[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Phong trào dân chủ

Hành động và tầm vóc

Phạm Việt Vinh

      Trong buổi họp mặt góp ý cho Hội đồng lý luận trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 18-7-2003, ông Đặng Quốc Bảo - trung tướng, nguyên ủy viên trung ương đảng cộng sản, nguyên bí thư thứ nhất Đồn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh - kể lại rằng khi được hỏi : "Bảo ơi, mày thấy triều đại cộng sản còn tồn tại đến bao giờ ?", đã nói như sau với "một vị lãnh đạo ở cấp rất cao" của Đảng Cộng Sản Việt Nam trước khi ông này nhắm mắt qua đời : "Những vai trị đối chọi sớm muộn sẽ xuất hiện, điều đó không tránh được", và nhận định : "Trước 15, 20 năm chưa có khả năng xuất hiện lực lượng đối trọng, nhưng sau 15, 20 năm thì chúng ta [Đảng Cộng Sản] phải cẩn trọng chuyện này...".

     Đối với ban lãnh đạo đảng cộng sản, lực lượng đối trọng, đối lập, dân chủ đã, đang và sẽ là những vấn đề hết sức đau đầu cả về lý luận và thực tiễn. Nếu thấy rằng : tất cả những nhân tố không cộng sản, không đồng nhịp với ý thức hệ và chủ trương, đường lối của nhà cầm quyền cộng sản là một sự đối trọng, thì ngay từ khi ra đời, chế độ cộng sản Việt Nam đã phải đối mặt với một số đông đối trọng áp đảo - bao gồm tồn bộ dân số Việt Nam (không kể trẻ em) ngồi Đảng và Đồn cộng sản. Mặc dù là một nhà lý luận cứng cựa và đầu óc cũng không đến nỗi quá "bê tông", nhưng ông Bảo, cũng như nhiều nhà lãnh đạo đảng cộng sản, vẫn cố tình nghó rằng ở Việt Nam họ chưa có đối trọng. Kết luận này có thể hoặc là do suy nghĩ chưa tới nơi tới chốn, hoặc là do cái số lượng đối trọng kia tuy đông đảo nhưng lại quá yếu về chất lượng, đã hồn tồn không sản sinh ra một thế lực, một sức mạnh đối trọng đáng kể và cuối cùng, để cho hơn hai triệu người (mang danh) cộng sản kia tha hồ làm mưa, làm gió. Cũng có thể, ông Bảo cùng với các "đồng chí" lãnh đạo cao cấp khác của ông thực sự kinh lo, gớm sợ nếu phải gọi ra cái bản chất, cái nhân lõi bắt buộc phải có của một sự đối trọng thực thụ và văn minh - đó là sự ra đời của các tổ chức đối lập.

     Thực tế, trong mọi vật thể và mọi đời sống, bao giờ cũng tồn tại sự đối trọng - nó đảm bảo cho sự tồn tại, cân bằng lâu dài hay tạm thời của đời sống và vật thể. Trong khi đó, đối lập lại là một khái niệm hồn tồn mang tính chính trị, mô tả cấu trúc xã hội. Đối lập ổn định xã hội một cách lành mạnh ; nhưng tính trội của nó là phá thế cân bằng ù lỳ, là kiểm sốt, cạnh tranh, là thay thế, cải tổ để thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Đảng cộng sản - với những tàn dư lạc hậu quá nặng nề, đã và đang cố ý gian lận lẩn tránh cả sự đối trọng trong tâm thức, đồng hóa đảng cộng sản với tồn bộ dân tộc, và trên hết cả là đã và đang lo sợ, căm thù và tìm mọi cách để ngăn chặn, đánh phá trào lưu đối lập. Mặc cho những lý luận gian manh, nhiều khi được che đậy bởi những lý lẽ có dáng vẻ uyên bác (như thuyết "dân chủ một đảng" đã sủi bóng một thời), tất cả những ai lành mạnh đều phải nhận thấy rằng : đối lập chính là xương sống của một nền dân chủ thực sự. Đó là vấn nạn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng, nhìn kỹ hơn nữa, từ bất đồng trong tâm thức, chống đối trong hành động để tiến tới một lực lượng đối trọng, một tổ chức, cơ cấu đối lập lại là một quãng đường gian khổ và khá dài. Đây lại là vấn nạn cho những người đang tranh đấu cho dân chủ của Việt Nam.

     Mọi suy nghĩ nghiêm túc đều cho rằng : vấn đề lớn nhất, bước tiến bắt buộc nhất cần phải giải quyết hiện nay là chúng ta cần phải có một lực lượng dân chủ có tầm vóc. Cột trụ và sức mạnh chiến thắng ở đây có hai vế : Dân chủ và Tầm vóc. Một tổ chức chống đối mạnh mẽ về nhân lực nhưng không dân chủ cả về nội dung và ý tưởng, chắc chắn sẽ không có tương lai - nó chỉ hứa hẹn một sự tiếp nối phá phách và không thể nhận được hậu thuẫn của dân chúng. Một tổ chức sinh hoạt lành mạnh với những ý tưởng dân chủ, lý luận khoa học và sắc bén, nhưng không đủ sức để tạo ra một lực lượng đối kháng mạnh thúc đẩy tiến trình thay đổi đất nước, sẽ chỉ có những hoạt động "tháp ngà", "sa-lông", và nói chung, chỉ là những "think tank" góp ý cho các nhà hoạt động chính trị - kể cả cho ban lãnh đạo đảng cộng sản. Nếu không được đi đôi với thực tiễn của một số ít tổ chức dân chủ hành động, thì hàng loạt những ý kiến, tạp chí chính trị xã hội uyên bác được đăng tải tại hải ngoại từ trước tới nay, nói một cách phóng đại, cũng chỉ có công lao như vậy. Thực tế đã cho thấy, những đóng góp này đã không có tác dụng nhiều cho việc hình thành một thế lực dân chủ đối kháng mạnh với chính thể độc tài hiện nay.

     Nhưng, thế nào là một tổ chức dân chủ có tầm vóc ? Khi cho rằng một hoặc vài tổ chức này là điều kiện tiên quyết để có thể dân chủ hóa Việt Nam, thì có lẽ, điều bắt buộc phải có là một định nghĩa khoa học và nghiêm túc về khái niệm này. Điều lý thú ở đây là một lần nữa, những người dân chủ Việt Nam lại phải sáng tạo. Định nghĩa về một tổ chức dân chủ đối kháng có tầm vóc không tồn tại sẵn trên thế giới ; một hình mẫu tương tự để tham khảo cũng không hề có. Đối chọi với Trung Quốc cộng sản là hai vùng đất Đài Loan, Hồng Kông giàu có và hàng chục triệu Hoa kiều trên thế giới cũng đã không tạo ra một tổ chức dân chủ đối kháng có tầm cỡ của người Hoa tại nước ngồi. Các hoạt động của Dalai Lama cũng chỉ mang đậm sắc màu tôn giáo và mơ ước tự trị của riêng người Tây Tạng. Đài Loan đã phải hủy bỏ chương trình ngân quỹ hàng chục triệu đô-la mỗi năm tài trợ cho các tổ chức chống cộng của Hoa kiều, và chuyển sang trợ giúp có giới hạn cho những hoạt động cụ thể nhưng nhỏ bé hơn về quy mô. Phong trào dân chủ tại Hồng Kông, vốn đã có gốc từ thời còn thuộc Anh, cũng có vẻ như chỉ đủ sức để vật lộn với ma lực Trung Cộng tại Hồng Kông. Rõ ràng phong trào dân chủ của Trung Quốc chưa mang lại một thí dụ đối kháng có hiệu quả từ hải ngoại. Sự bất lực của Đài Loan, của Hoa kiều trước vụ Thiên An Môn 1989 đã minh chứng cho điều đó. Trực diện với thể chế độc đốn của Fidel Castro là những tổ chức quân sự chống cộng nhiều tiền nhiều của (như Alpha 66) của người Cuba tại Miami. Nhưng khi sự trợ sức từ Hoa Kỳ bị rút, những tập hợp này chỉ còn vai trò nuôi dưỡng hận thù và chờ đón thời cơ, bầu nhiệt huyết quá "sục sôi Nam Mỹ" của các tổ chức Cuba lưu vong sẽ rất ít tương lai.

     Tóm lại, không kể đến Bắc Triều Tiên trong một vương triều cộng sản nguyên thủy kín mít, thực tế đối kháng tại các nước cộng sản cuối cùng như Trung Quốc, Cuba không thể đưa lại cho người Việt Nam tại hải ngọai những bài học thiết thực và trực tiếp. Lại một lần khó khăn, chúng ta phải tìm kiếm cho mình một con đường riêng, mang tải hết những đặc thù cơ bản của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai gần. Những ý kiến sơ bộ dưới đây sẽ không đề cập tới các vấn đề nhân sự, tài chính, cơ cấu... của một tổ chức dân chủ có tầm vóc. Chúng chỉ là những gợi ý ban đầu về những hoạt động cần phải có của một tổ chức như vậy. Cũng có thể, những yêu cầu hoạt động cơ bản này sẽ quyết định cơ cấu và quy mô của một tổ chức muốn đạt tới tầm vóc của một tổ chức dân chủ đối kháng mạnh, tiến tới vai trò một lực lượng đối lập lớn.

     Khi có dịp tiếp xúc, các câu hỏi đầu tiên của chính giới nước ngồi thường đặt ra cho những nhà hoạt động dân chủ Việt Nam là : Các ông là ai ? Các ông muốn cái gì ? Điều phải minh chứng ở đây là độ sâu về tư duy, độ cao về uy thế chính trị và khả năng hành động của một tổ chức. Chúng sẽ quyết định sự quan tâm hay phớt lờ của thế giới đối với tổ chức đó. Một câu trả lời chỉ lờ mờ chung chung, nặng tính tố cáo và kêu xin trợ giúp sẽ bộc lộ một tổ chức không có tương lai, chỉ đóng vai một nguồn cung cấp thông tin- nhiều khi là phiền nhiễu. Không ít quan chức cộng sản Việt Nam khi bị bí thế cũng lý sự : Ừ thì chúng tôi ngu dốt, lãnh đạo tồi dở ; nhưng nếu chúng tôi xuống, thì ai có khả năng thay, và liệu họ lèo lái đất nước có khá hơn chúng tôi không ? Một sự trả lời cũng lờ mờ chung chung, nặng tính tố cáo và hô hào dân chúng sẽ chỉ là biểu hiện của sự phàn nàn, uất ức, chứ hồn tồn không có khả năng thuyết phục được quyết tâm đòi đổi thay chế độ.

     Rõ ràng, đã đến lúc phong trào dân chủ phải chứng minh được khả năng lý thuyết và năng lực thực tiễn của mình. Và, hơn lúc nào hết, phải khẳng định rằng : Điều này chỉ có thể đạt được thông qua một tổ chức có tầm vóc lớn.

     Về mặt lý luận, phải có trình độ khoa học :

     - Chỉ ra nhu cầu tất yếu của việc xóa bỏ một cách hòa bình chế độ độc đảng hiện nay ở Việt Nam.

     - Xác định được những đường hướng cụ thể và khả thi để tiến hành dân chủ hóa Việt Nam.

     - Đưa ra được những chính sách cơ bản để xây dựng và phát triển đất nước.

     Về mặt thực tiễn, tổ chức này phải :

     - Tỏ rõ cho quốc tế, đặc biệt là những quốc gia và tổ chức có nhiều quan hệ và ảnh hưởng đến Việt Nam những quan điểm và hoạt động cơ bản của mình. Thực chất, đây là sự giới thiệu cho quốc tế một đối tác mới.

     - Bằng mọi cách, phổ biến rộng rãi cho mọi người Việt Nam những điểm cốt lõi về quan điểm và sách lược chính trị của mình để thực thi dân chủ và phát triển đất nước. Điều này phải mang lại cho tất cả người Việt một bức tranh tương phản, một dự án thay thế khả thi và tốt đẹp hơn chế độ hiện hành.

     - Có những hoạt động thiết thực và hữu hiệu trong việc liên hệ, bảo vệ và ủng hộ trực tiếp những nhân sĩ cũng như phong trào dân chủ trong nước.

     Thực tế, sự liên hệ trực tiếp với phong trào dân chủ quốc nội chính là mạch máu của một tổ chức dân chủ đối kháng từ hải ngoại. Nếu thiếu mối liên hệ này, tổ chức hải ngoại sẽ không thể đưa ra đường lối chính trị và sách lược đấu tranh đúng đắn ; và trên hết, rất khó có khả năng trở thành một thực thể chính trị nghiêm túc và có hiệu quả khi tình hình thay đổi. Liên hệ và bắt rễ trong nước đòi hỏi những cố gắng phi thường và không ít hy sinh ; vì vậy, những bước đi cụ thể đương nhiên phải là vốn báu nhưng bí mật của một tổ chức. Đồng thời, một tổ chức không gây được cảm tình sâu sắc, không tạo ra đuợc sự quý trọng thực sự của nhiều trí thức dân chủ trong nước, không làm cho chính quyền cộng sản e sợ, chắc chắn không phải là một tổ chức dân chủ có tầm vóc.

     Trong lịch sử cải cách, thay đổi xã hội từ trước tới nay, việc tuyên truyền sâu rộng tới quần chúng một đường lối chính trị mới bao giờ cũng là một nan đề. Hiện tại, nhiều người có vẻ bị chóang ngợp bởi những từ ngữ sang trọng như "vận động nhân dân", "phong trào quần chúng" mà quên đi rằng : Trong vật lộn với cuộc sống thường nhật, nhân dân số đông không bao giờ phải đảm lãnh trách nhiệm tư duy trừu tượng cho tương lai hay làm động cơ cho bất kỳ một cuộc đổi thay nào. Họ sẽ là lực tải cách mạng, là một sức mạnh vô địch chỉ khi nào thời cơ đã chín. Thực tế hàng chục năm qua cũng cho thấy, những cố gắng đến với quảng đại cộng đồng về mặt chính trị đã không thể mang lại kết quả xứng đáng. Những bức tranh xã hội Trung Quốc của Lỗ Tấn vốn bị Đảng Cộng Sản Trung Quốc thù ghét chính là do sự lột tả sâu sắc bản chất ỳ nặng của bất cứ một quốc gia nông nghiệp châu Á nào, tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Những thủ thuật thô bạo, nhiều khi chọc cười của Pierre Đại đế tại Nga không thể là bài học vô giá trị về vai trị bắt buộc của một lực lượng tiên phong trong một xã hội còn lạc hậu. Những phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ 20, và ngay cả cuộc Cách Mạng Tháng 8-1945 của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã chỉ được khơi ngòi từ một số ít những người trí thức - chứ không phải từ một phong trào quần chúng. Tập trung sức lực còn hạn chế lúc ban đầu để có ảnh hưởng đến những sinh viên, trí thức ưu tú, đó mới chính là sức mạnh nội lực của một tập hợp dân chủ có tầm vóc.

     Trong quan hệ tồn cầu hóa hiện nay, ý thức "tự lập, tự cường"- đặc biệt là với những cố gắng thay đổi bản chất xã hội, là một điều ngụy biện. Nhiều người quá e ngại ảnh hưởng "thao túng" của ngoại bang mà không thấy một điều là : Từ trước tới nay, mọi thay đổi chính trị cơ bản tại Việt Nam bao giờ cũng do những tác động hết sức trực tiếp từ bên ngồi. Tạo lập quan hệ một cách thông minh, tranh thủ được sự trợ giúp mọi mặt của chính giới và các tổ chức quốc tế chính là một ưu thế và là sức mạnh ngoại lực của một tổ chức dân chủ có tầm vóc. Không làm được hoặc lẩn tránh điều này là minh chứng của một tổ chức, một phong trào hoặc chưa đủ sức, hoặc chưa đủ tầm nhìn. Hoạt động trong khuôn khổ những công ước quốc tế, nhưng một tổ chức dân chủ có tầm vóc vẫn hồn tồn có khả năng trở thành một đối tác quốc tế khi nó bày tỏ được năng lực và tương lai chính trị của mình.

     Một tổ chức dân chủ mạnh nên làm, và có lẽ là phải làm, những công việc sau tại một số quốc gia quan trọng:

     - Hiện diện một cách công khai và chính thức. Sự hiện diện này ít nhất phải được thông qua một địa chỉ công khai cùng với lịch trình làm việc thường kỳ.

     - Phổ biến đến chính giới và truyền thông sở tại những quan điểm chính trị và sách lược đấu tranh cơ bản để dân chủ hóa và phát triển Việt Nam.

     - Kịp thời đưa ra nhận định, tuyên bố đối với những biến động, sự cố quan trọng tại Việt Nam và trên thế giới. Việc này không chỉ giới hạn trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, mà phải trải rộng ra mọi lĩnh vực quan trong (ví dụ như không phải chỉ tuyên ngôn về vụ Thái Bình, Tây Nguyên, đàn áp các nhân sĩ dân chủ... mà phải có cả nhận định về vụ 11-9 tại New York, về chiến tranh Iraq, về Hiệp ước biên giới Việt Trung, về dự án nhà máy điện nguyên tử tại Việt Nam...).

     - Thường xuyên tổ chức những buổi tiếp xúc với truyền thông và chính giới quốc tế trong nhiều hình thức gặp gỡ, hội thảo để trao đổi các vấn đề các bên cùng quan tâm.

     Nhìn chung, hoạt động quan hệ quốc tế của một tổ chức dân chủ mạnh phải làm bật câu trả lời cho vấn đề "Who is Who". Tuy đang ở tình thế đối kháng, nhưng tổ chức này không được phép chỉ dừng lại ở chất lượng phản kháng, chống đối, mà phải tiến xa hơn đến tầm vóc của một tổ chức đối lập thực sự - tức là đã phải có những phương sách cụ thể xây dựng dân chủ và phát triển quốc gia. Thông qua sự hiện diện quang minh chính đại, với những ý tưởng và đường lối chính trị khoa học khả thi và có sức thuyết phục cao, với những nỗ lực đối thoại, một tổ chức dân chủ chắc chắn sẽ nhận được ủng hộ của quốc tế và những nhân tố cải tổ Việt Nam. Và, cũng chỉ thông qua những bước đi như vậy, phong trào dân chủ Việt Nam mới tiến được đến đích cuối cùng.

     Tất cả điều kiện trên đây đòi hỏi những cố gắng suy nghĩ nghiêm túc, kỹ lưỡng hơn của mọi người yêu dân chủ thực sự. Nó bắt buộc phải cần một sự kết hợp thông minh nhưng kiên quyết của nhiều tổ chức và nhân sĩ, chuyên gia còn tản mát hiện nay. Nhưng hình như, điều này lại chính là một nan đề. Nếu nan đề này không được giải quyết nhanh, phong trào dân chủ Việt Nam sẽ vẫn chỉ là những ý tưởng tốt đẹp trong một khối đông "đối trọng" nhưng hồn tồn không có khả năng đối kháng với độc tài và tranh đấu cho dân chủ với tư cách một thế lực đối lập thực thụ. Như thế, e rằng, ông Đặng Quốc Bảo có thể có lý : dân chủ Việt Nam còn phải chờ thêm 15, 20 năm nữa !

Phạm Việt Vinh (Berlin)

 

  [an error occurred while processing this directive]