[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  
Nói chuyện với Gerhard Will:

 

Việt Nam và khả năng chuyển hóa

LTS : Sau bài tham luận nhan đề "Hoạch định chính sách trong quá trình chuyển đổi ở Việt Nam và Trung Hoa - các khía cạnh so sánh", (in talawas, 19-11-2003) do tiến sĩ Gerhard Will, chuyên viên nghiên cứu về Trung Quốc và Việt Nam của Quỹ khoa học và chính trị Berlin, trình bày tại hội thảo Chính sách đào tạo và nghiên cứu trong quá trình chuyển đổi (16/17-9-2003, Hà Nội), xin giới thiệu bài phỏng vấn tiến sĩ Gerhard Will do Phạm Việt Vinh - cộng tác viên của Thông Luận và của đài SFB Berlin, thực hiện. Bài phỏng vấn bằng tiếng Đức dài khoảng 90 phút, được Phạm Việt Vinh dịch sang tiếng Việt và talawas biên tập lại. Người dịch có lược bỏ một số đoạn với sự đồng ý của các tác giả.

      Phạm Việt Vinh (PVV) : Thưa ông Gerhard Will, trước hết, xin ông giới thiệu ngắn gọn về Quỹ khoa học và chính trị ở Berlin, đặc biệt là về chức năng và ảnh hưởng của nó đối với các quyết định chính sách của chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Đức.

     Gerhard Will (GW) : Quỹ chúng tôi được thành lập từ đầu những năm 60 với tư cách là một viện cố vấn chính trị. Năm 2001, Quỹ được chuyển về Berlin làm cố vấn cho Phủ thủ tướng, Tổng cục ngoại vụ và các bộ khác. Hình thức viện cố vấn này ở Đức còn ít được biết đến, trong khi nó đã rất phổ cập, ví dụ như ở Mĩ, và được gọi là "think tank". Chúng tôi không đưa ra những quyết định chính sách, mà chỉ đưa ra ý kiến cố vấn, những đề nghị hoặc là những phương án để chọn lựa. Chúng tôi có hai phần : một bộ phận làm công tác nghiên cứu và đưa ra những đề nghị mang tính cố vấn, một bộ phận quan trọng hơn với nhiệm vụ chọn lọc, thu thập các tài liệu và thông tin quan trọng để cung cấp cho viện.

     PVV : Và ông có thể giới thiệu một chút về mình được không ? Ví dụ như về công việc cụ thể của ông ?

     GW : Tôi đã trải qua quá trình nghiên cứu khoa học chính trị và Hán ngữ hiện đại ; nhưng sau khi làm xong bằng cử nhân, tôi lại tập trung nghiên cứu về Việt Nam nhiều hơn là về Trung Quốc. Tôi đã lấy bằng tiến sĩ về sự phát triển tại Việt Nam sau chiến tranh từ 1975 đến 1979. Tại cơ quan nghiên cứu này, tôi tập trung nghiên cứu về các nước Đông Nam Á trong lục địa, từ Miến Điện, Thái Lan, Lào, cho đến Việt Nam.

     PVV : Xin ông cho biết mục đích của cuộc hội thảo "Chính sách đào tạo và nghiên cứu trong quá trình chuyển đổi" trong hai ngày 16 và 17-9-2003 tại Hà Nội. Cơ quan nào đứng ra tổ chức một hội thảo như vậy ?

     GW : Đây là một chương trình làm việc hợp tác giữa Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia tại Hà Nội và Vụ Châu Á của Quỹ Rosa Luxemburg, tập trung vào những vấn đề về đào tạo và nghiên cứu trong quá trình chuyển đổi tại Việt Nam. Vấn đề mà tôi trình bày không liên quan trực tiếp tới đề tài trên, mà tập trung vào một so sánh tổng quát quá trình biến đổi tại Việt Nam và Trung Quốc, tức là nói đến điều kiện khung cho các chuyển biến riêng như đào tạo và nghiên cứu.

     PVV : Vấn đề bao trùm trong bài tham luận của ông là "sự chuyển đổi"- về nguyên tắc, là một sự thay đổi, tuy dần dần, nhưng là để tiến tới một cái mới, một cái khác ; trong khi đó sự phát triển hiện nay ở Việt Nam lại được giới lãnh đạo định nghĩa là một tiến trình "đổi mới"- cũng là một sự chuyển hướng, nhưng về căn bản là dựa trên sự cải tiến những cái đang có, những cái đã đạt được. Đó có phải là những xuất phát điểm khác nhau của các bên tham gia hội thảo này không ?

     GW : Vâng, ông đã đề cập đến một vấn đề khá thú vị liên quan tới dịp hội thảo này, vì trong thực tế, khái niệm "chuyển đổi" hàm chứa một nội dung khác. Nó không phải là sự cải biến một tình trạng cũ, mà là sự chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác ; và cả tiến trình "đổi mới" cũng phải như vậy, khi mà người ta phải quan tâm tới những vấn đề mới trong những điều kiện khung đang có. Vào những ngày hội thảo, điều này không được quan tâm lắm, nhưng khi thảo luận, người ta đã tranh cãi nhiều rằng nên đẩy cải tổ tiến xa tới đâu, rằng có thể có một giải pháp trung hòa không, và liệu có thể tồn tại cái gọi là "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" hay không, hay là nếu đã sử dụng kinh tế thị trường thì bắt buộc phải có những xác quyết dứt khoát về chính trị. Tôi cho rằng, vấn đề cơ bản là ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, người ta đã nhận ra rằng : nếu sự cạnh tranh trong kinh tế đã làm sống động nền kinh tế thì tại sao sự cạnh tranh trong chính trị - gồm cả vấn đề đa đảng, lại không có thể mang lại những kết quả tốt đẹp về mặt chính trị, ví dụ như có thể triệt tiêu hay kiềm chế được nạn tham nhũng.

     PVV : Về vấn đề này, tôi muốn được trở lại vào lúc sau. Nay xin đi trực tiếp vào bài tham luận của ông. Tại phần thứ nhất nói về những nét chung trong quá trình chuyển đổi tại Việt Nam và Trung Quốc, ông cho rằng sự chuyển hướng vào những nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ diễn ra ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tương đối dễ dàng và nhanh chóng hơn so với ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bởi cuộc Cách mạng văn hóa những năm 60 đã làm rung chuyển tận gốc một số nguyên lý cơ bản của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ở Việt Nam thì ngược lại, người ta đã và đang vẫn rất tự hào về những chiến thắng trong quá khứ. Câu hỏi được đặt ra là : phải chăng, từ những đổ vỡ do cuộc Cách mạng văn hóa gây ra mà giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã trở nên khôn ngoan hơn, và có khả năng cách tân hơn ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam ?

     GW : Đúng, đấy là một sự hài hước của lịch sử. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng văn hóa là một xuất phát điểm quan trọng cho quá trình chuyển đổi tại Trung Quốc. Nếu so sánh với bước đi đổi mới của Liên Xô trước đây ở thời Gorbachov, điều dễ nhận thấy là cuộc Cách mạng văn hóa tại Trung Quốc đã làm rung chuyển toàn bộ bộ máy đảng cộng sản từ trên xuống dưới. Người ta đã bàng hoàng nhận ra rằng cái gì hôm qua là chân lí, hôm nay đã không còn đúng nữa. Lòng tin cứng nhắc vào những nguyên lí ý thức hệ được củng cố từ hàng chục năm trời đã bị lay chuyển cực mạnh sau cuộc Cách mạng văn hóa. Nếu so sánh với Việt Nam, điều dễ nhận thấy là tình hình ngược lại : Sau chiến thắng đối với Mĩ năm 1975, lòng tự tin của người Việt Nam đã tăng lên cao độ. Giới lãnh đạo Việt Nam tâm niệm : "Tất cả đã khuyến cáo rằng ta không thể thắng nổi Mĩ, vậy mà chúng ta vẫn đi theo đường lối của mình, chúng ta vẫn kiên định lập trường và thực tế đã chứng minh rằng chúng ta đúng". Điều này dẫn đến thái độ hiện nay của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi ứng phó với các biểu hiện khủng hoảng, tức là : "Nếu xuất hiện khủng hoảng, thì chúng ta vẫn có thể vượt qua, không phải bằng sự đổi thay, mà là bằng sự tuân thủ nghiêm ngặt đường lối đã được lựa chọn". Nó trái ngược hoàn toàn so với những gì đã xảy ra ở Trung Quốc sau những sự kiện "nồi da nấu thịt" cực kỳ đau đớn mà cuộc Cách mạng văn hóa đã gây ra.

     PVV : Có nghĩa là trong tâm thức, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam nghĩ rằng họ luôn luôn đúng. Nhưng thực tiễn có xác nhận và tiếp sức cho tâm thức ấy không ?

     GW : Ở Việt Nam người ta thường rút kinh nghiệm trong những cơn khủng hoảng. Từ cuộc khủng hoảng cuối những năm 70, đầu những năm 80, người ta nhận thấy rằng đường lối chính trị đã chạm tới vạch giới hạn, rằng không thể đi theo cách cũ nữa, và phải tiến hành cải tổ. Nhưng tôi cho rằng người Việt Nam vẫn chưa nhận thức được những điều cơ bản của một cuộc cải tổ, người ta vẫn nghĩ là nếu sửa sai chỗ này chỗ nọ thì kinh tế sẽ thăng tiến. Tôi cho rằng, đó cũng chính là vấn đề cấp bách của công cuộc cải tổ hiện nay, và khi mức độ tăng trưởng kinh tế ở mức 7% như năm ngoái, thì ý thức sẵn sàng cải tổ sẽ rất thấp. Nói chung thì cải tổ chỉ được thúc tiến khi khủng hoảng xảy ra. Khi kinh tế phát triển thì người ta không nhận ra mọi vấn đề, vì nghĩ rằng  : "Kinh tế đang đi lên, vậy thì tại sao lại phải cải tổ ?", và người ta sẽ không ý thức đuợc các vấn đề trong tiến trình kinh tế hiện nay của Việt Nam, như việc ưu tiên các xí nghiệp quốc doanh với những chi phí bù trợ quá lớn (giá một kg đường sản xuất tại Việt Nam cao hơn hẳn giá đường trên thị trường thế giới, xi măng và thép cũng hệt như vậy). Nếu Việt Nam muốn tham gia Tổ chức thương mại thế giới WTO vào năm tới, thì những điều đó phải thay đổi, người ta bắt buộc phải cải tổ. Nhưng có lẽ, bước quyết định để làm điều này, hoặc nói cách khác là quyết tâm phát triển cải tổ, hiện nay là không có, do kinh tế đang đi lên. Nhưng khi khủng hoảng xảy ra, người ta sẽ bắt buộc phải cải tổ.

     PVV : Ông đã theo dõi tiến triển trong hơn 25 năm qua tại cả Việt Nam lẫn Trung Quốc và nhận định rằng, cải tổ ở Trung Quốc chủ yếu là được bắt đầu từ bên trên, từ giới lãnh đạo trung ương, còn cải tổ ở Việt Nam lại chủ yếu là do áp lực từ bên dưới, nhiều khi chỉ là sự hợp pháp hóa các hiện tượng mà ông gọi là "phá rào". Đồng thời, ông cũng tổng kết rằng, vì nhiều lí do- ví dụ như bởi tiềm năng khác nhau, nên công cuộc cải tổ ở Trung Quốc tuy tiến triển có thể chậm hơn, nhưng chắc chắn và liên tục hơn, trong khi cuộc cải cách ở Việt Nam hiện nay đang bị ngưng trệ. Vậy thì phải chăng, một sự cải tổ được khởi xướng từ bên trên cũng là điều tốt hơn đối với Việt Nam ?

     GW : Về điều này, tôi muốn bổ sung một ý : ngay cả khi có cải tổ do sáng kiến từ bên dưới, thì ở trên, người ta cũng cần phải có một ban lãnh đạo có khả năng đưa những sáng kiến này vào chính sách và thực thi nó. Tôi cho rằng đó là một vấn đề cơ bản. Hiện nay, ở Việt Nam cũng như tại hải ngoại, ngày càng có nhiều người xác quyết rằng Việt Nam cần phải tiến hành một cuộc "Đổi Mới 2" - một giai đoạn 2 của quá trình cải tổ. Có thể phóng đại, hoặc có thể tóm tắt như sau : Giai đoạn 1 đã là sự hợp pháp hóa các cải tiến từ bên dưới, thì Giai đoạn 2 sẽ liên quan ở mức độ cao tới tổ chức nhà nước, ví dụ như đối với câu hỏi : làm thế nào để có một cơ cấu quyền lực pháp trị. Đó là những vấn đề không thể giải quyết được từ những sáng kiến bên dưới, mà là những thử thách lớn đối với bộ máy chính quyền, đòi hỏi giới lãnh đạo phải đưa ra những luật lệ và điều kiện mới để cải tổ tiếp tục phát triển.

     Vấn đề sẽ là : ban lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng để tiến hành bước đi cải tổ này hay không ? Tôi nghĩ, một trong những khác biệt lớn so với Trung Quốc là Trung Quốc đã may mắn có một nhân vật là Đặng Tiểu Bình. Đặng có một ưu thế là xuất thân từ lớp lãnh đạo tiền bối, đã từng giữ chức tổng bí thư lâu năm, có uy tín sâu trong quân đội và qua kinh nghiệm sống, Đặng đã chân nhận ra rằng Trung Quốc phải được trải qua một cuộc cải tổ rất mạnh để có thể đổi thay, nhưng ông ta cũng là người có khả năng thuyết phục được bộ máy lãnh đạo cũ đồng ý với chính sách cải tổ của mình. Tôi thấy là, hiện nay Việt Nam đang thiếu một cá nhân như vậy : một cá nhân vừa có quyết tâm cải tổ, vừa có uy tín cao trong bộ máy Đảng và quân đội để có thể thuyết phục cải tổ đối với bộ máy đó, hoặc là đối với nhiều nhân vật lãnh đạo trong các bộ máy đó.

     PVV : Có nghĩa là để cải tổ tiến triển, Việt Nam còn thiếu một cá nhân như Đặng Tiểu Bình ? Hay Việt Nam còn thiếu những gì nữa ?

     GW : Việt Nam còn thiếu rất nhiều thứ. Tất nhiên, cải tổ là một quá trình rất khó khăn, nó không phải chuyện thường nhật ai cũng có thể làm được, và chúng ta không nên bỏ qua những câu hỏi phức tạp. Nhưng tôi vẫn nghĩ, Việt Nam cần một cá nhân có khả năng lãnh đạo cải tổ. Khác với Phương Tây, chính trị ở Đông Nam Á và Đông Á, đặc biệt là ở Việt Nam và Trung Quốc, được định hướng rất nhiều bởi một nhân vật nào đó. Do vậy, điều đáng mong là ở đó xuất hiện một cá nhân có khả năng dẫn dắt cải tổ. Nếu quan sát kĩ sự phát triển của Việt Nam, ví dụ như các đời tổng bí thư, cứ 4 hay 8 năm lại bị thay đổi một lần, thì ở đây hoàn toàn thiếu vắng tính liên tục về mặt nhân sự như ở Trung Quốc. Đó là vấn đề một cá nhân đầu tàu được thúc đẩy bởi một đội ngũ cộng sự tin cậy và có khả năng ; còn một điều khác không phụ thuộc vào vấn đề cá nhân- và tôi cho rằng đây là lợi thế của Việt Nam, tức là do điều kiện lịch sử, người Việt Nam học hỏi kinh nghiệm bên ngoài nhiều hơn người Trung Quốc. Tôi thấy rằng ngay cả ở các cấp bên dưới, người ta cũng rất sẵn sàng quan sát và ứng dụng những bài học từ nước ngoài. Sự cởi mở đối với bên ngoài là một ưu thế lớn của Việt Nam so với Trung Quốc.

     PVV : Trong bài thuyết trình, ông cho rằng lí thuyết kinh tế Phương Tây đã gặp khó khăn khi giải thích sự tăng trưởng mạnh về kinh tế tại Trung Quốc và Việt Nam, nơi thiếu vắng những điều kiện khung cần thiết cho một nền kinh tế thị trường. Tìm lời giải cho một hiện tượng mới trên thế giới đương nhiên là điều không dễ, nhưng phải chăng, những diễn biến như ở Trung Quốc và Việt Nam là sự biện minh cho một hình thức kinh tế mới, một dạng thức "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" ?

     GW : Không, dứt khoát đây không phải là một sự biện minh! Nhưng người ta phải thấy rõ sự khiếm khuyết của khoa học kinh tế chính thống mang đậm sắc thái học thuyết Tân tự do hiện nay khi nó cho rằng mọi sự đều có thể được điều chỉnh bởi thị trường. Điều vô lí ở đây là trong sự phát triển kinh tế, có những vấn đề không thể giải quyết được thông qua thị trường, thậm chí có thể làm tổn hại đến thị trường nếu tất cả chỉ được dựa vào cột trụ thị trường. Để trả lời câu hỏi "biện minh", người ta cần phải thấy rằng mặc dù phát triển ở mức độ cao như hiện nay, nhưng biện pháp "kinh tế thị trường theo định huớng xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam đã bị rơi vào khủng hoảng, và mức tăng trưởng đã sút giảm mạnh sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á. Cũng do sự giảm sút này mà người ta đã phải phát động một số bước cải tổ. Thực tế phát triển hiện nay ở Việt Nam được điều chỉnh bởi thị trường, và ở một vài khía cạnh nào đó, có thể được coi như một sự biện minh ; nhưng điều rõ rệt hơn cả là người ta cần phải cải tổ mạnh mẽ hơn nữa để có thể duy trì được mức tăng trưởng cao. Một vấn đề là pháp trị, các vấn đề khác là cấu trúc hạ tầng, làm ăn thua lỗ - giải quyết chúng là những sách lược để hòa nhập vào thế giới, nhất là khi Việt Nam phụ thuộc ở mức độ cao vào thị trường quốc tế. Một kinh tế gia rất thông thạo Việt Nam đã nói rằng : Kinh tế Việt Nam như là một cái nút bấc trôi nổi trên mặt biển thị trường thế giới, và bị chao đảo bởi bất kì một biến động nào trên trường quốc tế.

     PVV : Về yếu tố con người trong quá trình biến đổi ở Việt Nam : nhiều người cho rằng người Việt nói chung và nền chính trị Việt Nam nói riêng có khả năng thích ứng rất cao. Nhưng có lẽ, đi đôi với khả năng thích ứng này là sự thiếu hụt một khả năng có tầm nhìn khoa học và lâu dài. Ông nghĩ sao về nhận định này ? Và theo ông, thì người Việt thiếu, hoặc còn thiếu cái gì để có khả năng nghĩ xa, nhìn xa ?

     GW : Đây cũng là một vấn đề rất thú vị và đã được tranh cãi từ khá lâu. Một mặt, người ta nói rằng chính trị Việt Nam có khả năng thích ứng cao - Việt Nam có khả năng thay đổi đối tác khá nhanh, mặt khác, Việt Nam lại rất thích các khuôn mẫu, hay tự định hướng theo khuôn mẫu, sao chép khuôn mẫu. Nhiều nhà tâm lí xã hội học Việt Nam đã phê phán điều này và cho rằng quan tâm học hỏi bên ngoài là một ưu điểm, nhưng đồng thời cũng là một nhược điểm lớn khi Việt Nam thích sao chép mẫu hình ngoại quốc. Một thời gian dài người ta sao chép, hoặc tìm cách sao chép mô hình Liên Xô, bây giờ thì người ta sao chép mô hình Trung Quốc.

     Vấn đề quan trọng trong chính sách cải tổ không chỉ là thích ứng, mà còn là tổ chức thực hiện. Ví dụ như trên lĩnh vực chính trị, người Việt Nam cho rằng đã chiến thắng những kẻ thù rất mạnh, đã đạt được độc lập ; nhưng vấn đề sẽ được đặt ra là : Nền độc lập đó phải được tổ chức thực hiện ra sao ? Phải làm thế nào để sự độc lập quốc gia trở thành một nền tảng cho sự phát triển kinh tế ? Tôi cho rằng người ta còn ít nhận thức được điều quan trọng này. Đó là trường hợp vào năm 1975 : Việt Nam đã phải hi sinh cực lớn để dành độc lập và thống nhất, nhưng khi độc lập, thống nhất đã đến thì phải khẳng định rằng, người ta đã hoàn toàn không có một phương án rõ ràng và khả thi cho quốc gia, người ta hoàn toàn không biết phải thực hiện thống nhất đất nước như thế nào, phải làm gì để thúc đẩy phát triển kinh tế trên một quốc gia có hai cấu trúc kinh tế khác hẳn nhau. Người ta đột nhiên đứng giữa Sài Gòn và giật mình tự hỏi : "Phải làm gì bây giờ ?". Điều này có thể là đương nhiên khi hàng chục năm trời người ta chỉ chú ý đến những tính toán quân sự và không thể quan tâm tới các vấn đề kinh tế. Nhưng ngày nay, sẽ là một sai lầm lớn nếu như người ta quá quan tâm đến các khuôn mẫu và ít bận tâm suy nghĩ rằng : Chúng ta có thể tự làm được gì ? Đâu là một phương án kinh tế đặc thù của Việt Nam ?

     PVV : Có một chi tiết trong chuyện cóp nhặt mô hình từ bên ngoài : hình như giới lãnh đạo Việt Nam chỉ quan tâm tới những khuôn mẫu đảm bảo quyền lực độc tôn của họ, còn đối với những mô hình ví dụ như của Phương Tây, người ta không chú ý đến những ưu điểm của chúng, mà chỉ nghĩ là, nếu theo mô hình này thì chúng ta sẽ phải cuốn gói ra đi. Ông có nghĩ thế không ?

     GW : Tôi cho là có nhiều con đường khác nhau, và sẽ quá là đơn giản nếu nghĩ rằng một bên là con đuờng Trung Quốc, một bên là con đường dân chủ nghị viện như ở Âu Châu. Sự phát triển trên thế giới ngày càng đa dạng, và chắc chắn là không chỉ có mô hình Trung Quốc hay mô hình Phương Tây : Ngay cả thể chế dân chủ ở Đức, Pháp, Anh hay Mỹ - tuy là theo những nguyên tắc giống nhau, nhưng lại có những nét đặc thù riêng, những dạng thái khác nhau. Do vậy, ở Việt Nam có thể sẽ có một hệ thống xã hội khác biệt, dân chủ được hợp pháp hóa, nhưng theo một dạng thái khác. Ngay như ở Thái Lan, nơi có một nền dân chủ thực sự, nhưng lại có những sắc thái rất riêng, và có lẽ Việt Nam cũng nên như vậy. Theo tôi, do truyền thống đặc thù, một cơ cấu dân chủ như ở Phương Tây sẽ không thể có tại Việt Nam.

     PVV : Một vấn đề nữa cũng về yếu tố con người : nhiều người ở Việt Nam cho rằng sau tình trạng đói khổ trong quá khứ thì hiện nay, tham nhũng lại có chức năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, rằng không phải ý thức hệ, mà chính là tham nhũng, hối lộ mới là những yếu tố kích thích, thậm chí còn là cần thiết cho sự thăng tiến kinh tế.

     GW : Tôi tin rằng, trong giai đoạn đầu của cải tổ thì tệ tham nhũng có một vai trò quan trọng, và nhiều khi là vai trò tích cực. Lí do là có rất nhiều thứ không thể đi được bằng con đường hợp pháp. Nhưng, đến một giai đoạn phát triển nào đó thì tham nhũng, trước hết là sẽ bùng phát, và sau nữa là sẽ ngày càng cản trở mạnh hơn tiến trình phát triển. Với mức độ phát triển kinh tế hiện nay, nhất là trên lĩnh vực công nghiệp, thì tham nhũng đã không còn chức năng tích cực như ở giai đoạn đầu nữa, nó đã trở thành một vấn nạn lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài và cho cả giới doanh gia Việt Nam. Một vấn đề lớn phía Việt Nam cần phải giải quyết nữa là hệ thống tài chính nhà nước, là hệ thống thuế khóa. Có thể nói rằng ngân sách thu thuế của Việt Nam thấp đến mức hầu như không đáng kể. Tất cả những vấn đề này phải được giải quyết dựa trên những bước đi đáng tin cậy để kinh tế tiếp tục thăng tiến, để có thể được tiếp nhận vào WTO, và để có thể tránh được thực trạng hiện nay là 30% ngân sách quốc gia được thu từ thuế nhập cảnh. Người ta phải tính đến khả năng thu thuế nội địa. Hiện nay, công ti nào ở Việt Nam mà đóng thuế vẫn bị coi là công ti "ngớ ngẩn, không biết cách làm ăn". Chẳng có một nhà nước nào có thể được vận hành một cách lâu dài dựa trên thực tế này.

     PVV : Nếu tham nhũng đã trở thành một thói quen thì có lẽ nó không chỉ gây tổn hại đối với kinh tế, mà còn là một hủy hoại đạo đức xã hội. Đối với tiến triển lâu dài của một quốc gia, phải chăng sự hủy hoại này sẽ mang lại những hậu quả khôn lường ?

     GW : Đó chính là một vấn đề mấu chốt. Nạn tham nhũng không chỉ cản trở kinh tế, mà còn phá hoại cả sự phát triển chính trị. Thành thật mà nói thì tệ tham nhũng không phải chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam. Ở Đức, nếu giở báo ra thì có lẽ cứ hai ngày lại thấy một vụ tham nhũng lớn bị phanh phui, nhưng về mức độ thì tham nhũng vẫn bị ngăn chặn mạnh. Khi người ta có thể đọc nó trên báo, khi nó bị khám phá và trừng trị, thì tham nhũng sẽ được hạn chế rất nhiều.

     PVV : Trong phần tổng kết bài thuyết trình, ông nói : "Mặt khác thì cũng dễ nhận thấy rằng một khi không có cạnh tranh chính trị và không tồn tại một khung thiết chế có khả năng chuyển tải sự cạnh tranh này mà không cần đến bạo lực thì cũng không thể nào hạn chế được các tệ nạn xã hội, trước hết là vấn đề tham nhũng và lạm dụng chức quyền". Xin đặt cho ông những câu hỏi cuối cùng : Thứ nhất, có phải cạnh tranh chính trị ở Việt Nam chỉ là nhằm chống nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội, hay là nó còn có những tác dụng khác, ví dụ tiến hành cải tổ không phải chỉ là để hợp pháp hóa sáng kiến hay do áp lực từ bên dưới, hoặc để không kìm hãm và làm ngưng trệ cải tổ ?

     GW : Cạnh tranh chính trị không phải chỉ để chống tham nhũng và tệ nạn xã hội. Cạnh tranh chính trị, có thể nói là làm sống động mọi sinh hoạt xã hội. Người ta đã thấy là trên địa hạt kinh tế, sự cạnh tranh là một thành tố quan trọng để thúc đẩy phát triển, vậy thì điều hợp lý và tất nhiên là cạnh tranh chính trị cũng sẽ thúc đẩy các sự thăng tiến khác. Điều cần lưu ý là không hề có một mô hình chung, không hề có một "vương đạo" mở sẵn cho Việt Nam. Con đường hợp lí mà Việt Nam nên theo đuổi phải là một quá trình được dựa trên những tranh luận mở, dựa trên những sự cọ xát chính trị. Điều này có thể đòi hỏi những cố gắng lớn, nhưng chắc chắn là một điều bắt buộc. Người ta nhiều khi cứ mong muốn có một mẫu hình tiện lợi, nhưng tôi cho rằng, với thực trạng phát triển hiện nay, Việt Nam ngày càng cần phải có một hệ thống mở. Trong giai đoạn đầu của cải tổ, một nhân vật như Đặng Tiểu Bình có thể là rất quan trọng, nhưng khi tình hình phức tạp hơn thì ngay cả Đặng hay một ban lãnh đạo chính trị nào đó cũng không còn khả năng thúc đẩy, mà lúc này, người ta cần có sự thảo luận mở đối với mọi vấn đề, cần có sự cạnh tranh chính trị. Việc cạnh tranh quyền lực chính trị dĩ nhiên cũng đã có ở Việt Nam, nhưng điều quan trọng mà Việt Nam còn thiếu là một định chế khung để chuyển tải cạnh tranh chính trị một cách công bằng, một cách phi bạo lực.

     PVV : Theo ông, cái cơ cấu chuyển tải, hay là cái định chế khung này có hình dáng ra sao ?

     GW : Cũng như đối với các vấn đề khác, ở đây cũng không thể có một mẫu hình chung, không thể có một đề nghị cụ thể được đưa ra từ bàn giấy. Đồng thời, cũng có rất nhiều kinh nghiệm tương ứng đáng nghiên cứu mà Việt Nam có thể ứng dụng tùy hoàn cảnh cụ thể. Điều quan trọng nhất ở đây là phải thỏa thuận được những điều kiện khung, những "luật chơi" chắc chắn. Khi xem xét phát triển hiện nay tại Việt Nam, rõ ràng là có sự cạnh tranh quyền lực, như giữa trung ương và địa phương, hay trong nội bộ trung ương, v.v., nhưng tất cả sự cạnh tranh này đều không theo những "luật chơi" cố định- ví dụ như trong một thể chế dân chủ nghị trường với những diễn biến rõ ràng làm cho mọi người xác định được sự khác biệt chính kiến và phải cùng nhau tìm kiếm những giải pháp trung hòa. Vấn đề của Việt Nam là mọi tranh giành quyền lực đều được diễn ra "sau cánh cửa đóng kín" và được giải quyết bằng những mạng lưới quan hệ cá nhân ở mức độ cao, dẫn đến những quyết định chính trị không hợp lí, không hợp lòng dân. Đây là một vấn nạn làm cho bất kì ai ở Việt Nam cũng phải dị nghị : người nào cũng có suy nghĩ riêng, vậy thì phải chăng quyết định này quyết định nọ được đưa ra là do ông này là bạn ông kia, hay là do ông kia là kẻ thù của ông nọ. Đối với một tiến trình chính trị, đây là một điều hết sức nguy hiểm vì nó liên quan tới những sách lược quan trọng của một quốc gia.

     PVV : Nếu nói về sự trong sáng, rõ ràng trong các tiến trình chính trị, thì gần đây, giới truyền thông ở Việt Nam đã đăng tải rất nhiều về chuyện tranh luận công khai ở quốc hội, về chuyện bộ trưởng này bộ trưởng kia bị đại biểu quốc hội chất vấn, phê phán. Liệu rằng thế đã đủ là "dân chủ"?

     GW : Gọi là "dân chủ" thì rõ ràng là chưa đủ. Nhưng chắc chắn đó cũng là một tiến bộ quan trọng phải tiếp tục phát huy, tới khi mà bộ trưởng không những chỉ bị chất vấn, mà còn bị truất quyền bởi quốc hội, chứ không phải bởi ban lãnh đạo Đảng. Người ta thấy rõ trong vụ án Năm Cam vừa qua, khi mà có hàng loạt cán bộ - kể cả cán bộ cao cấp, bị ra tòa và bị tuyên án nặng, nhưng ai bị điều tra, ai bị tuyên án thì đã được chỉ đạo từ trước đó. Tại đây, người ta cũng thấy rõ sự lúng túng của giới lãnh đạo Việt Nam: một mặt họ muốn quảng bá vụ này để chứng tỏ nền pháp quyền của Việt Nam, mặt khác, họ lại không muốn công khai hết mọi sự thật, ví dụ như tổng cộng có bao nhiêu quan chức nhà nước và cảnh sát đã dính líu tới vụ bê bối. Tức là ai bị phê phán, ai bị mất chức thì đã được quyết định từ trên xuống, chứ không phải từ dưới lên.

     PVV : Có nghĩa là câu hỏi được đặt ra đã nằm trong quy định, câu trả lời hay cả người trả lời cũng phải nằm trong ranh giới, và cả giới truyền thông cũng chỉ có thể chuyển động trong những khuôn khổ đó. Tức là hoàn toàn không có dân chủ theo đúng nghĩa ?

     GW : Không, đó chưa phải là dân chủ thực sự. Nhưng phải nói rằng khi một bộ trưởng bị chất vấn công khai, thì người ta cũng sẽ mạnh dạn hơn khi đối đáp với các cấp lãnh đạo tỉnh và địa phương. Rõ ràng là ở Việt Nam còn chưa có dân chủ thực sự, nhưng ý niệm về dân chủ đã gia tăng, và điều này có tác dụng tích cực của nó. Người dân sẽ nghĩ: "Lần này đã thế, vậy thì lần sau cũng không có gì phải ngại".

     PVV : Vâng, đó là một điều tích cực. Nhưng khi ông đề cập đến "cạnh tranh chính trị" ở hội thảo, phản ứng của cử toạ ra sao ?

     GW : Dĩ nhiên là có những ý kiến phản bác. Người ta nói rằng ở Việt Nam cũng đã từng có cạnh tranh chính trị, rằng họ không muốn có một tiến triển chính trị như ở Liên Xô. Giới lãnh đạo Việt Nam vẫn coi sự kiện ở Liên Xô cũ như một con ngoáo ộp có tác dụng răn đe. Theo tôi, thí dụ này không thuyết phục, vì sự phát triển tại hai quốc gia là hoàn toàn khác biệt. Ở Liên Xô, sự thay đổi chính trị diễn ra quá nhanh và không được dân chủ lắm, nó đã tạo ra một thể chế dân chủ hình thức trong khi toàn bộ xã hội lại không được trải qua một quá trình dân chủ hóa và cũng không được dựa trên một nền tảng kinh tế tương ứng. Ở Việt Nam thì tình hình lại khác : chúng ta có một sự thăng tiến kinh tế, trong nhiều lĩnh vực chúng ta đã có sự tản quyền - ai cũng biết rằng khi mất quyền kinh tế thì quyền lực chính trị cũng chẳng còn, trong khắp xã hội đã phát sinh những lực lượng không phụ thuộc có khả năng đóng góp những vai trò quan trọng. Nếu Việt Nam không tạo lập những điều kiện khung để cho những lực lượng này có tiếng nói thì sẽ có nguy cơ dẫn đến những phát triển bột phát bất lợi hơn nhiều so với dự tính của giới lãnh đạo hiện nay, ví như càng đậy kín một cái nồi áp suất cao thì đến một lúc nào đó nó sẽ nổ tung. Có nghĩa là con ngoáo ộp vẫn được mang ra hù dọa sẽ có thể xuất hiện tại Việt Nam nếu như người ta không tạo điều kiện cho những lực lượng đã độc lập về kinh tế không những được nói lên chính kiến của mình, mà còn phải được tham gia vào quá trình quyết định chính trị.

     PVV : Vậy thì ông đánh giá thế nào về khả năng cải tổ của ban lãnh đạo Việt Nam ? Liệu họ có muốn cải tổ không? Hay là họ có khả năng dẫn dắt cải tổ không ?

     GW : Ý muốn thì có, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm rõ rệt về đường bước cải tổ, cải tổ nên đến mức độ nào, phải đến mức độ nào. Tôi cho rằng ban lãnh đạo Việt Nam nhiều khi tự đánh giá mình quá cao trong việc lèo lái, lãnh đạo một tiến trình chính trị, và đánh giá quá thấp những diễn biến đang thực sự xảy ra. Vấn đề chính không phải ở chỗ là phải đối phó với "cánh bảo thủ đầu óc bê tông", mà điều quan trọng nhất là phải nhận biết được mức độ và những yêu cầu cơ bản của quá trình cải tổ.

     PVV : Khi thảo luận ở Hà Nội, liệu đã có ai đưa ra một lịch trình thời gian cho quá trình cải tổ không ?

     GW : Hoàn toàn không, và tôi nghĩ điều này rất khó. Cảm giác của tôi, kể cả khi trao đổi riêng với các đồng nghiệp Việt Nam là trong hoàn cảnh hiện nay, khi mà kinh tế đang phát triển, thì chính trị ngày càng trở nên ít năng động. Người ta nghĩ rằng : kinh tế đang lên, vậy thì thay đổi làm gì? Và nếu thay đổi, thì tấm gương Liên Xô đang còn đó. Tôi cho rằng, ý thức về cải tổ chính trị và xã hội chỉ có thể nảy nở khi xuất hiện một cuộc khủng hoảng. Khi xem xét sự phát triển của Việt Nam thì những cải tổ mang tính quyết định, thậm chí rất vội vã đã chỉ xảy ra trong một tình trạng khủng hỏang : đợt khủng hoảng lương thực vào cuối những năm 70 đã dẫn đến nghị quyết 6  năm 1979, rồi 10 năm sau đó, sự sụp đổ đột ngột của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào năm 1989 đã bắt người ta ngay lập tức phải có những phản ứng đối phó, và đó là những tác dụng tích cực của khủng hoảng. Còn nếu như tình hình đang có vẻ thuận buồn xuôi gió, thì ý thức cách tân sẽ biến mất.

     PVV : Trong bài tham luận, ông có nhận định là sau giai đoạn trì trệ hiện nay, kinh tế Việt Nam sẽ phát triển. Điều này có nghĩa là không thể xuất hiện một đợt khủng hoảng sắp tới, tức là không thể trông chờ vào cải tổ chính trị trong một tương lai gần ở Việt Nam ?

     GW : Không, tôi không nghĩ như vậy ! Liệu kinh tế có tiếp tục tiến triển ở mức độ cao hay không, đó vẫn còn là một câu hỏi ngỏ, nhưng chắc chắn là với sự gia nhập WTO vào năm 2005, Việt Nam sẽ phải chịu một sức ép cải tổ cực kì lớn. Người ta phải chuyển hướng mạnh- như tôi đã nói lúc trước, ví dụ như toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia, người ta không thể cứ tiếp tục đánh thuế nhập khẩu cao, mà phải bắt đầu thu thuế nội địa v.v. Sức ép cải tổ to lớn này sẽ không cho phép Việt Nam tiếp tục cách đi hiện nay như nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn tưởng. Trên địa hạt chính trị, áp lực cũng gia tăng. Chúng ta đều biết chính phủ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn đối với vấn đề Internet. Người ta đã ra những bản án lố bịch cho nhiều người vô hại, ví dụ như đối với một thanh niên đã dịch ra tiếng Việt bài Thế nào là dân chủ lấy từ Website của Sứ quán Mỹ, trong khi bất kì một người Việt Nam biết tiếng Anh nào cũng có thể đọc nó thoải mái từ Website trên. Đầu tiên họ kết án anh ta 12 năm tù, rồi lại giảm xuống còn 5 năm. Điều này chứng tỏ ban lãnh đạo Việt Nam hoàn toàn không có một kế sách. Cách hành xử đối với Phật Giáo hiện nay cũng vậy. Tất cả cho thấy người ta vẫn sử dụng những biện pháp từ cách đây 10, 15 năm để tìm cách đối phó với những biến chuyển hiện tại. Nhưng thời thế đã đổi khác. Những biện pháp ngày nay, dù là cứng rắn, cũng không thể ngăn cản được những diễn biến chính trị như trong quá khứ. Người ta có thể còn khả năng ngáng trở chỗ này chỗ kia, nhưng không thể có khả năng kiểm soát tiến trình phát triển này một cách lâu dài và liên tục. Tôi có cảm nhận là cách hành xử này không thuyết phục đuợc, ngay cả đối với những người trung thành với chế độ. Trong tiếp xúc, tôi không hề thấy ai cho rằng điều này là hợp lí, rằng các cá nhân này là phản động hay là phá hoại quốc gia.

     Nhưng đó có vẻ là một đề tài bị cấm kỵ, không chỉ từ phía những người lãnh đạo, mà cả từ phía những người tôi có cảm giác là cởi mở và có thể nói chuyện thẳng thắn. Đó là chuyện mà người ta “không bàn luận với người nước ngoài”. Họ chỉ xua nhẹ tay, nháy nháy mắt : "Trời hôm nay đẹp quá...".

     PVV : Thưa tiến sĩ Gerhard Will, cảm ơn ông về cuộc nói chuyện và xin hẹn ông vào dịp khác.

Phạm Việt Vinh thực hiện

Berlin, 17-12-2003

  [an error occurred while processing this directive]