|
Độc Lập và Tự Do
Nguyễn Mừng
Lúc
sinh thời chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh có nói một câu
mà ai cũng cho là chí lý. Ông bảo : "Không gì quý hơn độc lập và tự do".
Đúng,
không có gì khổ hơn phải làm dân một nước bị mất chủ quyền, và bị đối xử như
nô lệ, bị bóc lột để làm giàu cho dân nước xâm lăng. Cứ nhớ lại tình cảnh
dân Việt, dân Ấn, dân Nam Dương dưới thời đô hộ Pháp, Anh và Hòa Lan, ta
cũng thấy ngay không có độc lập thì không thể nào phát triển quốc gia và đem
lại bình an, hạnh phúc cho dân chúng được. Như vậy, độc lập là một trong
những điều kiện rất quan trọng để đem lại tự do và hạnh phúc cho dân chúng.
Tuy
nhiên, độc lập không thôi có đủ đảm bảo cho dân chúng được tự do hạnh phúc
không ? Cứ nhìn nước Iraq dưới thời Saddam Hussein, Bắc Hàn và Iran hiện tại
ta cũng đủ thấy độc lập dưới một chính thể độc đoán thì người dân vẫn bị kìm
kẹp, áp bức bóc lột và mất tự do như dưới ách thống trị của ngoại bang vậy.
Đằng
khác, có nhiều nước lệ thuộc vào nước khác mà người dân vẫn được sống hoàn
toàn tự do. Như Hồng Kông, trước khi sáp nhập vào Trung Quốc, vốn là một
thuộc địa của Anh. Đứng đầu chính phủ Hồng Kông lúc đó là một viên thống đốc
người Anh. Nhưng viên thống đốc này chỉ giữ một nhiệm vụ tượng trưng mà thôi,
còn bao nhiêu quyền lập pháp và hành pháp đều do những cơ quan dân cử đảm
nhiệm hết thảy. Vì vậy ta thấy từ khi người Anh biết thay đổi chính sách
thuộc địa của họ cho có tính cách dân chủ, người dân Hồng Kông vui vẻ sống
dưới luật pháp của Anh, và ta không hề thấy họ phản đối sự cai trị của người
Anh hay đòi tách rời khỏi đế quốc này bao giờ. Trái lại, từ khi hòn đảo này
sáp nhập vào Trung Quốc, thử đếm xem đã có bao nhiêu cuộc biểu tình đòi tự
do, dân chủ ?
Rõ
ràng độc lập không đủ đem lại tự do cho dân chúng, nếu không được kèm theo
một chế độ dân chủ, bảo đảm những quyền lợi căn bản của con người, như quyền
tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng v.v.
Nhiều
người cho rằng những quyền nói trên chỉ phục vụ một thiểu số trí thức và có
vẻ trừu tượng quá. Phần đông dân chúng chỉ cần được yên ổn làm ăn, họ không
cần đọc báo, không cần lập đảng phái, hội họp v.v. Những người đó không chịu
nhìn rõ sự thật. Trong một chế độ độc tài đảng trị người dân không bao giờ
được yên ổn làm ăn. Họ luôn luôn bị các cơ quan công quyền hạch sách, quấy
nhiễu. Chính vị thủ tướng (hay phó thủ tướng ?) nước Việt Nam cũng than
phiền rằng nạn tham nhũng rất trầm trọng, không làm sao trừ tiệt được. Thưa,
cách độc nhất để trừ tham nhũng là dân chủ hóa chế độ, để người dân có thể
phanh phui những tệ đoan của các viên chức nhà nước mà không sợ bị chụp mũ
là phá rối an ninh trật tự, hay phản loạn. Chính phủ Việt Nam đã ra bao
nhiêu thông cáo, chỉ thị cấm tham nhũng mà nạn tham nhũng có bớt đi được
phần nào đâu ? Rõ ràng cách duy nhất để bài trừ tham nhũng là cởi mở chế độ,
bãi bỏ nạn độc tài đảng trị.
Không
những dưới một chế độ độc tài, người dân thường hay bị áp bức, sách nhiễu,
mà những nước này thường chậm tiến hơn những nước dân chủ, trong đó người
dân có cơ hội phát triển mọi khả năng của mình.
Khỏi
cần lý luận dài dòng, cứ so sánh những nước cùng hoàn cảnh địa lý và nhân
văn như nhau, nhưng một bên được tự do, một bên bị cùm kẹp trong một chế độ
độc đoán, ta cũng thấy tình hình khác nhau xa. Cứ nhìn Nam và Bắc Hàn thì đủ
rõ : hai nước đó vốn cùng một quốc gia, một dân tộc, một văn hóa. Mà Bắc Hàn
lại được nhiều tài nguyên phong phú hơn. Vậy mà một bên thì phồn thịnh nhất
nhì ở châu Á, còn một bên thì lâm vào cảnh đói kém cùng cực. Lý do duy nhất
là vì họ sống dưới hai chế độ khác nhau. Khi nhìn chung những nước như Đài
Loan, Thái Lan, Mã Lai Á một bên, rồi nhìn Miến điện, Việt Nam một bên, ta
cũng thấy sự cách biệt như vậy.
Nguyễn
Mừng
(Champaign,
Hoa Kỳ)
|