|
Nghiêm Y
Về già,
Nhất Linh rất thích câu thơ này của ông : "Người đi đi mãi không về, Nhớ
người dòng suối Đa Mê gợn buồn". "Đi mãi không về", có lẽ chỉ bốn tiếng
ấy cũng đủ nói rõ cái nỗi lòng của người đi ; mà rồi trong bốn tiếng ấy
cũng chỉ hai tiếng đi và về là cần thiết. Đi. Về. Hai tiếng ngắn ngủi kia
mang một ý nghĩa rất lạ lùng, nó thở và hát lên những sầu khúc của đời người
; nó mở và đóng những cánh cửa đời lạnh lẽo của kiếp người. Nhất Linh đã đi
từ rừng lan Đà Lạt xuống Sài Gòn của khói và bụi, hay đi từ Hà Nội qua biên
giới, vào miền Nam. Hành trình của ông không còn ai mơ hồ lạ lẫm gì nữa, nó
đã đi vào lịch sử. Nhắc lại ở đây chỉ có ý nói rằng dù đi đâu chăng nữa,
những bước chân đời ấy cũng chỉ là những bước đi giữa cuộc sống có muôn
nghìn ràng buộc, những hệ lụy không thể dứt bỏ. Mặt khác, lại cũng có thể
mượn một câu nói đã cũ của Gide để nói đến khía cạnh khác của tâm sự Nhất
Linh và những Nhất Linh : "Đi là chết trong lòng một ít". Đi là đi khỏi, là
thoát khỏi cái ta, cái quê hương của ta. "Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi"
(1). Có phải thế không, thưa người đã khuất ? Có phải sống đã là một lần ra
đi sầu muộn nhất ? Đây là hai mặt của một tâm sự chung mà người trí thức
nghệ sĩ ấy đã thể nghiệm và đã phả ra trên những trang sách rải rác trên
bước đời bi tráng của ông.
Hơn một
lần Nhất Linh thể nghiệm rõ thân phận của một kẻ đào thoát chính mình : chọn
nghệ thuật, nhưng khi nhìn thấy cảnh tượng dân nghèo đói rách, những đứa bé
trần truồng không cơm áo, chui rúc trong ổ rơm bẩn thỉu, cố sống cầm hơi chờ
khi lớn lại kéo tiếp cái đời người nhem nhuốc của mẹ cha, Nhất Linh man mác
buồn cho mình : "Nghệ thuật, mục đích là để tìm cái đẹp, làm cho đời người
đẹp đẽ hơn, lúc đó đối với chàng chỉ là một sự mỉa mai đau đớn" (2). Nhất
Linh quăng cọ và sơn đi chỉ vì không muốn bị lôi kéo đi quá xa khỏi
lương tâm trí thức của mình. Ông chọn ngành kĩ sư hóa học để mong về sau có
thể làm được gì có ích cho đất nước, cho dân tộc mà ông yêu thương vô cùng.
Thế nhưng, khi về nước, ông kĩ sư lại chọn nghề dạy học và sau đó làm báo,
viết văn. Tấm bằng kia hình như chỉ giúp ông mỗi một lần : chọn liều lượng
độc dược đủ để tự kết liễu đời mình. Những chọn lựa hành động của Nhất Linh
cho thấy ít nhiều những ray rứt của người trí thức trước những vấn đề của
trách nhiệm, lương tâm. Có thể nói, ông đã thủy chung với lương tâm trí thức
của mình dù ở tư cách một giáo sư, môt nhà báo, một nhà văn, hay một nhà
hoạt động chính trị. Đấy là một phẩm cách cao quý mà truyền thống sĩ phu
đông phương đã hình thành trong dọc dài lịch sử.
Cuộc sống
có những đau khổ mang mang bắt buộc con người "phải mở mắt nhìn. Tuy đau đớn
thật nhưng lúc cần thì phải biết đau đớn" (2). Cứ nhớ lại khung cảnh xã
hội lúc Nhất Linh trưởng thành : một xứ lệ thuộc, một xã hội nghèo đói,
tham quan ô lại, cường hào ác bá. Phải nhìn kiếp sống ngựa trâu của một dân
tộc đói rách, phải chứng kiến những oan khiên do chế độ luân lí phong kiến
gây ra, phải mở mắt mà khóc cười theo vận nước ! Cuộc sống nhân gian chỉ gom
lại một tiếng khổ đau, và con người sống là sống với nỗi thống khổ ấy,
"những đau khổ ấy lại là những nỗi vui độc nhất của chúng ta bấy lâu"
(3). Phải sống với những kẻ thù, với những mưu mô quỷ quyệt để giành sống,
phải gần gũi với những li cà phê nước cốt thiệt đặc để át mùi thuốc độc.
Cuộc
sống nhân gian đó. Nhất Linh đã đi vào giữa lòng cuộc sống có quá nhiều hệ
luỵ đó. Có phải bước chân đi ấy đã thôi thúc một tiếng gọi về, để bật lên
tiếng kèn sầu "người đi đi mãi…" chăng, thưa người đã khuất ?
Dòng
suối Đa Mê có thực hay không, điều đó chẳng có gì quan trọng. Cũng đừng bận
tâm như ai đó về cái tên Đa Mê hay Đam Mê, một sự bận lòng cũng thừa thãi
không kém. Có thể, với mọi người, dòng suối Đa Mê có thực - và thực sự nó có
hình có vóc thật, ở một chỗ có thật trong một thành phố có thật. Nhưng có
hại gì nếu bảo rằng dòng suối Đa Mê không có thực ở trần gian, bởi đã là
trần gian thì chỉ có bụi bặm thôi chứ chẳng có chỗ dành cho một dòng suối
nào cả. Đó là nơi quê nhà mà những đứa con hoang đàng của Thomas Wolfe luôn
luôn tìm về. Nếu như Wolfe bận tâm đi tìm những ngọn đồi, những thành phố
núi cho những thiên thần lạc loài của ông (4), thì Nhất Linh không ngừng mơ
ước ngày về lại dòng suối hiền hòa tinh khiết hoa cỏ. Dòng suối có đó, nó
vẫn đợi người về, từ thanh xuân.
Tập
truyện ngắn Người quay tơ được viết xong từ năm 1927, khi Nhất Linh mới qua
tuổi gia quan. Trong đó có một truyện rất lạ nhan đề là "Giấc mộng Từ Lâm",
đại khái mô tả giấc mơ khác người của một chàng thanh niên mong được thoát
bỏ những vướng bận của một đời công chức thành phố để thoải mái tìm về một
vùng sơn dã u tịch nào đó, tự tay tạo tác một cuộc sống tự do, làm bạn với
thiên nhiên thênh thang không nghịch thù. Chàng thanh niên ấy hẳn đã hơn một
lần nghe thôi thúc một tiếng gọi về của quê nhà. Chàng hiểu rõ chàng chỉ là
một kẻ lạ mặt trong thành phố trần ai, quê hương của chàng phải ở nơi làng
Từ Lâm u tịch, hay nơi như Nhất Linh về sau này, ở nơi dòng suối Đa Mê xa
xăm nhưng rất quen thân.
Sau
này, bôn ba bao nhiêu năm với công cuộc xã hội, chẳng hiểu có khi nào đồng
chí của Nhất Linh được nghe những lời chán ngán với chính trị không, chứ
nhân vật của ông thì mệt mỏi quá sớm. Những nhân vật nặng lòng với đất nước
xã hội như Dũng trong Đoạn Tuyệt và Đôi Bạn, hay Thanh trong Giòng sông
Thanh Thủy chẳng hạn, đều là những con người dấn thân vào hoạt động chính
trị hay xã hội bằng niềm tin tưởng say mê vào lí tưởng vì người khác, vì
ngày mai của xã hội, đồng bào mình. Lí tưởng ấy người xưa gọi là "tấm lòng
lo trước" (Nguyễn Trãi) (5). Những con người như thế không làm cách mạng chỉ
để cho có việc, hay làm cách mạng để kiếm chút lợi danh. Thế nên dấn mình
vào con đường hoạt động, những con người dạt dào lí tưởng trong sáng không
khỏi buồn nôn vì không khí ô nhiễm, vì những âm mưu thù nghịch bẩn thỉu. Hơn
một lần, những «người hùng» làm quốc sự của Nhất Linh cảm thấy tâm trạng
chán chường của những kẻ lạc lõng : "Hay là ta bỏ cách mạng đi tìm thiên
thai, ở đây không ai nghĩ đến giết ai, không có ai cả ngày chỉ cố tìm những
mưu mô quỷ quyệt để hại kẻ khác, nếu không nhanh thì kẻ khác hại mình ngay ;
ở đây không có thuốc tiêm giết người, chỉ có cà phê em nấu ngon để anh uống,
không có cái thú cà phê nước cốt thiệt đặc để át mùi thuốc độc" (6). Người
đàn bà tên Thanh ấy đi hoạt động chính trị nhưng vẫn nặng tình đối với những
giấc mơ nhân đạo của những người quân tử xa xưa, hay là thái độ "bàn tay
sạch" của những con người trí thức bây giờ. Nàng không thể hiểu được tại sao
cùng hoạt động vì một mục đích chung là độc lập dân tộc mà người ta lại phải
thanh toán nhau, thù hằn nhau trên cùng chiến tuyến ; cho nên guồng máy đã
giam hãm con người như Thanh đến ngột ngạt. Cảnh huống ấy tất yếu là lí do
đưa nhân vật của Nhất Linh đến giấc mơ thiên thai.
Thiên
thai ? Đó là một quê hương xa vời, nhưng lại là cõi sống mà con người luôn
hướng về. Mơ trở lại thiên thai là muốn chối bỏ cái hiện thực trước mắt, là
muốn bỏ lại đàng sau cánh cửa đào nguyên những hành lí quá nặng của kiếp
sống : đó là trí nhớ của chúng ta. Người ta nói đúng lắm : trí nhớ là kẻ tội
đồ phản bội ở sau lưng giới hạn… Muốn về đào nguyên, người ta cũng nên bỏ đi
cái trí nhớ rất vội vàng thương tâm của mình để mà về lại quê nhà thánh
thiện với nụ cười vĩnh cửu và mắt xanh bất tuyệt. "Thiên thai là một thứ gì
đẹp lắm mà lòng ai cũng mơ ước, nhất là hiện giờ trên gần khắp thế giới
họ đương đâm giết nhau" (6). Người xưa đã từng miệt mài luyện thuốc linh đan
để mong một ngày cưỡi hạc bay về trời hay hoá làm con bướm tiêu diêu
giữa cõi vô cùng. Nhất Linh khiêm tốn hơn, ông đi tìm thiên thai ở hương bay
dìu dịu của hoa khế thoang thoảng về đêm, trong bụi mưa lung linh ở bến đò
Gió (3), cũng có khi là một sợi nắng khuya rất đỗi hiền lành : "Trăng mười
bảy và trời lại trong nên rải xuống mặt hồ một làn ánh sáng trông phảng
phất như một con đường dẫn lối về thiên thai… Con đường ánh trăng sáng này
nếu cứ đi theo mãi thì sẽ đến thiên thai" (6).
Hình
như chỉ có những nàng tiên mới biết được thế giới của họ mà thôi. Cứ theo
lời các nàng tiên và cả những người như Lưu Nguyễn thì thiên thai là nơi có
"ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian, có một mùa đào dòng ngày
tháng chưa tàn qua một lần" (7). Quê nhà đẹp đẽ ấy, hạnh phúc ấy là
những nàng tiên như Giáng Tiên (Đào nguyên truyện) hay Giáng Kiều (Bích Câu
Kì Ngộ). Những ngày tháng ở dưới trần gian chỉ là những ngày lưu đày, cho
nên họ không nguôi chờ đợi ngày trở lại thiên đường. Có lẽ chỉ mới thấy một
mình nàng tiên Bạch Viên của chúng ta (truyện nôm Lâm Tuyền Kì Ngộ) vướng
quá nhiều hệ lụy - hay gắn bó thiết tha ? - với trần gian mà không chịu trở
về quê, chọn ở lại đời này với chồng con. Quê hương xa xăm ấy là của những
nàng tiên. Và của những người trần gian muốn đi tìm hạnh phúc để rồi lại "được"
khổ vì hạnh phúc đó, như Từ Thức và Lưu Nguyễn ngày xưa.
Đã hơn
một chàng tuổi trẻ tìm dò theo bước chân đôi bạn Loan Dũng mà tìm thấy hương
vị hạnh phúc huyền diệu của chút hương hoa khế, hoa cau, của bến đò Gió lãng
mạn. Gánh nặng trần gian đẩy đưa họ gặp lại Nhất Linh ở tuổi về chiều. Vẫn
còn nhiều tình yêu thương, vẫn không nguôi ước ao con đường trăng mười bảy
dẫn về thiên thai. Bước chân giang hồ ít nhiều thấm mệt, nhân vật của ông
hăm hở rũ áo phong sương, lách vào cửa căn nhà mơ ước, mong tìm gặp được
dòng suối đợi chờ từ thanh xuân. Trong thoáng chốc, người nghe tiếng thở dài
của cánh cửa, tiếng chân vang vọng như tiếng chày vồ đập trên áo quan. Người
đã về với dòng suối rồi, "Thiên thai cũng là hư vô" (6).
Thiên thai chỉ là
hư vô !
Hay là
người không may ? Trần gian không có chỗ cho người như Thanh ; nhưng hiển
nhiên là nàng cũng không thấy được quê nhà của mình ở chốn thiên thai của
những nàng tiên. Con đường của Thanh chỉ là con đường đi tới trước, dẫn về
cõi tịch lặng vô cùng. Trong nỗi thống khổ của con người tìm về quê hương,
nhân vật của Nhất Linh bỗng nhiên ý thức một cách triệt để cái ý nghĩa sau
cùng của kiếp người. Đời sống chỉ là mơ, niềm vui cũng chỉ là mơ. "Thanh tự
nghĩ nếu có chết ngay lúc này, nàng sẽ không đau khổ. Hồn nàng sẽ hóa
thành một giấc mơ vui, rồi khi giấc mơ ấy tan đi là hết. Nàng chắc cả vũ trụ
này đến ngày tận thế cũng vậy, cũng biến thành một niềm vui bao la rồi cứ
thế hòa loãng, tan dần đi trong cái mênh mông của hư vô không có sự chết,
không có sự sống, mà ngay cả đến cái hư vô cũng không có nữa" (6). Cuộc sống
rút lại chỉ còn là mơ. Những vui thú, những thống khổ cũng chỉ là cơn mơ.
Sau đó là im lặng, một im lặng khôn nguôi.
Trong
cái ý thức tối linh của con người đạt đạo (vâng, Nhất Linh hẳn đã đạt đạo từ
khi nhìn thấy cánh cửa bước về im lặng) cả một kiếp người còn có ý nghĩa gì
đâu ; nó cũng chỉ như một sát na trong muôn nghìn sát na trùng trùng duyên
khởi.
Sau đó là im lặng. Ở cái phút con người về lại quê nhà cũ, không còn quá
khứ, hiện tại và tương lai ; thời gian trùng lên nhau, kêu lên cùng một
tiếng nhạc. Đứng trên ngọn núi cao, ném một bông hoa trà xuống vực sâu hay
giả dụ ném cả chính thân xác mình xuống cũng không khác gì nhau. "Hoa biến
vào vực thẳm, bước vào hư vô. Lúc nãy tôi muốn nhảy xuống là để biết vực
thẳm hư vô ra sao. Chắc cũng có cái thú của một hạt muối tan trong nước"
(6). Nỗi đau khổ của người đàn bà tên Thanh - người đàn bà bị canh bạc đời
lừa dối từ đầu : chồng bỏ, người yêu xa, guồng máy chính trị cuốn hút ngạt
thở - cuối cùng đã triệt tiêu vì nàng đã tỉnh giấc mơ đời. Giấc mơ xao động
vũ trụ trong một thoáng, như thể một hòn cuội vừa ném xuống nước. Rồi cũng
qua đi. Sau tiếng tiếng hét dài lạnh cả trời đất, thiên thai đã bừng nở
trong tâm hồn thiền sư Không Lộ. Sau cái xao động nhỏ, cuộc sống của Nhất
Linh cũng trở về im lặng. Như hạt muối đã tan vào tan vào đại dương, cái ngã
(atman) bé nhỏ đã về hoà nhập trong đại ngã vô cùng (Brahman). Sau phút giây
hòa nhập ấy, không còn gì nữa cả.
Đừng hỏi
thiên thai của Nhất Linh cứ phải là thế giới hạnh phúc quyến rũ của những
nàng tiên. Dòng suối mơ ước của Nhất Linh không hề là Đào Nguyên của các đạo
sĩ.
Trần gian phân chia thù nghịch. Nhưng cũng chính thời gian đưa ta về thiên
thai ở cuối đường trở về. Bỏ đời mà đi là về gần với cõi im lặng mênh mang
mà Nhất Linh tìm thấy ở hình ảnh dòng sông Thanh Thủy hay dòng suối Đa Mê.
Điều ấy cũng không mâu thuẫn với ý nghĩ nhân vật khác của Nhất Linh khi nói
về đất : "Hơi đất mát lắm" (3). Nhất Linh và những nhân vật của ông đã đi
hết con đường trăng mười bảy để về với hơi đất mát. Ở đấy có cánh cửa
dẫn về thiên thai. Về đến thiên thai nào có gì để nói nữa đâu ? Không còn gì
nữa cả.
Nghiêm Y
(London)
Chú thích :
(1) Vũ
Hoàng Chương, "Nguyện Cầu".
(2) Hai Vẻ Đẹp.
(3) Đôi Bạn.
(4) Look
homeward, Angel.
(5) Mượn ý
trong câu sách cổ : "Tiên ưu thiên hạ chi ưu, hậu lạc thiên hạ chi lạc" (lo
trước điều lo nghĩ của dân, vui sau niềm hoan lạc của dân).
(6) Giòng
Sông Thanh Thủy, tập 2 : "Chi bộ hai người" : tr. 103, 105, 106, 118, 119.
(7) Văn Cao,
lời hát "Thiên Thai".
|