|
Về
cái gọi là
Chính sách ngoại giao mới của Hà Nội
Bùi Tín
Tôi rất chú ý bài viết "Những dấu hiệu thay đổi chính sách ngoại giao của
Hà Nội" của ông Âu Dương Thệ, đăng trên tạp chí Dân chủ và Phát triển
(in ở Cộng Hòa Liên Bang Đức), số ra tháng 12-2003, đồng thời phổ biến rộng
rãi trên internet của Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam (http://www.dcvapt.org).
Nhận xét
đầu tiên của tôi là lập luận bài viết chưa có đủ cơ sở thực tế, nhận định
tình hình không được khách quan, khoa học, do đó còn thiếu tính thuyết phục.
Tác giả
cho rằng : mùa hè vừa qua, vào tháng 7 năm 2003, hội nghị Trung ương 8 của
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định thay đổi chính sách ngoại giao, thực
hiện ý định một chính sách "nhảy vọt" trong bang giao với Mỹ.
Và vài
tuần sau đó - vẫn theo nhận định của tác giả - đại sứ của Việt Nam ở nước
ngoài được triệu tập về Hà Nội để tham dự Hội nghị ngoại giao kéo dài gần 10
ngày, nhằm "giải thích cho các nhà ngoại giao Việt Nam chính sách mới của
Hà Nội đối với hai đối tác lớn và quan trọng", là Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Theo tác
giả suy luận, "đã có đột biến về tốc độ và mức độ trong các cuộc đàm phán"
giữa Hà Nội với Bắc Kinh và Washington !
Nếu quả
thật là như thế thì thật may mắn cho nước ta, thật đáng mừng cho nhân dân
ta. Nhóm lãnh đạo giáo điều, thủ cựu về chính trị đã thức tỉnh để đề ra một
chính sách đối ngoại mới mẻ, thực hiện "một bước ngoặt rất quan trọng",
"muốn mời Hoa Kỳ làm lực đối trọng ở Đông Nam Á trước áp lực của
Trung quốc", như ông Âu Dương Thệ nhận định. Tôi e rằng tác giả quá lạc
quan, vội vã, lấy mong ước làm thật, điều hết sức tránh ở những nhà khoa học
và chính trị có cân nhắc, thận trọng.
Tôi cố
tìm tiếp sau lập luận và nhận định trên những chứng cứ và biểu hiện có sức
thuyết phục, nhưng tôi không sao tìm thấy !
Ông Thệ
đã rất thích thú dẫn ra từ "đột phá" trong một câu của ông Hồ Xuân Sơn, vụ
trưởng Vụ châu Á 1 của bộ ngoại giao khi ông Sơn nói về kết quả đàm phán
vòng thứ 10 giữa hai thứ trưởng Lê Công Phụng và Vương Nghị tháng 1-2004, rằng
: "Đặc biệt, đàm phán về hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ và hiệp định hợp
tác nghề đánh cá Vịnh Bắc bộ giữa hai nước trong năm qua đã có tiến triển
mang tính đột phá. Hai bên tin rằng việc đàm phán sẽ sớm kết thúc để Quốc
hội hai nước sớm thông qua và có thể có hiệu lực từ tháng 6-2004…".
Từ đột
phá trong hội đàm Việt-Trung, ông Thệ suy luận đến đột biến, có nghĩa là
thay đổi về tốc độ và mức độ, trong cả quan hệ Việt-Trung lẫn Việt-Mỹ !
Những suy luận này mang tính chất hoàn toàn chủ quan, dễ dãi. Vì khi ông Hồ
Xuân Sơn dùng những chữ "tiến triển mang tính đột phá" mà không giải
thích gì thêm thì mỗi người có thể hiểu một cách khác nhau. Bên nào đã buộc
phải nhượng bộ bên nào ?
Xin hãy
bình tĩnh và tỉnh táo theo dõi tình hình. Bắc Kinh đã tỏ ra nhún nhường rồi
chăng, hay vẫn giữ thế hà hiếp và áp đặt như cũ ?
Xin nhớ :
ngay trước khi ông tướng Trà đến thăm Lầu Năm Góc thượng tuần tháng 11-2003
thì bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc đã xuất hiện trước ở đó rồi ; và gần đây
nữa, khi Đảng Cộng Sản Việt Nam họp hội nghị trung ương 9 dự định bàn về
thay đổi nhân sự ở cấp cao giữa nhiệm kỳ, thì đã thấy lù lù ông Vương Nghị
xuất hiện ở Hà Nội và có "đột biến" trong vấn đề biên giới và đánh cá
trong Vịnh Bắc bộ.
Ông Thệ
cũng tỏ vẻ thích thú với từ "nhảy vọt" mà ông đại sứ Mỹ R. Burghardt
dùng khi tiếp phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng : "Về giao thương giữa hai nước,
kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã có bước nhảy vọt,
từ 2,8 tỉ USD lên xấp xỉ 6 tỉ USD năm 2003".
Rõ ràng
nhảy vọt đây là về buôn bán hai chiều. Đang thích thú với những "đột phá",
"đột biến", "bước ngoặt" trong quan hệ toàn diện Việt - Mỹ,
ông Thệ liền gán luôn ý "nhảy vọt" (từ ngữ của đại sứ Mỹ Burghardt)
và chua thêm là "nhảy vọt trong bang giao với Mỹ". Không thể nhẹ dạ,
ngây thơ hay cố tình thay đổi nội dung những khái niệm khách quan đến như
vậy. Nhảy vọt trong buôn bán và nhảy vọt trong bang giao là hai khái niệm có
hàm ý khác xa nhau lắm !
Thật
tình trong mấy năm nay tôi theo dõi tình hình chính trị trong nước và chưa
hề thấy nhóm lãnh đạo cao nhất có ý định thay đổi đường lối đối ngoại theo
hướng tiến bộ, để quá khứ lùi về dĩ vãng, hướng thẳng tới tương lai, hòa
nhập thật lòng với thế giới dân chủ văn minh. Ông Nguyễn Cơ Thạch chỉ mới có
ý định cân bằng quan hệ Việt - Trung với quan hệ Việt-Mỹ đã mất chức ngay.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, Đảng Cộng Sản Liên Xô tan vỡ, phe xã hội chủ nghĩa
tan biến, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua Đại hội 8 và 9 vẫn lẩm cẩm theo "giải
pháp đỏ", có nghĩa là ưu tiên cố kết giữa những chế độ do đảng cộng sản độc
quyền lãnh đạo với nhau, che chở cho nhau, bỏ qua những bất hòa và xung đột
cũ, cùng nhau chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực đế quốc do
Mỹ cầm đầu.
Tôi được
biết trong cuộc họp trung ương lần thứ 8 (tháng 7-2003) bàn về Chiến lược
bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, vấn đề được nhấn mạnh chính là phải
cảnh giác với xu thế đòi dân chủ trong nước, mạnh tay đàn áp mọi kẻ bất đồng
chính kiến, đối phó với mọi sức ép quốc tế về dân chủ và nhân quyền, đồng
thời tranh thủ cộng đồng người Việt ở nước ngoài... Làm gì có chuyện thay đổi
chính sách đối ngoại !
Cuộc họp
ngoại giao sau đó cũng để nhấn mạnh những quan điểm trên, đồng thời đặt
nhiệm vụ rõ hơn cho ngành ngoại giao là vận động thu hút đầu tư, nghiên cứu
thị trường, làm tình báo kinh tế, tài chính, khoa học, thương mại, tìm kiếm
thị trường và có đặt tiền thưởng, chia hoa hồng cho ngành ngoại giao khi kiếm
được thị trường và đạt những hợp đồng béo bở cho các địa phương và công ty.
Làm gì có chuyện giải thích về chinh sách đối ngoại mới!
Theo tôi,
trong quan hệ với Mỹ, Hà Nội mới chỉ đáp ứng yêu cầu, đề xuất của phía Mỹ
một cách dè dặt và bị động, với những tính toán chiến thuật đoản kỳ, như kiếm
lợi nhuận trong buôn bán, kiếm vốn đầu tư, đổi mới một số trang bị quân sự
cũ kỹ, chống đỡ về vi phạm nhân quyền để hòng tránh bị trừng phạt, nghĩa là
vẫn theo chính sách cũ, áp dụng khôn khéo hơn, thế thôi ! Trong tính toán
của Hà Nội có thể có tính đến tạo thế để không quá lép vế với Bắc Kinh, nhưng
chưa phải thay đổi hẳn về chất, nặng phía này, nhẹ phía kia, từ bỏ sự gắn bó
ưu tiên với các đồng chí Bắc Kinh.
Chuyến
thăm Hà Nội của tư lệnh Thái Bình Dương Thomas Fargo mới đây cũng là một
hành động thăm dò của phía Mỹ, nhưng sự đáp ứng của phía Việt Nam chưa thật
rõ rệt. Các nhà bình luận Mỹ đều cho rằng phía Việt Nam vẫn còn dè dặt và
hoài nghi về ý đồ của Hoa Kỳ. Do đó việc cải thiện quan hệ chỉ diễn từng bước
rất nhỏ, chậm rãi, chưa có đột biến được. (Các bạn nên tìm đọc báo cáo của
trợ lý bộ trưởng ngoại giao M-P. Daley trước Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ
ngày 12-2-2004 về quan hệ Mỹ-Việt).
Tôi chưa
vội lạc quan, vì muốn thay đổi chính sách đối ngoại ở Việt Nam thường phải
qua một đại hội đảng, phải có một nghị quyết của đại hội đảng ; nếu không,
phải có một kỳ họp đặc biệt của trung ương đảng ; hoặc là phải có sáng kiến
đề xuất bởi tổng bí thư hay bởi một nhóm trong bộ chính trị.
Sự kiện
này hiện nay khó xảy ra vì, như anh em trong nước nhận xét, nhóm lãnh đạo
hiện nay là yếu kém nhất so với từ trước đến nay. Yếu kém toàn diện, cả về
tri thức, kinh nghiệm, khả năng lãnh đạo, lẫn về uy tín và quyền uy ; họ là
nhóm người "lùn" so với sứ mệnh của họ.
Tổng bí
thư lại càng đáng buồn ; một số ủy viên trung ương nhận xét : ông ấy tốt,
hiền lành, nhưng về khả năng chỉ làm được đến bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên là
hết cỡ ! Chính ông Nông Đức Mạnh đã từ chối chức vụ này hai lần mà không
thoát !
Về đối
ngoại, tôi càng bi quan vì hai nhân vật quan trọng nhất là ngoại trưởng
Nguyễn Dy Niên và phó thủ tướng Vũ Khoan tôi đều biết rõ thì đều yếu kém
trên lĩnh vực hiểu biết thế giới ; bất cứ ai từng ở bộ ngoại giao đều biết
hai vị này còn kém rất xa ông Nguyễn Cơ Thạch, kém xa những thứ trưởng cũ như
Phan Hiền, Võ Đông Giang, Lê Mai, Trần Quang Cơ. Thật tình hai vị này chỉ là
công chức vô vị trung thành của chế độ, được hoàn cảnh đưa đẩy lên quá cao,
trong khi trong ngành không thiếu những anh chị em trẻ thông minh, có tư duy
độc lập, am hiểu tình hình thế giới ngày nay. Nhưng đây là chuyện khác, vượt
quá vấn đề của bài báo này.
Hoặc là
phải chờ đến khi kinh tế khó khăn, bị vỡ mặt vì đầu tư giảm mạnh, bị trừng
phạt về nhân quyền, không được vào WTO năm 2005, nợ chồng chất, buôn bán vỡ
nợ vì hàng không cạnh tranh nổi, đà phát triển hụt hẫng, xã hội xáo trộn lớn,
lãnh đạo khi ấy buộc lòng phải đi tìm lối thoát... Như tình hình cực kỳ bi đát
năm 1986, buộc phải đổi mới. Điều này chẳng ai muốn, nhưng vẫn là một khả năng.
Quả thật
trong xã hội ta hiện nay không hiếm những người nghĩ rằng cần phải có một
chính sach đối ngoại mới, gắn bó với thế giới dân chủ, văn minh, tách khỏi
cái ách khống chế bởi ông láng giềng phương Bắc đầy mưu đồ nguy hiểm. Họ
hiểu rằng ta cần chọn bạn tốt mà kết thân gắn bó. Hoa Kỳ có chế độ dân chủ
tuy chưa toàn bích nhưng mang tính ưu việt rõ rệt khi một tổng thống đầy uy
quyền như Nixon cũng phải bị loại bỏ khi có dấu hiệu phạm pháp. Họ cũng hiểu
rằng Hoa Kỳ đang có nhu cầu chiến lược kết bạn thân thiết toàn diện trên cơ
sở bình đẳng với Việt Nam để kiềm chế một nước đầy tham vọng ; đây là thời
cơ hiếm chẳng nên bỏ qua.
Ta không
cúi đầu cầu khẩn van xin ai cả ; giá trị của Việt Nam chính là vị trí chiến
lược, tài nguyên nhân lực và thiên nhiên tuyệt vời, là lịch sử và văn hóa
đặc sắc. Chỉ có gắn bó hoàn toàn, chân tình với thế giới dân chủ văn minh,
trong đó có Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, Úc và các nước Đông Nam Á...
Việt Nam mới có đủ điều kiện để phát triển với tốc độ cao, đổi mới toàn bộ
hạ tầng cơ sở, xây dựng xã hội có luật pháp, công bằng, văn minh, các thế hệ
mai sau mở mày mở mặt.
Đáng tiếc
là những người có tư duy lành mạnh như thế lại không ở cương vị lãnh đạo cao
nhất ! Nhưng hàng ngũ những người này đang tăng lên khá nhanh trong thời mở
cửa và internet nổ bùng.
Muốn đạt
đến mục tiêu ấy, còn cần nhiều thời gian, nỗ lực của các chiến sĩ dân chủ,
của tuổi trẻ trong và ngoài nước, của hệ thống truyền thông, sự thức tỉnh
của đông đảo đảng viên cộng sản, từ đảng viên thường cho đến các cấp lãnh
đạo, hợp sức với công luận quốc tế tiến bộ để xây dựng một công luận xã hội
mạnh, đủ khả năng đẩy lùi các tư tưởng bảo thủ giáo điều đang kìm hãm xã hội
ta trong lạc hậu, bất công và phi lý. Chúng ta hãy cùng nhau chung vai tận
lực làm việc theo hướng tất yếu ấy.
Cuối
cùng, tôi cám ơn ông Âu Dương Thệ đã đưa ra nhận định mạnh dạn, kích thích
suy nghĩ của mọi người về một vấn đề hệ trọng của đất nước.
Tôi chỉ
mong suy đoán của tôi không đúng và những nhận định của ông Thệ gần với sự
thật hơn. Nếu tôi "thua" nhưng xã hội ta thắng, xin được vui vẻ cùng ông và
các bạn cụng ly… một chén rượu Xuân !
Bùi Tín
(Paris, 15-2-2004) |