|
Người chiến thắng nghĩ gì ?
Trần Độ
Ghi chú của
Nguyễn Gia Kiểng trước khi vào bài :
Bài này Trần
Độ viết xong ngày 20-4-2000 như ông ghi trước chữ ký.
Vài ngày
sau thì tôi nhận được từ tay một người mới đến từ Việt Nam. Sau khi đọc, tôi
gọi cho Trần Độ đề nghị bỏ bài này. Tôi nói với Trần Độ rằng bài này tuy cái
tâm thì tốt nhưng cái lý thì sai. Nó nói lên tinh thần hòa giải và hòa hợp
dân tộc mà mọi người yêu nước đều mong muốn và hơn nữa nó nói một cách
thành thực và ân cần. Tuy nhiên nó vẫn nằm trong cái lô-gíc thắng-bại,
đúng-sai không nên và cũng không thể có về cuộc chiến này. Hơn nữa nó đồng
hóa thắng với đúng và bại với thua, nghĩa là phản ánh một cái nhìn rất phiến
diện. Trong lịch sử loài người không thiếu những kẻ chiến thắng hung bạo và
bất nghĩa như chế độ man rợ Spart đã đánh bại nền văn minh Athens, các đạo
quân của Attila đã dày xéo châu Âu, v.v. Tinh thần hòa giải dân tộc là đúng
nhưng nó cũng cần đi đôi với một thái độ đúng. Ở đây thái độ vẫn còn là một
thái độ cao ngạo của người có chính nghĩa của chiến thắng đối với "những
người lầm lỡ" và đã thua. Chúng tôi nói chuyện rất lâu về cuộc chiến này,
sau đó Trần Độ đã đồng ý bỏ bài này một cách vui vẻ : "Chú có nói như vậy
tôi mới hiểu, mình phải đổi cả cách suy nghĩ lẫn ngôn ngữ". Rồi ông nói một
cách như vừa nói vừa mĩm cười : "Anh Chín bỏ ra cả tháng để viết bài này đó,
mà suýt nữa lại hố". Tôi không biết ngoài tôi Trần Độ còn gửi bài này cho ai
khác không, nhưng tôi chưa thấy nó được đăng trên một tờ báo nào.
Bây
giờ Trần Độ đã qua đời, tôi lấy quyết định cho đăng lại bài này như là một
lập trường mà Trần Độ vất bỏ. Cái đặc sắc của bài này là ở chỗ đó. Nó nói
lên một sự phản tỉnh mà chỉ có những con người cao cả mới có được.
Trần
Độ là cấp chỉ huy quân sự của quân đội cộng sản từ năm 1960, khi Đảng Cộng
Sản Việt Nam phát động cuộc chiến đánh chiếm miền Nam, đến năm 1974, sau khi
hiệp định Paris đã được ký kết. Theo tổ chức của đảng cộng sản thì người
đứng dầu mọi lực lượng quân sự cũng như chính trị là bí thư Cục R kiêm chính
ủy, người này có hai phụ tá, một phó bí thư phụ trách về công tác chính trị
và một phó chính ủy phụ trách quân đội. Bí thư Cục R kiêm chính ủy mới đầu
là tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông Thanh chết năm 1967 và được thay thế bởi Phạm
Hùng. Hai phụ tá là ông Nguyễn Văn Linh, phó bí thư, và ông Trần Độ, phó
chính ủy. Ông Trần Độ được triệu ra Bắc năm 1974, ông trở thành phó chủ tịch
quốc hội. Trong thời kỳ chuyển hướng năm 1986, khi ông Nguyễn Văn Linh làm
tổng bí thư, Trần Độ là trưởng ban văn hóa văn nghệ và đã tích cực khuyến
khích và giúp đỡ các văn nghệ sĩ cởi trói. Chính vì thế mà ông thất sủng,
dần dần mất quyền hành và sau cùng bị khai trừ khỏi đảng năm 1999. nhưng
cũng chính vì thế mà ông đã trở thành một biểu tượng của cuộc vận động dân
chủ. Ông qua đời năm 2001 trong sự thương tiếc và quí mến của mọi người.
30-1-1975 là ngày đánh dấu một thắng lợi hết sức to lớn và vẻ vang của toàn
thể nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam : "Giành được độc lập và
thống nhất tổ quốc". Ngày này cũng là ngày kết thúc cuộc chiến tranh yêu
nước lâu dài và quyết liệt, kết thúc những năm tháng hy sinh và gian khổ.
Theo
cách tính thông thường thì cuộc chiến đó kéo dài 30 năm (1945-1975). Nhưng
cũng có cách tính của các tác giả khác thì đó là ngày kết thúc cuộc chiến
tranh yêu nước dài 117 năm (1858-1975), kể từ lúc quân đội Pháp xâm lược
tiến công vào Đà Nẵng. Từ đó, nhân dân Việt Nam không ngừng chiến đấu và
tranh đấu chống xâm lược Pháp, giành độc lập mà nổi lên là các cụ Hoàng Hoa
Thám, Phan Đình Phùng và các cụ Trương Công Định, Tán Thuật, Thủ Khoa Huân,
các phong trào Cần Vương, Văn Thân, khởi nghĩa Yên Bái của Quốc Dân Đảng,
v.v. Quả thực, đó là một cuộc chiến dài hơn một trăm năm vậy. Mỗi người
thuộc nhiều thế hệ trong hơn một trăm năm ấy đều có quyền tự hào và xứng
đáng với danh hiệu, người Việt Nam chiến thắng.
Sau
30-4-1975, nhiều vị lãnh đạo và tướng lĩnh đã nói một cách hào hứng và rất
chí lý rằng : "Đây là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam, người Việt Nam
với nhau, không có kẻ thắng, người thua và từ cái ngày lịch sử ấy, mỗi người
Việt Nam đều có quyền tự nhận là người Việt Nam chiến thắng". Những lời nói
tốt đẹp đó đã làm cho không khí của đất nước đẹp đẽ hơn, phấn khởi hơn,
dẹp tan được nhiều mặc cảm chua chát và đau khổ.
Nhưng
dù sao cũng không thể tránh được một sự thật cay đắng là từ trước năm 1975,
đất nước vẫn có hai phần, hai bên : một bên là các chiến sĩ, các người giải
phóng và một bên là ngược lại, xét cho cùng là những người bị lôi cuốn,
những nạn nhân. Chính lòng khoan dung của dân tộc đó đã làm cho cuộc giải
phóng được êm đẹp không có bất cứ một cuộc "tắm máu" nào. Và sự thực đó làm
sáng lên chính nghĩa của cuộc đấu tranh của dân tộc, làm im miệng những kẻ
rêu rao : "tắm máu".
Ngày
nay, sau 25 năm, sự thật cay đắng đó vẫn tồn tại và vẫn hiển hiện nhiều vấn
đề của xã hội khó khăn. 1975, chiến tranh kết thúc, nhưng nó để lại trên đất
nước Việt Nam, trong xã hội Việt Nam một núi các vấn đề xã hội khó khăn và
phức tạp.
Năm
1968, chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản viết thêm vào di chúc đã có một đoạn
dài dặn lại, trong đó có đoạn Bác dặn những công việc cần làm để mau chóng
hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra : "Trước tiên là chỉnh
đốn lại Đảng". Sau đó Bác viết : "Đầu tiên là các công việc đối với con
người". Bác dặn từng việc : đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình, cha mẹ,
vợ con thương binh liệt sĩ ; đối với các chiến sĩ trẻ tuổi sau chiến
tranh ; đối với phụ nữ ; đối với nạn nhân chế độ cũ như trộm cắp, gái điếm,
cờ bạc, buôn lậu, v.v. ; đối với nông dân ; việc xây dựng lại các thành phố
; việc sửa đổi chế độ giáo dục…
Như
vậy Bác cũng đã quan tâm đến nhiều việc cụ thể. Nhà nước Việt Nam (bao gồm
đảng, chính phủ, quốc hội) là nhà nước chịu trách nhiệm trước toàn quốc
thống nhất, đã cố gắng làm nhiều việc : đã có nhiều chính sách khen thưởng
và trợ cấp cho cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, các người tham gia
và ủng hộ kháng chiến ; đã làm việc xây dựng các nghĩa trang, các đài kỷ
niệm, quy tập mồ mả các liệt sĩ, tìm các liệt sĩ bị coi là mất tích và thất
lạc mồ mả (của cả Mỹ) ; đã khen thưởng tặng danh hiệu cho các bà mẹ Việt Nam
anh hùng ; đã chỉ đạo phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương
cho những thương binh, gia đình liệt sĩ và bà mẹ anh hùng và do đó giảm được
khó khăn cho hàng nghìn người ; đã thành lập Hội cựu chiến binh thành một tổ
chức chính trị xã hội, là nơi gặp mặt, nhắc lại kỷ niệm cũ, có những hoạt
động hỗ trợ cứu giúp nhau rất hiệu quả.
Như
thế là nhà nước đã làm được một khối lượng công việc to lớn để hàn gắn vết
thương chiến tranh và công việc đó đã có kết quả tốt đẹp là đời sống nhiều
người được bảo đảm, không khí thân ái đoàn kết trong nhân dân được vun đắp
tốt đẹp.
Nhưng
chiến tranh cũng để lại nhiều hậu quả xã hội khác : sau 1975 có hàng triệu
người, trong nhiều năm, rời tổ quốc đi sinh sống ở nước ngoài bởi hai lý do
: một là những người không thích "chế độ cộng sản" ; hai là những người
trong hoàn cảnh mới không có đường sinh sống, không biết sống làm sao, đời
sống quá khó khăn. Ngoài ra có một số người khá đông đi lao động học tập ở
nước ngoài rồi gặp tình hình chính trị thay đổi, cũng định cư luôn ở nước
ngoài. Việc này đã làm cho số người sống ở nước ngoài hiện nay rất lớn, có
người ước lượng có hơn hai triệu, có người ước lượng đến ba triệu. Những
người sống ở nước ngoài tạo thành những nhóm xã hội Việt Nam ở các nước trên
thế giới, nhiều nhất ở Mỹ, ở châu Âu (cả Đông lẫn Tây), ở châu Úc.
Xã hội
Việt Nam ở nước ngoài này cũng có quan hệ với nhau. Rất nhiều người hướng về
tổ quốc, hướng về tổ tiên và quê hương. Nhiều người có nguyện vọng góp phần
xây dựng đất nước, nhiều người tập hợp với nhau có những hoạt động báo chí
ngôn luận và hoạt động văn nghệ. Ở xã hội Việt Nam này xuất hiện nhiều nhân
tài khoa học, nắm những vị trí quan trọng cho nước ngoài và cũng có ý muốn
phát biểu ý kiến đối với nước nhà. Có những tài năng nghệ thuật, có các tác
phẩm nghệ thuật vẫn mang bản sắc Việt Nam. và nhiều tác phẩm có giá trị đã
được trình diễn ở Việt Nam và thế giới.
Đó là
những người trước đây đã phục vụ trong quân đội và bộ máy của chính quyền
Sài Gòn, cùng với tất cả gia đình nội ngoại của họ và do đó cũng có một tỷ
lệ số lượng không nhỏ đang sống trong xã hội Việt Nam. Trong những người này
cũng có những người bị thương, tàn tật hoặc đói khổ, có những con cháu được
sinh ra trong 25 năm qua. Mỗi gia đình lại có một hoặc nhiều người thân đã
bỏ mình trong trận chiến. Những người này sau chiến tranh không được công
nhận, chỉ được thờ cúng trong nhà mà không được ghi nhớ ở bất cứ một nơi
công cộng nào.
Có một
lần (vào khoảng năm 1990), khi ở Quảng Trị có bàn về vận động xây dựng tượng
đài ở Thành cổ. Có một nhà văn quê ở Quảng Trị nêu ý kiến là tượng đài nên
được xây như thế nào đó để người mẹ của quân giải phóng đến thắp hương được
và người mẹ một người lính Sài Gòn cũng đến thắp hương tưởng niệm được, chứ
chả lẽ lại cần hai tượng đài à, và người thắp hương tượng đài này lại không
thèm nói chuyện với người thắp hương tượng đài kia, thì như thế hòa hợp làm
sao được. Và những vong hồn đang ở thế giới bên kia cũng vẫn coi nhau như
thù địch à?
Ý kiến
đó thật đáng quan tâm, nhưng chắc cho đến nay chưa có lời giải đáp. Thật ra,
thời gian càng qua đi thì những vết thương chiến tranh càng khép miệng lại
và thành sẹo. Hiện nay ta đã thấy không còn ai coi những người di tản sống ở
nước ngoài là thù địch nữa, cả nhà nước và người thân cùng bạn bè vẫn đón
nhận những người ở nước ngoài về thăm quê một cách thân mật và hồ hởi.
Những
người giải phóng và những người không phải giải phóng gặp nhau ở nước ngoài
đều có thể nói chuyện bình thường, thậm chí còn có thể kết bạn. Thời gian có
phép màu của nó. Tất nhiên vẫn có một số người quá khích hay làm những việc
cực đoan như viết những lời chửi bới và biểu tình để chống đối này nọ. Nhưng
những việc càng ngày càng lạc lõng và rất ít được quan tâm. Vấn đề nổi trội
và bao trùm tất cả là tâm hồn Việt Nam. Ở xã hội Việt Nam, đặc biệt ở miền
Nam bây giờ, mọi người hầu như quên luôn các từ ngữ ngụy quân ngụy quyền.
Trong cuộc sống thường ngày ở chợ búa đường phố và xóm làng, hầu như không
ai nhắc đến sự phân biệt cách mạng, giải phóng và ngụy Sài Gòn nữa, nhất là
các cháu thanh thiếu niên sinh sau năm 1975, ở nơi lao động và trong các
trường học.
Quan
hệ giữa những cựu chiến binh giải phóng và cựu chiến binh Mỹ ngày càng thân
mật, vui vẻ và mang nhiều ý nghĩa vì hòa bình, xóa quá khứ.
Vết
thương chiến tranh này cũng tự nó khép miệng lại và đang thành sẹo. Tuy
nhiên, vẫn có tồn tại một vấn đề đó là sự tôn vinh các chiến sĩ cách mạng
giải phóng ở những nơi công cộng và trong các lễ hội kỷ niệm. Những dịp ấy
không thể không gợn lên những nỗi niềm trong lòng các người thân của những
người trước đây ở trong quân đội và chính quyền Sài Gòn. Đó là những người
đã có thời lầm lỡ và đã qua đời. Nhưng ngày nay vẫn là những hình bóng thân
yêu trong lòng con, cháu và những người thân.
Theo
quan điểm chính thức của chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng Sản Việt Nam
thì vẫn coi những người đó là những người lầm lỡ, những nạn nhân. Trong số
đó còn nhiều người coi như bị mất tích, chưa tìm được mồ mả và cải táng để
thờ cúng cho hợp lẽ.
Sau 25
năm, kỷ niệm ngày chiến thắng vẻ vang, những người chiến thắng cũng nên nghĩ
đến vết thương chiến tranh này của dân tộc. Nhà nước Việt Nam hiện nay đường
đường là một nhà nước của toàn dân tộc, không thể không có trách nhiệm gì về
một vấn đề xã hội rắc rối và khó khăn này. Nhà nước cần kỷ niệm ngày chiến
thắng vẻ vang này bằng cách nghĩ đến những chính sách có thể như sau :
a. Đối
với các nhóm xã hội Việt Nam ở nước ngoài cần phải thực lòng và thực sự coi
đó là bộ phận của dân tộc Việt Nam, của xã hội Việt Nam. Tôi nhấn mạnh sự
thật lòng thực sự là bởi vì những lời nói tốt đẹp thì ta có nhiều rồi, nhưng
trong thực tế các nhà chức trách thường vẫn cảnh giác phân biệt đối xử với
các người Việt Nam về nước thăm quê và có ý muốn đóng góp. Còn các giới
chính thức các ngành thì coi những năng lực khoa học và tài năng văn nghệ cứ
như của ai ấy mà không phải của dân tộc Việt Nam, thậm chí không coi trọng,
không nhiệt tình giới thiệu, không chú ý phổ biến các giá trị khoa học và
tác phẩm văn nghệ, các báo chí xuất bản ở nước ngoài, còn tìm mọi cách ngăn
cấm việc phổ biến các tác phẩm ấy ở trong nước. Sự phân biệt đối xử này rất
không hay, cần phải xóa bỏ nếu không thì nó làm tàn lụi nhiệt tình của người
Việt sống ở nước ngoài.
b. Cần
chính thức và công khai xóa bỏ sự phân biệt trong lao động, học tập và chữa
bệnh. Chính thức và công khai xóa bỏ thói quen xăm soi lý lịch và coi lý
lịch là một căn cứ chính trị để xem xét con người. Đặc biệt cần xóa bỏ triệt
để sự phân biệt đối xử với các cháu sinh ra sau năm 1975.
c. Cần
có thái độ chính thức và công khai coi những người có liên quan với quân đội
và chính quyền Sài Gòn cũ là những nạn nhân của tình thế. Cả chính phủ và
các chính quyền địa phương tích cực giúp đỡ các gia đình nạn nhân trong việc
"hiếu" đối với người đã mất, việc thờ cúng, việc tìm mồ mả, việc cải táng,
v.v. Thực hiện việc cứu trợ chống thiên tai và thực hiện xóa đói giảm nghèo
không phân biệt. Những người đã mất, ai có chút công lao với xóm giềng, làng
mạc được nhân dân địa phương nhớ ơn và tôn vinh, thì cũng chính thức ủng hộ
và giúp đỡ (nếu cần) sự thờ cúng và tôn vinh trong từng gia đình và dòng họ.
Để gia đình và dòng họ tự do thờ cúng và tôn vinh người của mình, họ mình,
nếu gia đình và họ nhận thấy người nào đó có công và đức xứng đáng. Cũng nên
có một quỹ xã hội đặc biệt cứu giúp những gia đình (nhất là những thương
binh, già yếu) thuộc diện "những nạn nhân" nói trên.
Trong
dân gian cũng có thói quen biết ơn người địa phương có công lao với dân làng,
tôn làm Thành hoàng, mà không xét đến việc có công với nước. Việc các nhà sử
học sưu tầm những công việc làm được với nhân dân của các chúa và vua Nguyễn
là việc nên khuyến khích, việc các nhà văn viết lại lịch sử những danh nhân
ở các thời đại, cả thời phong kiến và thời Pháp thuộc cũng là việc nên
khuyến khích.
Có
những chính sách như thế thì vết thương chiến tranh được xóa bỏ hoàn toàn,
tình thân ái đoàn kết được mở rộng và nâng cao. Đó là cách hiệu nghiệm nhất
đối phó với một nhúm rất nhỏ của các nhóm cực đoan.
Quan
trọng là thực hiện đầy đủ sự thực hành hàng ngày của những người và cơ quan
có trách nhiệm, khắc phục bằng được thói nói một đằng làm một nẻo, thậm chí
làm ngược với nói, như kiểm soát, theo dõi, có khi bắt nữa, nhưng lại nói là
để bảo vệ an toàn. Những người đó "được" theo dõi và "được" bắt.
Cần
làm cho ngày kỷ niễm vẻ vang 30 tháng 4 mỗi năm lại có thêm sự đầm ấm, vui
vẻ và sức mạnh dân tộc ngày càng được tăng cao.
Hà Nội,
20-4-2000
Trần
Độ |