua tìm kiếm hiệu năng
tối đa, phẩm chất cao nhất và giá thành thấp nhất không những
buộc mọi xí nghiệp xét lại phương thức sản xuất và quản
trị mà còn buộc nhiều quốc gia xét lại mô hình xã hội của mình.
Mô thức Tây êu từ trước tới nay vẫn được coi, và xứng đáng
được coi, là lý tưởng nhất vì dung hòa được một mức độ
phát triển cao với một liên đới xã hội lớn đang gặp khó khăn
trước sự cạnh tranh của những nền kinh tế duy hiệu năng và
thuần túy thị trường. Đối với các nước chưa phát triển và
cần được trợ giúp, các định chế tài chánh quốc tế không
ngừng khuyến cáo và áp đặt những biện pháp ổn định tiền
tệ mà hậu quả rõ nét nhất là chiết giảm những chi phí xã
hội cần thiết để duy trì liên đới quốc gia.
Tuy vậy xu hướng căn
bản toàn cầu vẫn là sự ra đời của một kỷ nguyên mới. Đó
là kỷ nguyên đặt nền tảng trên những giá trị đã tạo ra
sức mạnh của các nước tiên tiến : hòa bình, tự do, dân chủ,
nhân quyền, bình đẳng, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác,
lợi nhuận, môi trường và liên đới. Những thành tựu khoa học,
kỹ thuật và kinh tế quyết định chỗ đứng của các dân tộc.
Trong nhất thời, vai trò lãnh đạo thế giới thuộc về Hoa Kỳ và
Tây êu. Trong vài thập niên nữa, một phần quan trọng của vai trò
lãnh đạo sẽ chuyển sang khu vực Thái Bình Dương. Sau đó Trung
Quốc và Nga, một khi đã chuyển hóa thành công về dân chủ, cũng
sẽ vươn lên giành một vai trò quan trọng hơn. Ngôi vị có thể
thay đổi, các liên minh cũng sẽ thay đổi, nhưng luật chơi sẽ không
thay đổi vì các giá trị nền tảng sẽ không thay đổi. Các
quốc gia không hiểu luật chơi này, hoặc còn do dự không chịu
mau chóng thích nghi với các giá trị mới phải chờ đón một tương
lai rất đen tối.
1.2. Hoa Kỳ
và Trung Quốc
Nét đậm nổi bật hiện
nay là vai trò áp đảo của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ vừa là cường
quốc vượt trội về mọi mặt, vừa là cường quốc có nhiều
tiềm năng tiến lên nhất, do đó thế thượng phong của Hoa Kỳ
sẽ còn kéo dài trong thế kỷ tới. Trong vài thập niên nữa sẽ
khó có vấn đề quốc tế quan trọng nào có thể giải quyết được
nếu không có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vì vậy trở thành
một vấn đề thế giới, và quốc gia nào dù muốn hay không cũng
có vấn đề Hoa Kỳ của mình. Điều đáng mừng là cùng với
sức mạnh vô địch đó Hoa Kỳ đồng thời cũng tỏ ra là cường
quốc tích cực đem các vấn đề dân chủ và nhân quyền vào chính
sách đối ngoại.
Nhưng nếu cả thế giới
có vấn đề Hoa Kỳ thì các nước Đông Nam Á lại có thêm vấn
đề Trung Quốc. Trung Quốc đang phát triển về mặt kinh tế và đang
gia tăng sức mạnh quân sự. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc cho
tới nay một mặt phủ nhận trắng trợn các giá trị dân chủ và
nhân quyền, mặt khác tỏ ra muốn sử dụng sức mạnh quân sự
của mình cho một chính sách bá quyền khu vực. Châu Á cũng là khu
vực có nhiều hiểm họa chiến tranh nhất trên thế giới hiện
nay. Sự kiện Trung Quốc vừa gia tăng sức mạnh quân sự vừa để
lộ một số tham vọng bá quyền đã làm mọi nước trong vùng lo
ngại. Mối quan tâm đối với Trung Quốc đã là nguyên nhân cho
một cuộc chạy đua võ trang nguy hiểm trong vùng, làm cho tình hình
căng thẳng thêm. Trong tình huống đó, Việt Nam là nước có
nhiều tranh tụng nhất với Trung Quốc lại cũng là nước không có
khả năng tài chánh để tân trang vũ khí và tăng cường quân
lực. Sức mạnh quân sự của nước ta sút kém một cách báo động
trong khi áp lực gia tăng.
1.3. Một
sự thật đã rõ ràng : các chế độ cộng sản cáo chung trong hòa
bình
Một yếu tố đầy ý nghĩa
là sự thích nghi với dân chủ của các đảng phái kết hợp
những người cộng sản cũ tại Đông êu và Liên Xô cũ. Tại các
nước này, các đảng cộng sản đã từ bỏ độc quyền chính
trị và chấp nhận luật chơi dân chủ. Trong nhiều trường hợp
họ đã mất chính quyền nhưng nhờ biết thích nghi với tình hình
mới họ đã trở thành những chính đảng có trọng lượng trong
sinh hoạt_ chính trị và đã giành lại được chính quyền một cách
hợp pháp tại nhiều nước. Nhờ tinh thần hòa giải dân tộc, các
quốc gia này đã chuyển hóa thành công về dân chủ trong hòa bình.
Các nước cộng sản cũ
tại Đông êu và Liên Xô đã gặp rất nhiều khó khăn và xáo
trộn về mặt kinh tế và xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, do
di sản cực kỳ bi đát của các chế độ cộng sản để lại, nhưng
đã vượt qua được hay sắp vượt qua được. Tại các nước này,
xã hội dân sự đã thành hình và bắt đầu phát triển ; sinh
hoạt kinh tế xã hội đã bắt đầu ổn vững. Nhiều nước đã
phát triển mạnh, nhiều nước đang bắt đầu phát triển, các
quốc gia còn lại đang trên đường ra khỏi giai đoạn khó khăn.
Quan trọng hơn cả là xã hội, dù còn nhiều mặt yếu kém, nói
chung đã được đặt trên một nền tảng lành mạnh. Các nước
cộng sản đã chấp nhận dân chủ hóa giờ đây có thể hướng
về tương lai với niềm tin và hy vọng. Trái lại, bốn chế độ
cộng sản ngoan cố - Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba -
vẫn còn là những bệnh nhân chưa được giải phẫu với một ngày
mai đầy bất trắc.
Điều cần được đặc
biệt nhấn mạnh là tất cả các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng
sản và dân chủ hóa một cách rất nhanh chóng đều đã không bị
rơi vào hỗn loạn.
1.4. Dân
chủ giành được thắng lợi tại châu Á
Một số quốc gia trong
khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương, nhờ chấp nhận sớm kinh
tế thị trường và nới rộng một số quyền tự do căn bản đã
đạt được những thành quả ngoạn mục.
Sự thành công ngoài mức
độ chờ đợi trong một giai đoạn đã cho họ ảo tưởng rằng có
thể phát triển kinh tế mà không cần dân chủ hóa theo cùng một
nhịp độ. Cuộc khủng hoảng tài chính mùa hè 1997 đã gọi họ
về với sự thực là dân chủ phải đi trước và mở đường cho
phát triển. Họ đã phải trả giá rất đắt, thành quả của
nhiều năm cố gắng đã tiêu tan, kéo theo vô số thảm kịch xã
hội. Nhưng họ đã hiểu và đã trở thành những nước dân chủ.
Họ đã tìm lại được đà phát triển và lần này họ sẽ phát
triển một cách lành mạnh và bền vững. Sự chuyển hóa thẳng
thắn của các nước Đông Á về dân chủ đã là biến cố quan
trọng nhất trong ba năm cuối cùng của thế kỷ 20 và sẽ làm thay
đổi hẳn bối cảnh chính trị trong vùng Đông Nam châu Á. Chế độ
độc tài cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn bị cô lập và sự
thua kém của Việt Nam so với các nước lân cận sẽ ngày một bi
đát hơn nếu đất nước không kịp thời thay đổi định hướng.
Điều cũng cần được
nhấn mạnh tại đây là tất cả các nước châu Á đã trở thành
ổn định hơn sau khi dân chủ hóa một cách nhanh chóng, trái hẳn
với lập luận của các tập đoàn cầm quyền trước đây cho
rằng dân chủ có thể đưa đến hỗn loạn.
1.5. Phong trào
toàn cầu hóa đe dọa mọi quốc gia
Hiện tượng rất mới và
cần được ý thức đúng mức là sự xuống cấp toàn cầu của
ý niệm quốc gia. Nhiều quốc gia tan vỡ
mà không hề bị ngoại xâm, tan vỡ trong hỗn loạn, như tại
nhiều nước châu Phi, hay tan vỡ thành những quốc gia nhỏ, như
Tiệp Khắc, Nam Tư và Ethiopia. Sự toàn vẹn của nước Canada, dân
chủ và phồn vinh, đã chỉ được duy trì sau một cuộc trưng
cầu dân ý rất khít khao, nhưng nguy cơ ly khai vẫn còn nguyên
vẹn.
Ý niệm quốc gia dân
tộc đang bị công phá từ mọi phía. Từ bên ngoài do những kết
hợp khu vực hứa hẹn một không gian hoạt động lớn hơn không
gian quốc gia, từ bên trong do các cộng đồng sắc tộc đòi tự
trị, và từ cả trong lẫn ngoài do những công ty đa quốc gia và
những trao đổi dồn dập và ngày càng gia tăng vận tốc. Các phương
tiện giao thông và truyền thông hiện đại cũng đã làm cho trái
đất nhỏ lại và đem con người tới gần nhau.
Khuynh hướng áp đảo
hiện nay là khuynh hướng toàn cầu hóa. Tư bản không còn tổ
quốc. Các công ty lớn tìm cơ hội đầu tư trên khắp thế giới
và lập các kế hoạch sản xuất, tiếp thị, phân phối trên qui mô
toàn cầu. Trong cố gắng tìm trọng lượng và địa bàn hoạt động
lớn hơn, các công ty ngày càng sát nhập với nhau tạo ra những
tổ hợp với tầm vóc vĩ đại. Nhiều tổ hợp có tích sản lớn
hơn tổng sản lượng của nhiều quốc gia cộng lại ; đã có
một số công ty có trị giá tích sản lớn hơn hay tương đương
với tổng sản lượng của cả khối ASEAN với trên 500 triệu người.
Trong một thế giới hòa bình, quyền lực kinh tế tự nó đã là
quyền lực quan trọng nhất, nhưng nó cũng có thể xâm lấn quyền
lực chính trị. Sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia
khổng lồ là một thách đố ngày càng lớn cho các quốc gia và
cho chính ý niệm quốc gia. Các qui luật thương mại đang nhanh chóng
được hình thành và áp dụng cho cả thế giới. Các quyền con người
ngày càng được nhìn nhận là phổ cập, được coi như bước đầu
của luật pháp quốc tế và được đặt lên trên luật pháp của
các quốc gia. Các mạng lưới truyền thông, đặc biệt là mạng lưới
Internet cho phép những con người ở rất xa nhau trao đổi và làm
việc trực tiếp với nhau. Một người có thể làm việc cho một
cơ quan cách nửa vòng trái đất nơi mình cư trú. Khoảng cách đang
biến mất. Sự hiện diện ảo đang trở thành thực và có tác
dụng không kém sự hiện diện thân xác. Một công dân có thể thường
trú ở nước ngoài mà vẫn phục vụ được đất nước mình
một cách thường trực và đều đặn như một người trong nước.
Cả một "thế giới ảo" đang hình thành với tầm quan
trọng gia tăng nhanh chóng. Ngay lùúc này những trao đổi văn hóa,
khoa học, kỹ thuật tài chính và thương mại trong thế giới ảo
này, qua mạng lưới Internet, đã rất quan trọng. Trong một tương
lai không xa thế giới ảo này sẽ lấn át thế giới thực, biến
thế giới thực thành một trong những biểu hiện của nó.
Cuộc chuyển hóa vĩ đại
chỉ mới bắt đầu này ngày càng biến mỗi người thành một con
người của thế giới trước khi là công dân của một nước. Ý
niệm quốc gia dân tộc bị tương đối hóa. Quốc gia không còn là
một cứu cánh thiêng liêng mà phải là một phương tiện để xây
dựng hạnh phúc cho dân tộc. Trong bối cảnh thế giới hiện nay và
sắp tới, một quốc gia không được quan niệm như một tình
cảm, một đồng thuận, một dự án tương lai và một không gian
liên đới sẽ không thể tồn tại lâu dài. Một quốc gia không đảm
bảo an ninh và nhân phẩm, không đem lại phúc lợi thực tiễn và
niềm tự hào cho người dân - hơn nữa nếu biên giới quốc gia
được coi như tường thành ngăn cản các giá trị tiến bộ và
qui định một vùng lộng hành an toàn của các tập đoàn bạo ngược
- lại càng tan vỡ nhanh hơn và bi đát hơn. Trong thời đại mới này,
chúng ta cần ý thức rằng các tập đoàn cầm quyền thiếu văn hóa
và thiếu tầm nhìn là những tai họa cho sự tồn vong của các
quốc gia. Các chế độ độc tài bạo ngược giết chết các
quốc gia, càng tồi dở và độc ác bao nhiêu chúng càng giết
chết nhanh chóng các quốc gia bấy nhiêu.
1.6. Những
liên minh ý thức hệ nhường chỗ cho những hợp tác phát triển
Sự sụp đổ của khối
cộng sản đã chấm dứt tranh chấp tư bản - cộng sản và làm
mất vai trò của các liên minh ý thức hệ. Thay vào đó đã xuất
hiện những liên minh có mục đích kinh tế, nổi bật nhất là các
kết hợp khu vực. Thế giới đang dần dần được phân chia thành
một số tập hợp địa lý lớn trong đó các quốc gia vừa cạnh
tranh với nhau vừa nương tựa lẫn nhau trong cuộc thi đua với
phần còn lại của thế giới. Trong lòng các tập hợp này các biên
giới quốc gia, các hàng rào quan thuế càng ngày càng mờ nhạt đi,
sự di chuyển của người, hàng hóa và tư tưởng càng ngày càng
dễ dàng. Biên giới giữa ngoại giao và ngoại thương càng ngày càng
khó xác định. Các quốc gia tìm mọi cơ hội, dựa vào mọi lý do
- tôn giáo, ngôn ngữ, đồng dạng về sản xuất, v.v. - để thắt
những mối bang giao, tạo những liên hệ hợp tác, thành lập các
liên minh. Trong thế giới ngày nay cô lập là chết. Các quốc gia
không muốn hay không có phương tiện để tham gia và vận dụng
những liên hệ hợp tác này kể như tuyệt vọng, vì bị gạt ra
ngoài lề sinh hoạt của một thế giới liên lập.
2. Các nước
chưa phát triển và bối cảnh thế giới mới
2.1. Hai bất
lợi lớn
Bối cảnh thế giới
hiện nay chứa đựng hai bất lợi lớn cho các nước chưa phát
triển như Việt Nam.
Một là, sự giải thể
của phong trào cộng sản thế giới tuy là điều rất đáng mừng,
nhưng cũng đặt ra những vấn đề nghiêm trọng cho các nước
chậm chân lỡ bước. Phong trào cộng sản thế giới đã là thảm
kịch cho nhiều dân tộc nhưng cũng đã có tác dụng răn đe các cường
quốc tư bản trong cách đối xử với các nước chậm tiến. Với
sự biến mất của khối cộng sản, thế giới ngày nay gần
giống như một quốc gia không có đối lập. Các nước kém mở
mang sẽ gặp nhiều khó khăn mới. Chúng ta sẽ không còn phải lo
ngại tệ chiếm đóng, thống trị và vơ vét tài nguyên của
những thế kỷ trước nữa, nhưng cảnh lớn nuốt bé, mạnh hiếp
yếu là điều chắc chắn vẫn có và còn có cơ nguy gia tăng.
Những dân tộc phân hóa, chia rẽ, thiếu sáng kiến, chậm thích
nghi sẽ là nạn nhân của trận đấu mới. Lần này sự chèn ép
sẽ không trắng trợn và dã man mà diễn ra theo những qui luật
hợp pháp.
Hai là, những tiến bộ
dồn dập và trọng đại trong ngành vi điện tử và ngành tin học
đang đưa tới một trào lưu tự động hóa càng ngày càng cao
khiến cho nhân công rẻ không còn là một yếu tố tự nó đủ
sức thuyết phục để lôi kéo đầu tư nữa, các nước kém mở
mang đang mất dần đi một vũ khí chiến lược. Chính trị ổn
vững, trật tự bảo đảm, luật pháp giản dị, thuế khóa nhẹ
nhàng, điều kiện địa lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ
lớn, nguồn nhân lực có kỹ năng và hiệu năng là những vũ khí
chiến lược phải có để tranh thủ đầu tư quốc tế. Đó lại
thường là những yếu tố mà các nước kém mở mang khó hội đủ.
2.2. Bốn
thuận lợi
Ngược lại, bối cảnh
thế giới mới cũng có những lợi điểm mà các nước kém mở
mang có thể vận dụng.
Một là, các chế độ độc
tài sẽ không còn được dung dưỡng vì những liên minh ý thức
hệ nữa và dần dần bị đào thải. Các dân tộc sẽ được
cởi trói, nhiều sinh lực sẽ được giải tỏa, các quốc gia sẽ
được quản trị một cách hợp lý hơn, dù là sau một thời gian
dọ dẫm. Sự đào thải của các chế độ độc tài là may mắn
rất lớn cho các nước chậm tiến. Kinh nghiệm đã cho thấy mọi
chế độ độc tài đều độc hại. Dưới chiêu bài duy trì kỷ
luật và trật tự, các chế độ độc tài chỉ là những sào
huyệt tham nhũng và lạm quyền, cho phép những tập đoàn lưu manh,
thoái hóa kềm kẹp nhân dân và ngăn cản mọi tiến bộ.
Hai là, kinh tế trở thành
mối ưu tư hàng đầu của mọi quốc gia. Sự cạnh tranh gay gắt
giữa các nước giàu mạnh với nhau trong một thế giới mà ngôi
vị thay đổi không ngừng cũng khiến các công ty lớn và các nước
đã mở mang luôn luôn phải tìm những thị trường mới, những
vận hội đầu tư mới. Các nước kém mở mang nếu biết tạo
một bối cảnh xã hội ổn vững, những điều kiện kinh tế
thuận lợi, nếu không bị lên án và cô lập sẽ có khả năng tìm
được những nguồn hợp tác rất có lợi.
Ba là, do những tiến bộ
về truyền thông và giao thông vận tải, cũng như do dân số trên
trái đất càng ngày càng đông, thế giới đã nhỏ lại và các
quốc gia đều trở thành liên thuộc với nhau và lệ thuộc lẫn
nhau. Một ý thức mới đã ra đời theo đó trái đất là quê hương
chung của cả nhân loại. Mọi quốc gia đều cảm thấy nhu cầu
được sống trong một thế giới không bị đe dọa. Càng giàu có
và phát triển các dân tộc càng thấy cần phải đảm bảo những
thành tựu của mình bằng cách đóng góp cho một thế giới an bình
và ổn vững. Do đó dù muốn dù không, các nước giàu mạnh cũng
không thể để mặc các quốc gia khác sống trong sự bần cùng. Đây
không phải là một bắt buộc do lòng nhân đạo, mà do thế liên
thuộc mật thiết. Một thí dụ cụ thể là vấn đề môi sinh.
Chernobyl không phải đã chỉ là một tai họa của riêng Ukraine. Các
ống thoát khói tại ‰ên Độ không phải chỉ ô nhiễm không gian
của ‰ên Độ, do đó không phải chỉ là vấn đề của ‰ên Độ
mà là vấn đề của cả thế giới. Sự phá hủy rừng Amazon không
phải là vấn đề riêng của nước Brazil. Những ô nhiễm của vùng
biển Việt Nam là vấn đề của cả Đông Nam Á. Một thí dụ khác
là phong trào di dân từ các nước nghèo sang các nước giàu, đặt
cho các nước giàu mạnh hàng loạt những vấn đề nan giải. Thế
liên thuộc bắt buộc các nước mở mang tạo điều kiện giúp các
nước chậm tiến có cơ hội để phát triển. Sự tương trợ này,
dù chỉ xuất phát từ nguyện vọng của các nước phát triển là
khỏi phải sống trong một thế giới quá nhiều hiểm họa, cũng là
cơ may mà các nước thua kém có thể lợi dụng để vươn lên.
Bốn là, những đòi hỏi
về hạnh phúc và tiện nghi của các dân tộc đã mở mang tăng lên
mau chóng, có phần nhanh hơn cả đà phát triển kinh tế của họ.
Số giờ làm việc ngày càng giảm đi, lương bổng ngày càng tăng
thêm, các chi tiêu công cộng về xã hội, văn hóa, nghệ thuật,
tiện nghi sẽ tăng cao kéo theo sự gia tăng về thuế khóa. Dĩ nhiên
những phát minh mới sẽ không ngừng xuất hiện để hạ giá thành
xuống và nâng phẩm chất lên, nhưng trong thế giới truyền thông
hiện nay các phát minh này nếu xuất hiện ở các nước đã phát
triển cũng sẽ mau chóng được phổ biến sang các nước khác.
Cuối cùng khuynh hướng chung tại các nước có mức sống cao vẫn
là giá thành, tỷ lệ lợi nhuận và phần tái đầu tư của tổng
sản lượng quốc gia chênh lệch một cách bất lợi so với các nước
đang phát triển. Trong tình trạng này, nhân dân các nước kém mở
mang, vì ít đòi hỏi về tiện nghi và tiêu thụ hơn, sẽ có khả
năng chấp nhận những hy sinh và cố gắng hơn hẳn, do đó có
triển vọng cạnh tranh hữu hiệu với các nước mở mang. Chúng ta
có thể tiên liệu rằng, trước khi đi tới cạnh tranh về mọi
mặt, thế giới sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp khá dài
trong đó, nói chung, các nước vừa mới mở mang sẽ sản xuất
phần lớn hàng hóa và vật dụng trong khi các nước đã đạt
tới mức phát triển cao cung cấp phần lớn tư bản, dịch vụ, hàng
hóa phẩm chất cao và thiết bị sản xuất. Cho nên đối với
những quốc gia kém mở mang, từ nay cho tới một vài thập niên
nữa, sự cạnh tranh gay go nhất sẽ là sự tranh đua giữa chính
họ với nhau. Sự tranh đua này sẽ rất khó khăn đối với các nước
hoặc kém mở mang nhất, hoặc không thích nghi thật nhanh với tình
thế.
3. Việt Nam
trong bối cảnh thế giới mới
3.1. Nguy cơ
Trong một bối cảnh
quốc tế như vậy, tương lai của Việt Nam rất bấp bênh.
Mặc dầu trên nguyên
tắc nước ta đã có quan hệ bình thường với mọi quốc gia và
đã là thành viên của ASEAN, nhưng sự theo đuổi một cách ngoan
cố chủ nghĩa Mác-Lênin, những vi phạm trắng trợn về nhân
quyền và dân quyền, tệ quan liêu và tham nhũng, sự do dự trước
những cải tổ cần thiết và cách cư xử thô vụng trong những
giao thiệp quốc tế đã khiến Việt Nam lâm vào một thế cô lập
lớn trên thực tế. Việt Nam vắng mặt trong hầu hết mọi chương
trình hợp tác và cũng vắng mặt trên mọi thị trường quốc tế
quan trọng.
Chính sách mở cửa về
kinh tế thị trường được thực hiện từ 1987 đã cải thiện
một cách đáng kể mức sống của nhân dân nhưng đã mau chóng đạt
tới giới hạn của nó. Từ 1996 trở đi đà tăng trưởng đã
khựng lại sau quyết định xiết lại của đại hội 8 của Đảng
Cộng Sản Việt Nam. Dưới áp lực của những khó khăn ngày càng
gia tăng, đảng cộng sản gần đây đã phải chấp nhận một số
biện pháp cải tổ kinh tế, nhưng sự ngoan cố từ chối cải tổ
chính trị vẫn không cho phép Việt Nam ra khỏi trì trệ.
Ngoại thương của Việt
Nam, dù đã phần nào gia tăng, vẫn không đáng kể, đầu tư đã
thấp lại sút giảm trong những năm gần đây trong khi các quốc
gia khác không ngừng vận dụng mọi sáng kiến để thu hút tư
bản quốc tế dựa trên ưu thế sẵn có. Lợi tức quốc gia quá
thấp đã khiến chính quyền bỏ rơi giáo dục, cơ sở hạ tầng,
thiết bị sản xuất và ngay cả những ưu tư tối thiểu về lương
thực và sức khỏe cho dân chúng.
Chất liệu nhân xã của
chúng ta đã bị rách nát do những cuộc tương tàn kéo dài và
thảm khốc, do tinh thần bất dung và thù hận mà những cuộc
chiến này đẻ ra, do chính sách phân biệt đối xử mà đảng
cộng sản thi hành trong suốt thời gian qua, do chênh lệch giàu nghèo
quá lộ liễu và do sự nghi hoặc toàn diện của dân chúng đối
với các giá trị cơ bản của mọi xã hội.
Công nghiệp đã bị
quản lý một cách thô vụng lại còn phải chịu sự cạnh tranh
bất chính của hàng nhập cảng lậu thuế. Nhiều thiết bị sản
xuất đã cũ và lỗi thời nhưng vẫn chưa thay thế được. Nhiều
cơ sở hạ tầng hư hao mà không được tu bổ.
Trong những năm gần đây,
chúng ta chứng kiến một thảm kịch mới : đó là sự hao mòn ngay
ở nền tảng của đất nước. Cây rừng bị chặt phá để xuất
khẩu tống tháo lấy ngoại tệ, bờ biển bị ô nhi%ễm, đất nước
trở thành cằn cỗi, lụt lội và hạn hán kế tiếp nhau hàng năm.
Đất nước không những chỉ bị hủy hoại mà còn bị đem bán,
rất nhiều vùng đất có giá trị kinh tế chiến lược đã bị người
ngoại quốc mua mất.
Đồng thời tài nguyên quí
nhất của quốc gia là con người cũng bị xuống cấp một cách thê
thảm. Sức khỏe của nhân dân suy nhược vì thiếu dinh dưỡng,
thuốc men và chăm sóc. Các chứng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lan
tràn một cách báo động mà không có biện pháp ngăn chặn. Thanh
thiếu niên bỏ học hàng loạt. Trí tuệ dân tộc suy giảm nặng
với sự xuống cấp bi đát của hệ thống giáo dục. Tệ nghiện
ma túy ngày càng gia tăng. Cuộc sống khó khăn làm con người càng
ngày càng rời xa các giá trị căn bản của mọi xã hội : đạo
đức, lương thiện, thật thà, cần cù, kỷ luật, v.v.
Giềng mối của xã hội
cũng bị tan rã : bất công lộ liễu và thách đố, trộm cướp hoành
hành công khai, buôn lậu trở thành một phong trào quốc gia, tham nhũng
trở thành một thông lệ, sự dối trá, giật giọc trở thành
một nếp sống.
Trước thực trạng nguy
ngập đó, nhà cầm quyền thay vì dồn mọi cố gắng để cứu nước
lại áp đặt làm mục tiêu hàng đầu việc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, một chủ nghĩa đã bị cả thế giới, kể cả các nước đã
khai sinh ra nó, từ bỏ và đã bị nhân dân Việt Nam coi là nguyên
nhân của tình trạng bi đát hiện nay. Nhà nước cộng sản đã
thất bại trên mọi phương diện và trong tất cả mọi địa
hạt, nhưng vẫn tiếp tục cầm quyền như một thách đố với nhân
dân và không những thế, còn khẳng định quyết tâm giữ độc
quyền chính trị vô hạn định. Nhà nước cộng sản vì vậy là
một khiêu khích hàng ngày đối với nhân dân và một tai họa. Tai
họa đó kéo dài quá lâu đã khiến người dân, bất lực và chán
chường, không những chỉ ghét chính quyền mà còn dần dần mất
cả lòng tin vào đất nước. Mỗi người tự luồn lách để tìm
những giải đáp cá nhân cho những vấn đề cá nhân. Mộng ước
của rất nhiều người Việt Nam ngày hôm nay là được rời khỏi
Việt Nam và làm công dân của một nước khác. Nhà nước mất
dần độc quyền bạo lực về tay các băng đảng trộm cướp và
xã hội đen, và ngày càng mất quyền thu thuế do tình trạng buôn
lậu và tham nhũng. Chúng ta đang tiến dần tới sự giải thể
quốc gia. Chúng ta phải thét lên tiếng thét báo động. Nếu đà này
tiếp tục, ý niệm quốc gia có lúc sẽ mất hết nội dung, các ý
đồ ly khai, tự trị sẽ xuất hiện và tăng trưởng, các thế
lực ngoại bang sẽ ngày càng có điều kiện khuynh loát chúng ta,
trong một thế giới mà ý niệm quốc gia dân tộc đang bị chất
vấn. Sự tồn vong của chính đất nước ngày càng không chắc
chắn.
3.2. Triển
vọng
Ngược lại, chúng ta cũng
có những căn bản tốt có thể và cần được sử dụng triệt để
cho cố gắng phục hưng.
Chúng ta có một ngôn
ngữ đồng nhất trong cả nước, một ngôn ngữ dễ học và khá
đầy đủ để chuyên chở mọi kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ
thuật.
Chúng ta có một dân số
khá đông đảo, gần 80 triệu dân, đứng hàng thứ 13 trên thế
giới. Dân số đông đảo này tuy là một trở ngại lớn cho cố
gắng nâng cao mức sống nhưng cũng là một sức mạnh. Người
Việt Nam ta minh mẫn và siêng năng trên mức trung bình. Trong quá
khứ chúng ta đã chứng tỏ khả năng tiếp thu mau chóng các khoa
học và kỹ thuật mới nhất ; sinh viên Việt Nam đã thành công đông
đảo và mỹ mãn trong những cuộc thi tuyển khó khăn tại mọi
quốc gia trên thế giới ; thợ Việt Nam học nghề mau chóng và
được sự thán phục của mọi người. Những người Việt Nam di
tản ra nước ngoài cũng đã chứng tỏ một khả năng thích ứng
xuất sắc với điều kiện sinh hoạt hoàn toàn mới. Có thể nói
chúng ta là một dân tộc tinh anh. Một vốn liếng như vậy dù có
bị soi mòn đến đâu đi nữa cũng không thể mất hẳn trong vòng
một hai thế hệ. Nếu tìm ra được tổ chức xã hội hợp lý con
người Việt Nam có thể phục hồi được. Và một khi con người
Việt Nam đã được phục hồi chúng ta sẽ có một tài nguyên nhân
lực rất hùng hậu.
Trong suốt dòng lịch sử
khó khăn nhưng oanh liệt, người Việt Nam đã biểu lộ một
nguyện vọng tha thiết muốn giữ nước để sống chung với nhau và
xây dựng cùng nhau một tương lai Việt Nam chung. Lòng yêu nước
của người Việt dù đã rất suy giảm vì thất vọng và bực
bội vẫn còn có thể khôi phục. Dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ
một sức sống phi thường, đã thắng được nhiều thử thách vô
cùng cam go. Chúng ta vẫn còn đủ sức để vượt qua thử thách hôm
nay nếu biết kịp thời trấn tĩnh.
Chúng ta có một địa lý
vô cùng thuận lợi. Đất đai của ta tuy hẹp nhưng phì nhiêu, nông
nghiệp của ta nếu hoạt động một cách hợp lý không những có
khả năng sản xuất đủ lương thực cho dân chúng mà còn có khả
năng xuất cảng. Bờ biển của ta dài và đẹp, nước ta nằm ngay
sát nhiều trục giao thông quan trọng và ở ngay giữa một vùng đang
phát triển mạnh mẽ có tất cả mọi triển vọng để trở thành
một trung tâm kinh tế chiến lược lớn của thế giới. Chúng ta có
tiềm năng của một quốc gia rất lớn về du lịch, công nghiệp và
thương nghiệp. Sự chuyển hóa về dân chủ gần đây của các nước
Đông Nam Á cũng là yếu tố tích cực mới, tạo ra một bối
cảnh ngày càng lành mạnh và văn minh, có tác dụng thôi thúc đối
với mọi người Việt Nam.
II.Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
III.Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới
V. Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên
VI. Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên
VII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII. Vì đất nước hôm nay
và ngày mai :
chung một giấc mơ Việt Nam