VIỆT
NAM : CHẾ ĐỘ NHÂN QUYỀN NÀO ?
Phạm Trần
Hoa Thịnh Đốn.- Báo trong nước hôm 23-11 (2004) đồng loạt đăng một bản tin
làm cả thế giới phì cười. Cười không phải vì là tin ngộ nghĩnh hay chuyện
ngược đời mà là lời tuyên bố ngu ngơ của Lê Nam, Trưởng phòng Băng đĩa nhạc
của Bộ Thông tin – Văn hoá đã khoác cho chế độ độc tài Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam chiếc áo “Chế độ nhân quyền Việt Nam.”
Lời tuyên bố này được đưa ra khi Cục Nghệ thuật Biểu diễn công bố quyết
định cấm lưu hành, trình diễn các Tác phẩm băng – dĩa của hai Ca sĩ Bằng
Kiều và Thu Phương đang định cư ở Mỹ. Các Tác phẩm âm nhạc do Bằng Kiều
sáng tác cũng bị cấm sử dụng dưới mọi hình thức.
Hai Nghệ sĩ này còn bị tước mất quyền Nghệ sĩ và Quốc tịch Việt Nam.
Tại sao như thế ? Tin của hãng Tin nhanh Việt Nam (VNExpress) giải thích: “
Hôm qua (22/11), Cục Nghệ thuật Biểu diễn - Bộ VHTT đã gửi Công văn đề
nghị không sử dụng dưới mọi hình thức các tiết mục của 2 ca sĩ Bằng Kiều,
Thu Phương và các bài hát do ca sĩ Bằng Kiều sáng tác....”
“Thời gian qua , 2 ca sĩ Bằng Kiều và Thu Phương đã tự ý rời bỏ Tổ quốc,
sang Mỹ theo đường du lịch với mục đích xin được định cư và biểu diễn tại
Mỹ. Vì thế, 2 ca sĩ này đã có những phát biểu xuyên tạc tình hình đất nước
và chế độ dân quyền để những thế lực phản động, thù địch lợi dụng, vu cáo
chống phá chế độ ta...”
“Trả lời phỏng vấn VietNamNet, ông Lê Nam - Trưởng phòng Quản lý Băng
đĩa nhạc Cục Nghệ thuật Biểu diễn cho biết: "Thu Phương và Bằng Kiều là
những ca sĩ nhận được rất nhiều ưu đãi của nhà nước.... Nhà nước Việt Nam đã
tạo mọi điều kiện để họ hoạt động âm nhạc tốt nhất. Vậy mà, khi sang Mỹ bằng
con đường du lịch, họ đã tìm mọi cách ở lại và có những câu nói phản bội lại
đất nước.”
Trong một bản tin khác, Lê Bảo viết trong VNExpress: “ Về điều này, ông
Lê Nam - Trưởng phòng Băng đĩa nhạc - nói rõ thêm, Bằng Kiều và Thu Phương
đã vi phạm pháp luật Mỹ, khi cố tình lợi dụng danh nghĩa đi du lịch để ở lại
Mỹ. Theo ông Nam, để chứng minh "lòng chân thành và sự tình nguyện" đối với
Mỹ, hai ca sĩ đã không ngần ngại xuyên tạc, nói xấu chế độ nhân quyền Việt
Nam.”
Có lẽ đây là lần đầu tiên Bộ Văn hoá - Thông tin và một viên chức Nhà
nước đã khoác cho chế độ độc tài, độc đảng Việt Nam chiếc áo “dân quyền và
nhân quyền”.
Nhưng thứ “dân quyền và nhân quyền” này ở đâu ra ? Người dân trong nước
không có và cũng chưa biết bao giờ mới được hưởng. Nhiều lãnh tụ Tôn
giáo, Nhân sĩ cựu đảng viên, Cựu chiến binh và Trí thức đã bị vào tù ra khám
nhiều lần chỉ vì đã can đảm đòi Nhà nước tôn trọng quyền làm người của họ
và yêu cầu Nhà nước không được xâm phạm các quyền của công dân ghi trong
Hiến pháp.
Trường hợp của Qúy Đức Tăng thống Huyền
Quang, Hoà thượng Quảng Độ (GHPGVNTN), các ông BS Nguyễn Đan Quế , Hoàng
Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sỹ Phu, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Phạm
Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn v.v…đã làm chứng cho những việc làm
không ngay thật của Nhà nước.
Bằng chứng là trong chế độ hiện nay, người dân không được phép hội họp, nếu
không có phép và phải trình trước nội dung buổi họp. Họ cũng không được lập
Đảng chính trị đối lập với đảng CSVN hay lập Hội tư nếu không nhập vào Mặt
trận Tổ quốc, cơ chế tập trung các tổ chức chính trị-văn hoá-xã hội-tôn giáo
để hậu thuẫn cho Đảng.
Người dân chỉ có tự do và dân chủ theo những điều kiện và trong phạm vi đảng
cho phép.
TRẮNG – ĐEN
Thực tế thì như thế mà Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, Lê Dũng vẫn có thể nói
khơi khơi : “ Quyền con người là mối quan tâm chung của cả nhân loại.
Chúng tôi cho rằng quyền con người là quyền của mỗi người dân và mỗi dân tộc
được sống trong độc lập, tự do, tự quyết định vận mệnh của mình và quyền
phát triển về mọi mặt. Vấn đề quyền con người vừa mang tính phổ biến, vừa
mang tính đặc thù, phù hợp với lịch sử và văn hóa của mỗi dân tộc. Là một
dân tộc đã trải qua đấu tranh gian khổ để giành những quyền tự do cơ bản
nhất là được sống trong độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam hiểu rõ giá trị
của quyền con người. Ở Việt Nam, các quyền công dân được ghi nhận trong Hiến
pháp và được tôn trọng trên thực tế. Nhà nước Việt Nam luôn tạo những điều
kiện thuận lợi nhất để bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của
công dân.” (Tin Bộ Ngoại giao ngày 18-12-2003)
Trong lĩnh vực truyền thông,
người dân Việt Nam không được quyền ra báo, lập đài phát thanh-truyền hình
và các dịch vụ xuất bản. Quyền này là của riêng Đảng và Nhà nước. Các cơ
quan ngôn luận là của các Tổ chức Đảng và người làm báo là cán bộ của Nhà
nước có nhiệm vụ phục vụ và tuyên truyền cho các chính sách và kế hoạch của
đảng.
Chế độ kiểm duyệt in ấn, kiểm soát trình diễn nghệ thuật được Ban Tư tưởng
– Văn hóa Trung ương và địa phương thi hành nghiêm ngặt và tinh vi. Nghệ sĩ
không được viết sao nói vậy. Các sáng tác Văn học, Kịch nghệ,Điện ảnh,Hội
họa, Nhiếp ảnh cho đến diễn xuất của các diễn viên, trình diễn, trang phục,
đầu tóc của nghệ sĩ đều phải kiểm duyệt trước.
Các Tổ chức Nhân quyền và bảo vệ quyền tự do Ngôn luận đã nhiều lần lên án
Việt Nam độc quyền thông tin báo chí để phục vụ đảng cầm quyền. Nhưng Lê
Dũng vẫn giương cổ cãi lại : “Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ thông tin sai
lệch, không khách quan về Việt Nam mà Tổ chức Ân xá Quốc tế đưa ra trong báo
cáo ngày 26/11/2003. Nhân đây, một lần nữa chúng tôi xin khẳng định ở Việt
Nam, các quyền tự do cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp và được đảm bảo trên thực tế.
Người dân Việt Nam được tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiếp cận, khai thác
và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet. Không có ai bị giam giữ vì
lý do chính kiến, chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng
các quy định của pháp luật Việt Nam.” ( Bản tin ngày 26-11-2003)
Các Tôn giáo phải chịu sự giám sát của Nhà nước. Tôn giáo nào không chịu
làm theo những điều kiện của Nhà nước đều bị chống phá, kìm kẹp, khủng
bố. Giáo hội Công giáo, dù đã cố gắng chiều theo Nhà nước để tồn tại mà
vẫn bị làm khó đủ điều, nhất là trong lĩnh vực tuyển sinh tu học, bổ nhiệm
Linh mục, Tu sĩ đi phụ trách giáo xứ, và xin truyền chức các Linh mục và
Giám mục.
Sự lựa chọn các chức vị lãnh
đạo không còn thuộc quyền nội bộ của mỗi Tôn giáo mà hoàn toàn lệ thuộc vào
quyết định của Ban Tôn giáo Nhà nước.
Đối với các Tôn giáo mà Hà Nội không cho
hoạt động như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn Quang) do Tăng
thống Thích Huyền Quang và Hoà thượng Quảng Độ lãnh đạo và các phái đạo Tin
lành đòi độc lập với hai Giáo hội Tin lành miền Nam và miền Bắc được Nhà
nước yểm trợ, như giáo phái Mennonite trên Tây Nguyên (Cao Nguyên miền Nam
cũ), thì Nhà nước áp dụng mọi biện pháp, kể cả võ lực và bỏ tù để ngăn
cấm.
Nạn nhân mới nhất của các biện pháp cấm đoán này là Mục sư Nguyễn Hồng
Quang của giáo Tin lành Mennonite. Ông đã bị bắt giam và bị phạt tù 3 năm
cùng với các cộng sự viên ngày 12/11/2004. Linh mục Công giáo Nguyễn Văn
Lý, nổi tiếng chống đối chính sách áp bức tự do tôn giáo của nhà nước cũng
đã ngồi tù từ năm 2001.
Tất cả những hành động này còn được tăng cường bởi Pháp lệnh kìm kẹp Tín
ngưỡng, Tôn giáo ban hành ngày 18-6-2004. Một trong những điều cấm kỵ
nghiêm khắc nhất là không cho phép việc thờ phượng tại gia của người theo
đạo và các chức sắc đạïo Tin lành ở vùng Tây bắc (Thượng du Bắc Việt cũ) và
Tây nguyên Việt Nam (trên Cao Nguyên miền Nam).
Sự thật đã rõ như như thế mà Lê Dũng vẫn có thể phát ngôn trơn tru: “
Ở Việt Nam quyền tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng của công dân
được pháp luật bảo đảm và được tôn trọng trên thực tế. Tín đồ các tôn giáo,
trong đó có tín đồ Công giáo, được tự do hành đạo theo đức tin của mình.” (Tin
ngày 22-11-2003)
Tiếc rằng vải thưa không che
được mắt thánh. Các nhân chứng ở trong nước, ba linh mục Chân Tín, Nguyễn
Hữu Giải và Phan Văn Lợi đã báo động với thế giới về tình hình tôn giáo
hiện nay ở Việt Nam, ngay sau phiên toà xử Mục sư Quang (12-11-2004).
Ba linh mục nói :” Chúng tôi cực lực phản đối phiên tòa phi pháp, man rợ
và bản án hết sức bất công đó (3 năm tù ). Chúng tôi xác nhận Mục
Sư Quang cùng các truyền đạo viên đã chỉ hành sử quyền công dân và quyền tự
do tôn giáo chứ không vi phạm bất cứ điều luật chính đáng nào. Chúng tôi
quyết liệt đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải lập tức trả tự do vô điều kiện
cho Mục Sư Nguyễn Hồng Quang và các cộng sự viên của ngài.”
“Trong nhiều tuần lễ qua, Mục Sư Nguyễn Công Chính và nhiều mục sư lẫn tín
đồ cũng thuộc Hội Thánh Tin Lành Mennonite tại Tây Nguyên đã bị chính quyền
đàn áp một cách thô bạo qua việc phá nơi thờ tự của họ và buộc họ phải từ bỏ
đức tin. Chúng tôi hết lòng chia sẻ nỗi đau thương của Mục Sư Nguyễn Công
Chính cùng các cộng sự viên và tín đồ của ngàị. Chúng tôi coi đó cũng là
nỗi khổ đau của chúng tôị. Chúng tôi xin được gọi Mục Sư Chính và Mục Sư
Quang là những mục tử nhân lành đích thực và là những vị lãnh đạo tinh thần
xứng danh. Chúng tôi quyết liệt yêu cầu nhà cầm quyền CSVN chấm dứt mọi sự
đàn áp tín đồ tôn giáo Tây Nguyên vốn cũng là đồng bào Việt Nam ruột thịt.”
Đối với Pháp Lệnh Tôn Giáo có hiệu lực từ ngày 15-11-2004, ba Linh mục
viết : “ Nạn nhân đầu tiên của bộ luật quái đản này có lẽ là các Hội
Thánh Tin Lành tại gia. ï Chúng tôi xin được cùng quý Hội Thánh tuyên bố
thẳng với nhà cầm quyền CSVN rằng các tôn giáo phải được tự do thành lập và
tự do sinh hoạt bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, bằng bất cứ cách thức và với
bất cứ phương tiện chính đáng nàọ. Không một quyền lực nào trên trần gian
được cấm cản hoạt động tôn giáo vốn là một nhu cầu thiết yếu, một quyền lợi
thiết thân của con người cũng như của xã hộị.”
“Chúng tôi tha thiết kêu gọi toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước và
mọi người thiện chí khắp thế giới hãy cùng hợp lực với mọi lãnh đạo tinh
thần đang tranh đấu tại Việt Nam để đập tan gông cùm Pháp Lệnh Tôn Giáo của
CS, vì pháp lệnh này không những là hiểm họa cho các tôn giáo mà còn cho cả
dân tộc đất nước đang ngày càng đi xuống hố sâu của sự hủy hoại tinh thần,
luân lý, văn hóa, phong tục và nhân cách, mà thủ phạm chính là chế độ CS vô
thần, toàn trị, chuyên chế.” (Việt Nam, ngày 13-11-2004)
LIÊN HIỆP QUỐC
Sau hai ngày lên tiếng của ba Linh mục Công giáo, Tổ chức Nhân quyền Freedom
Now hôm 15-11 (2004) loan báo quyết định của Nhóm Hành động Liên Hiệp Quốc
về giam cầm bừa bãi (United Nations Working Group on Arbitrary Detention)
đã xác nhận việc Chính phủ Cộng sản Việt Nam giam giữ Bác sĩ Nguyễn Đan
Quế là phi pháp, vi phạm nghiêm trọng luật pháp Quốc tế và tất cả các Tuyên
ngôn Quốc tế về Nhân quyền và các quyền Tự do của con người.
Quyết định của Liên Hiệp Quốc,
thông qua ngày 16-9-2004, bởi các Thẩm phán của Algeria, Paraguay, Spain
(Tây Ban Nha), Hungary(Hung Gia Lợi) và Iran (Ba Tư) đã đòi Nhà cầm quyền
Việt Nam phải thả Bác sĩ Quế ngay lập tức.
Sở dĩ tin của Freedom Now phổ
biến chậm là vì Liên Hiệp Quốc không muốn Việt Nam bị mất mặt với Thế giới
nên đã giữ kín quyết định của 5 Thẩm phán để trao cho Chủ tịch Nhà nước Trần
Đức Lương có thời giờ nghiên cứu. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có phản ứng nào
về quyết định của Nhóm Hành động Liên Hiệp Quốc.
Bác sĩ Quế, 62 tuổi đã bị Cộng sản Việt bắt giam không xét xử và bỏ tù 18
năm kề từ cuối thập niên 1970 vì ông đã can đảm đòi Nhà nước thực thi dân
chủ, tôn trọng tự do và dẹp bỏ chế độ độc tài, độc đảng.
Sau khi ra khỏi nhà giam, Bác sĩ Quế tiếp tục lên án chế độ và từ chối ra
khỏi nước để đổi lấy tự do. Việc ông ở lại quê nhà để tranh đấu đã gây nhức
nhối cho đảng và nhà nước Việt Nam. Vì vậy, vào ngày 17-3-2003 ông lại bị
bắt giam vì dám phổ biến lời tuyên bố trên Internet lên án Nhà nước độc
quyền thông tin báo chí và cấm miệng người dân trong nước. Sau một phiên
toà xử kín ngày 29-7-2003, ông bị phạt tù thêm 30 tháng.
Hành động đàn áp Bác sĩ Quế ,
một Nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền kiên trì và nổi tiếng nhất Việt
Nam đã gây phẫn nộ cho Chính phủ Mỹ, Liên Hiệp châu Âu và các Tổ chức Nhân
quyền trên Thế giới. Bây giờ lại đến lượt Liên Hiệp Quốc nhìn nhận quyền làm
người của ông bị Nhà nước CSVN trắng trợn vi phạm thì những lời tuyên bố
khoe khoang về nhân quyền và tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam có
còn giá trị gì với nhân dân thế giới ?
Chẳng nhẽ Trưởng phòng Băng đĩa nhạc Bộ Văn hoá – Thông tin Lê Nam không
nhìn ra nên mới khoác nhầm chiếc áo “chế độ nhân quyền” cho chế độ hay là
hành động giã từ chế độ của hai ca sĩ Bằng Kiều và Thu Phương đã làm cho Nhà
nước sáng mắt ra ?
Phạm Trần (12-04) |