|
ĐỔI MỚI “GỌI LÀ” VÀ ĐỔI MỚI “THỰC SỰ”
Tôn Thất Thiện
Cần biết về
tác giả
Đây là
một tác phẩm đặc biệt về chế độ cộng sản Việt Nam. Đặc biệt không phải vì nó
đề cập đến những vấn đề mới, đưa ra những dữ kiện và những quan điểm mới về
chế độ đó. Những vấn đề, dữ kiện, và quan điểm này đã được nói đến nhiều
trong 30 năm qua rồi, nên bàn về chúng không có gì đặc biệt. Cái đặc biệt là
tính cách chính xác của những dữ kiện và nhận xét được đưa ra. Đây là đặc điểm
của tác phẩm, và đặïc điểm này có được vì tác giả là một người đặc biệt :
ông có đồng thời một số điều kiện cần thiết để viết ra những điều rất chính
xác khó phản bác được về chế độ đó. Điểm này làm tôi nhớ đến một câu của nhà
văn hào Pháp André Gide : "La beauté est dans le regard, non dans la chose
regardée". Cái đặc biệt là ở nơi tác giả, không phải nơi tác phẩm ! Vì vậy,
để hiểu tác phẩm, cần biết về tác giả.
Tôi đã được
biết đến anh Võ Nhân Trí cách đây gần 40 năm, qua một tác phẩm của anh ấy,
vào khoảng đầu thập niên 1960. Lúc đó tôi đang làm luận án tiến sĩ ở Genève.
Ở thư viện trường tôi có một quyển sách nói về kinh tế của Việt Nam (sau này
được xuất bản với tít : La Croissance économique de la République
démocratique du Vietnam, 1945-1967, ELE, Hà Nội,1967), Tôi mượn về đọc.
Lúc đó, tôi không biết Võ Nhân Trí là ai. Nhưng đọc được lối 10 trang, tôi
liệng quyển sách đó xuống, vì nó sặc mùi "xã hội chủ nghĩa". Tôi kết luận rằng
Võ Nhân Trí là một "trí thức cộng sản". Gần 30 năm sau tôi mới gặp lại anh "trí
thức cộng sản" này, nhưng lúc đó anh chàng này lại sặïc mùi chống cộng...
Tôi gặp
anh Trí vào mùa hè năm 1988 ở Singapore, nhân dịp một hội thảo quốc tế lớn
về Việt Nam do trung tâm Information and Resource Center tổ chức. Lúc đó anh
đang là học giả được Singapore Institute of Southeast East Asian Studies mời
làm nhân viên nghiên cứu (Fellow), sau khi đã làm việc với tư cách đó trong
mấy năm ở Institute of Development Studies ở Tokyo. Lúc đó, giữa anh ấy với
tôi, không có gì ngăn cách, vì anh đã bỏ cộng sản.
Trong
thời gian ở Singapore, tôi có dịp tiếp xúc nhiều với anh Trí, hoặc trong
những buổi làm việc chung, hoặc trong những buổi tụ hội thân mật ở nhà trọ
của anh, hay chuyện trò khá dài và rất cởi mở ở bờ biển Singapore. Qua những
cuộc tiếp xúc đó, có hai điều làm tôi để ý :
1. Anh ấy
tỏ ra còn hận thù cộng sản hơn cả những người quốc gia chống cộng.
2. Anh ấy
có một sự hiểu biết về chế độ cộng sản Việt Nam sâu rộng hơn sự hiểu biết
của tất cả những tác giả đã viết về Việt Nam mà tôi đã đọc. Đây là điểm liên
hệ đến tính cách đặc biệt của tác phẩm cần được giải thích.
Muốn viết
chính xác và khó phản bác được về chế độ cộng sản Việt Nam phải thỏa mản mười
điều kiện, trong đó có ba điều kiện căn bản (2). Ba điều kiện đó là :
1. biết
rõ Đảng Cộng Sản Việt Nam từ trong ;
2. là một
người cộng sản tỉnh ngộ ;
3/ nằm
ngoài vòng truy hiếp của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.
Theo tôi
biết, hiện nay, anh Trí là một trong những người rất hiếm có hội đủ những điều
kiện trên đây, ngoài những điều kiện khác.
Anh Trí
là tiến sĩ Luật khoa (ban Kinh tế). Anh ấy đã được đào tạo tại những trường
quốc tế danh tiếng. Ở những nơi đó, anh đã được huấn luyện kỹ về phương pháp
sưu tầm, nghiên cứu khoa học. Luận án của anh ấy viết về kinh tế của một nước
cộng sản, tất nhiên anh phải nghiên cứu kỹ càng về các chủ thuyết Mác,
Lê-nin, cùng chính trị, kinh tế, xã hội của lịch sử cận kim. Anh đã được mời
làm việc tại các trung tâm quốc tế có uy tín. Điều này chứng minh là trình
độ học thuật và chuyên môn của anh được các giới quốc tế đánh giá rất cao.
Về hiểu
biết về cộng sản, anh là một người hiếm có, vừa hội đủ những điều kiện trên
đây, vừa là một người cộng sản, đã làm "cách mạng" với cộng sản trong 32 năm
: 8 năm với Đảng Cộng Sản Pháp (1952-1960), và 24 năm với Đảng Cộng Sản Việt
Nam (1960-1984). Ngay sau khi tốt nghiệp (năm 1960), anh quyết định hồi hương
để theo "cách mạng". Anh đã phục vụ ở Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, với
tư cách là chuyên viên trong Viện Kinh Tế ở Hà Nội và Viện Khoa Học Xã Hội ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Anh Trí
đã ở với cộng sản Việt Nam một thời gian rất dài, do đó anh có đủ điều kiện
biết rõ chế độ từ trong. Anh ấy tiết lộ với tôi rằng ngay sau sáu tháng đầu,
anh đã nhận thấy là anh lầm rồi, nhưng không thể công khai chống chế độ và
không làm được gì khác hơn là tiếp tục cho đến khi có cơ hội "nhảy" được.
Năm 1984 anh mới thực hiện được cuộc "nhảy" này. Và từ đó anh đã tích cực
tham gia cuộc tranh đấu cho dữ kiện trên đây là một điều may : nhờ chống chế
độ, tuy rằng chỉ chống ngầm thôi, anh Trí đã chú ý đến những khía cạnh tiêu
cực, xấu, "mặt thực" của chế độ, mà họ muốn dấu đi. Hơn nữa, với sự huấn
luyện anh đã hấp thụ được, anh biết rõ cần biết những gì, và tìm ở đâu để
hiểu rỏ chế độ cộng sản chỉ là một chuyên chính vô sản, một cụm từ mà anh
thích dùng để nói "chuyên chế vô sản".
Cuối cùng,
ở ngoài tầm truy hiếp của công an và những ủy viên kiểm soát tư tưởng của Đảng,
anh Trí được tự do nói hết được những gì mình muốn nói, hay thấy cần phải
nói lên, không bị vướng mắc nhiều ít vì lý do này hay lý do khác, như trường
hợp của những người tranh đấu ở trong nước.
Những chi
tiết trên đây được nhắc đến để nhấn mạnh tính cách đặc biệt của tác phẩm
Việt Nam Cần Đổi Mới Thật Sự. Hai chữ then chốt ở đây là "thật sự". Nó là
chủ đề của tác phẩm. Quyển sách này được sáng tác với một chủ đích rõ
ràng, là : đánh tan một số ngộ nhận về chế độ cộng sản hiện tại, nhất là
trong các giới Việt kiều và quan sát viên ngoại quốc. Anh Trí viết quyển
sách này để cảnh báo : lời cảnh báo "như một số người lầm tưởng" được nhắc
đi nhắc lại nhiều lần, cũng như cụm từ "cái gọi là", được gắn liền với các
danh xưng mà Đảng Cộng Sản Việt Nam thường dùng để che đậy thực chất của chế
độ : "chủ nghĩa xã hội đổi mới", "nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội", "nhà
nước của dân, do dân, vì dân", "dân chủ xã hội chủ nghĩa", v.v.
Anh Trí
đã vạch trần sự xảo trá của Đảng Cộng Sản Việt Nam về việc dùng "cái bẫy ngữ
nghĩa" (semantic trap) để lường gạt người khác về "đổi mới", và về bản chất
của chế độ cộng sản Việt Nam hiện tại. Với người ngoài, cộng sản Việt Nam
rêu rao "đổi mới", nhưng với nhau thì họ nhấn mạnh "đổi mới nhưng quyết
không đổi màu" ; họ thường tuyên bố về "tư nhân hóa", và "thành phần kinh tế
tư nhân", nhưng đó không phải là con đường rẽ để đi tới chủ nghĩa tư bản mà,
trái lại, là một con đường vòng để quá độ lên chủ nghĩa xã hội ; về căn bản,
chế độ hiện tại vẫn là một chế độ chuyên chính vô sản.
Có một điểm
nữa cần ghi là : khác với rất nhiều tác giả khác, anh Trí không nói bừa, hay
nói bâng quơ : tất cả những gì anh đưa ra đều tôn trọng nguyên tắc khoa học
"nói có sách, mách có chứng".
Kinh tế "đổi
mới" : vẫn là xã hội chủ nghĩa
Bây giờ
xin bàn đến cấu trúc và nội dung của tác phẩm.
Cấu trúc
của tác phẩm nói lên trọng tâm của tư tưởng anh Trí về vấn đề đổi mới. Sách
dầy 256 trang, chia làm ba chương : chương I nói về "Ý thức hệ của chính
sách đổi mới", chương II nói về "Đổi mới kinh tế", chương III nói về "Đổi
mới chính trị". Ba chương này không cân đối : chương I chỉ có hai phần, dài
30 trang ; chương II gồm ba phần, dài 40 trang ; chương III gồm mười phần,
dài 134 trang. Rõ ràng khía cạnh chính trị lấn áp hai khía cạnh ý thức hệ và
kinh tế. Lý do là anh Trí muốn đánh tan một quan niệm mà anh cho là sai lầm,
hấp tấp, lan tràn trong nhiều giới cho rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam "đã từ bỏ
chủ nghĩa xã hội" và đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Những giới này muốn
tránh né vấn đề chính trị. Anh Trí thì ngược lại. Anh đã bỏ rất nhiều công
để làm thật rõ quan điểm : đổi mới, thực sự, không phải là một vấn đề kinh
tế, mà là một vấn đề chính trị ; muốn đổi mới kinh tế, phải đổi mới chính
trị.
Về nội
dung thì, ở chương I, anh Trí nhấn mạnh rằng cơ sở ý thức hệ (hay "tư duy
chính trị") của chính sách "đổi mới" chỉ là "một sự chuyển hóa" từ chủ nghĩa
xã hội cổ điển sang cái gọi là chủ nghĩa xã hội đổi mới "theo kiểu Mác-Lê-Đặng"
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đã bắt chước "một cách mù quáng" mô hình Trung
Quốc, chứa đựng đầy mâu thuẩn khó dung hòa.
Về tư tưởng
Hồ Chí Minh, thì Đảng Cộng Sản Việt Nam nêu bật lên tư tưởng này không phải
vì họ muốn thay thế chủ nghĩa Mác-Lê đã lỗi thời bằng tư tưởng Hồ Chí Minh,
mà họ chỉ dùng uy danh của Hồ Chí Minh để lừa phỉnh nhân dân dễ dàng hơn, vì
ông này được coi như còn có ít nhiều bản sắc dân tộc. Nhưng, thật ra, cơ sở
ý thức hệ của ông Hồ chính là chủ nghĩa Mác-Lê. Ông vẫn coi nó là "học thuyết
đúng nhất, cách mạng nhất", và là "kim chỉ nam cho hành động".
Tư tưởng
Hồ Chí Minh có năm điều chủ yếu : 1. Mác-Lê là chủ nghĩa đúng đắn nhất ; 2.
lãnh đạo của Đảng phải tuyệt đối ; 3. áp dụng triệt để "chuyên chế vô sản"
kiểu Mác, Lê-nin, Stalin ; 4. tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội ; 5. giữ vững
tinh thần quốc tế vô sản.
Trong
những điều trên đây, chủ trương tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là "nguyên
nhân" (3) của cuộc khủng khoảng toàn diện, khủng khoảng tổng thể của xã hội,
khủng khoảng tất cả các lãnh vực... : kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức,
tư tưởng và chính trị. Phần khác, "tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội" là "sai
lầm to lớn nhất của Hồ Chí Minh trong lãnh vực kinh tế". Anh Trí kết luận
rằng : "nếu dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh" để hổ trợ cho chính sách "đổi mới"
chính trị thì phải nói thẳng ra là "có đổi nhưng không có gì mới !".
Khía cạnh
"Đổi mới kinh tế" được bàn đến ở chương II. Anh Trí nhận xét rằng trước năm
1986, Việt Nam "lâm vào khủng khoảng suy thoái trầm trọng" vì Đảng Cộng Sản
Việt Nam đã "bắt chước một cách máy móc mô hình xã hội chủ nghĩa theo
kiểu Stalinít-Maoít". Đại hội 6 của đảng cộng sản đã đưa ra chính sách
"đổi mới", bỏ chế độ bao cấp, và chấp nhận một nền kinh tế "nhiều thành phần".
Đến Đại hội 7, đảng cộng sản lại nói rõ rằng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
phải "vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội 8 lại nhấn mạnh thêm rằng nền kinh tế
nhiều thành phần phải "nhằm mục đích xây dựng xã hội chủ nghĩa" chớ không phải
đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt
Nam đưa ra từ đầu năm 1990 "cũng là sao chép mô hình kinh tế thị trường của
đảng cộng sản Trung Quốc".
Đặc điểm
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng Sản Việt
Nam chủ trương là kinh tế quốc doanh. Theo giáo điều, "Đảng Cộng Sản Việt
Nam không chấp nhận việc để bất cứ ai tham gia vào việc phát triển lực lượng
sản xuất mà chỉ để dành việc này chủ yếu cho kinh tế quốc doanh mà thôi". Như
thế, mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng, anh Trí nói, cái
"kẹt" là ở chỗ đó : kinh tế quốc doanh làm ăn tồi quá, không phát triển lực
lượng được bao nhiêu trong nhiều năm qua. Bế tắc chính là "cái lô-gích của
Đảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đến nghịch lý như vậy".
Anh Trí
ghi nhận rằng trong 25 năm từ Đại hội 4 (1976) đến Đại hội 9 (2001), các cấp
lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định là với chính sách "công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa" - mà họ cho là ưu việt hơn công nghiệp hóa tư
bản chủ nghĩa - Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại, nhưng "thực
tế hoàn toàn phủ định tham vọng này". Năm 1976, Lê Duẩn tuyên bố Việt Nam
"đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa để đưa nền kinh tế nước ta từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa... trong vòng 20 năm", nghĩa
là năm 1996. Nhưng năm 1996, Đại hội 8 lại khẳng định là chỉ trong vòng
20 năm nữa, nghĩa là năm 2015, Việt Nam mới trở thành một nước công nghiệp
hiện đại hóa. Đại hội 9, năm 2001, lại khẳng định là mục tiêu đó sẽ đạt được
vào năm 2020... Các mô hình mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã áp dụng từ 1976 đến
nay đều thất bại, đẩy công nghiệp Việt Nam "vào bước suy thoái chưa từng
có", và "đang dẫn đến bế tắc". Máy móc, thiết bị của các doanh nghiệp nhà nước
của ta "lạc hậu so với thế giới và khu vực từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30
năm..., trình độ cơ khí hóa, tự động hóa dưới 10%, mức độ hao mòn hữu hình
từ 30 đến 50%". Trên đây là những nhận xét mà anh Trí trích của chính
những chuyên gia của chế độ.
Theo một
chuyên gia của Đại học trứ danh Harvard, giáo sư David Dapice, thì nếu tăng
trưởng của Việt Nam trong tương lai chỉ là 6%/năm thôi thì GDP/đầu người của
Việt Nam trong 20 năm nữa (2022) cũng chưa đạt được một nửa GDP/đầu người
của Thái Lan năm 1999. Và nếu mức tăng trưởng của Việt Nam là 10%/năm
thì chỉ đến năm 2019 GDP/đầu người của Việt Nam mới vượt GDP/đầu người của
Thái Lan vào năm 1999 !
Điều đáng
chú ý, anh Trí nhấn mạnh, là "kinh tế Việt Nam hiện nay là một nền kinh tế
hỗn hợp tích lũy các khía cạnh tiêu cực nhất, vừa của chủ nghĩa xã hội
hoang tàn, vừa của tư bản hoang dại, theo kiểu Trung Quốc". Cơ bản, kinh tế
Việt Nam vẫn là một kinh tế xã hội chủ nghĩa, trong khi Việt Nam là một
nước lạc hậu. Quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và sự lạc hậu là một "quan hệ
nhân quả". Nguyên nhân trực tiếp của sự lạc hậu của Việt Nam là chủ nghĩa xã
hội.
(Còn tiếp một
kỳ)
Tôn Thất
Thiện
(Ottawa, tháng
3-2004)
Chú thích :
(1) Đông
Á, 2147 Commercial Drive, Vancouver, B. C., V5N 4B3, Canada. Tel : 604-251.
2222, Fax : 604-251. 2279.
(2) Vì thiếu chỗ, không thể
kê hết mười điều kiện đó được. Trong bài này chỉ có thể nói đến ba điều kiện
quan trọng và đặc biệt nhất cho các tác phẩm nói về Việt Nam.
(3) Trong bài này, trừ một
số ít sẽ được báo riêng, tất cả các gạch đậm và nhấn mạnh là của anh Võ Nhân
Trí. |