[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Thực trạng và tương lai của Trung Quốc

Nguyễn Minh

Xã hội Trung Quốc trên đà phát triển ?

     Ngày 20-1-2004 Cục Thống Kê Quốc Gia Trung Quốc cho biết tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc năm 2003 là 9,1%. Đây là một tỷ lệ kỷ lục cao nhất từ 1997 (8,8%) đến nay. Cụ thể như sau : quý 1 tăng 9,9% ; quý 2 giảm xuống còn 6,7% (vì bị ảnh hưởng bởi dịch cúm SARS) ; quý 3 tăng lên 9,6% ; quý 4 là 9,9%. Với thành tích này, lợi tức đầu người/năm của Trung Quốc lần đầu tiên vượt trên con số tâm lý1.000 USD. Con số đúng nhất là 1.090 USD/đầu người/năm.

     Nguyên do của sự bội phát này là bối cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của xã hội Trung Quốc chuẩn bị tổ chức Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 và Hội Chợ Quốc Tế Thượng Hải 2010. Tại khắp nơi, trong hai thành phố lớn này, người ta thấy những tòa nhà chọc trời khổng lồ, các cao ốc thương nghiệp dùng làm văn phòng cho mướn mọc lên như nấm. Nửa khuya người ta còn thấy những đốm lửa xanh hàn xì cắt sắt từ các công sự nhà cao tầng không ngừng bay trong không khí, như pháo bông trắng xanh trên bầu trời Bắc Kinh và Thượng Hải. Có thể so sánh sự tưng bừng này với không khí náo nhiệt tương tự của Nhật Bản trong thập niên 1960 khi chuẩn bị tổ chức Thế Vận Hội Tokyo (1964) và Expo Osaka (1970).

     Cùng đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế vừa nói là những dự án xây cất đồ sộ đang được tiến hành nhằm đưa Trung Quốc lên hàng các quốc gia phát triển : đường xe lửa cao tốc Bắc Kinh-Thượng Hải dự định khai trương vào năm 2008, tương tự như đường Shikansen (Đông Hải Đạo) của Nhật năm 1964 ; đập Tam Hiệp lớn nhất thế giới cũng dự định hoàn thành vào năm 2009 ; hệ thống ống dẫn khí đốt ("Tây khí Đông du") dài hàng ngàn dặm từ thung lũng Talin (Tân Cương) đến các đô thị công nghiệp bên bờ Đông Hải. Tất cả những công trình tầm vóc này đều mô phỏng theo các kế hoạch xây dựng hạ tầng cở sở đại qui mô của thủ tướng Ikeda (thập niên 1960) và chương trình "cải tạo quần đảo Nhật" của thủ tướng Tanaka (thập niên 1970).

     Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh là tiếp tục giữ tỷ lệ phát triển mỗi năm trên 7% từ 10 đến 20 năm. Như vậy từø năm 2000 đến năm 2010 tổng sản lượng quốc nội (GDP) phải tăng lên vượt bực. Để biến ước mơ thành sự thật, Bắc Kinh dự trù năm 2020, tức 20 năm tới, GDP sẽ tăng gấp 4 lần so với năm 2000. Cụ thể hơn, Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc ước tính đến năm 2010, GDP của Trung Quốc sẽ là 1.920 tỷ USD. Nếu so với Nhật hiện nay (GDP năm 2003 khoảng 4.000 tỷ USD), con số này quá thấp nhưng Bắc Kinh hy vọng đến năm 2010 mãi lực của người Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật, và cứ theo đà này GDP năm 2025 của Trung Quốc sẽ vượt xa Mỹ ! 

Sau năm 2010 ?

     Trước những dự đoán lạc quan xa rời thực tế vừa nói, hầu hết các chuyên gia nước ngoài am hiểu tình hình Trung Quốc cho biết sau khi tổ chức Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 và Hội Chợ Quốc Tế Thượng Hải 2010 xong, quả bóng kinh tế của Trung Quốc, được bơm hơi quá sức chịu đựng, có thể sẽ bị nổ bùng hoặc xì hơi rất nhanh. Lý do :

     - Giá thuê và bán các văn phòng trong các cao ốc, được xây cất tràn lan vượt quá nhu cầu thực tiễn, sẽ bị xuống giá thê thảm và gây ra một cuộc khủng hoảng tài chánh vì các công ty xây dựng địa ốc không còn đủ khả năng trả nợ ngân hàng quốc tế và quốc nội.

     - Ngay trước khi thế vận hội bắt đầu, do sức ép của Mỹ-Nhật, đồng Nguyên (Nhân Dân Tệ) của Trung Quốc buộc phải lên giá hoặc bị thả nổi, thu nhập của dân chúng sẽ bị sút giảm vì giá cả hàng hóa gia tăng. Hậu quả của tình trạng này là nạn ứ đọng hàng hóa không bán được, nhiều công ty xí nghiệp sẽ bị phá sản, những cuộc sa thải nhân công hàng loạt sẽ tạo ra nhiều biến động xã hội khó lường.

     - Thêm vào đó là giá nhiên liệu (dầu hỏa và hơi đốt) mà Trung Quốc nhập khẩu ồ ạt hàng năm để thỏa mãn nhu cầu xây dựng trong nước gia tăng, ảnh hưởng đáng kể trên cước phí chuyên chở và giá thành. Trung Quốc sẽ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu hàng hóa vì giá cả đắt hơn lúc trước, nhất là cước phí chuyên chở.

     Thực ra mâu thuẫn xã hội khó giải quyết và đáng sợ nhất của Trung Quốc là "khoảng cách biệt" :

     - Bảng tường trình "Trung Quốc năm 2020" của Ngân Hàng Thế Giới, do Đại Học Havard (Mỹ) thực hiện, cho biết khoảng cách biệt giữa các khu vực, đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị, giữa các tỉnh nằm sâu trong lục địa và các tỉnh phía Đông dọc bờ biển Thái Bình Dương, ngày càng khó san bằng. Đây là vấn đề mà giới lãnh đạo Trung Quốc lo sợ nhất. Số "lưu dân" (những người nông dân từ thôn quê ra thành thị tìm việc làm, không có nơi cư trú cố định phải sống lang thang, hoặc di chuyển liên tục từ địa phương này sang địa phương khác làm việc) ngày càng đông, sẵn sàng làm bất cứ việc gì và với bất cứ giá nào. Hiện nay tổng số lưu dân tìm việc dọc vùng ven biển phía Đông của Trung Quốc đã trên 120 triệu người.

     - Một khoảng cách biệt quan trọng khác là hố sâu chia cách người giàu kẻ nghèo trong các đô thị ngày càng sâu rộng. Mâu thuẫn xã hội khó hàn gắn nhất là một số ít người được hưởng đặc quyền, đặc lợi đã khéo lợi dụng luật pháp và chế độ sống phè phởn và phô trương sự giàu có một cách đầy thách đố, trước một đám đông ô hợp chỉ ước mơ tìm được một việc làm hay có một bữa cơm trong ngày. Đây là nồi thuốc súng lớn có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, và khi bùng nổ sẽ làm tan vỡ luôn sự thống nhất của Trung Quốc. Trong tổng số 900 triệu nông dân, 30 triệu người sống dưới mức nghèo khó (chưa tới 2 USD/ngày) ; trong thực tế con số này là 90 triệu vì thống kê chỉ dựa vào các bảng kê khai của các ủy ban nhân dân địa phương chứ không tính những người không có công ăn việc làm hiện đang sống rất cực khổ. Số người nghèo khó ngày càng tăng, do không tìm được công ăn việc làm sự bất mãn của họ sẽ rất khó lường.

     Nghịch lý của xã hội Trung Quốc là tỷ lệ phát triển kinh tế càng cao, số người thất nghiệp càng tăng ! Cuối năm 2002, Bắc Kinh cho biết số người thất nghiệp thành thị là 7,7 triệu người, tương đương với 4,4% dân số hoạt động. Trong thực tế số thất nghiệp thật sự là 14 triệu (7,2%), vì số người bị cho tạm nghỉ việc (6,3 triệu người, khoảng 2,8% dân số hoạt động) không được kể vào. Theo Ủy ban thanh tra tài sản quốc hữu của chính phủ, năm 2008 sẽ có 5,1 triệu người thất nghiệp vì 2.500 xí nghiệp quốc doanh bị bắt buộc khai phá sản. Đó là chưa kể vào năm 2015 Trung Quốc sẽ có khoảng 200 triệu người già trên 60 tuổi, 4% dân số.

     Cũng nên biết hiện nay tiền trợ cấp hưu bổng thường được phát trễ vì thiếu ngân sách. Đây là một vấn nạn lớn của xã hội Trung Quốc hiện nay vì, do chính sách một con, số người đến độ tuổi lao động không tăng kịp với số người đến tuổi về hưu để có thể trích tiền lương trả cho người già. 

Thái độ cần phải có

     Với những dẫn chứng trên, quốc gia khổng lồ Trung Quốc đang sống một giai đoạn đầy thử thách. Nếu vượt qua, Trung Quốc sẽ vinh hạnh bước vào quỹ đạo nhỏ hẹp dành cho một thiểu số quốc gia giàu có và phát triển nhất thế giới. Không vượt qua nổi, đó sẽ là một thảm họa không riêng gì cho Trung Quốc mà toàn thế giới. Không ai tiên liệu được những hậu quả của đội quân thất nghiệp khổng lồ và ô hợp bất mãn gây ra. Số "lưu dân" không tìm được việc làm trong nước sẽ bằng mọi cách tìm đường di cư sang những quốc gia lân cận hoặc giàu có khác để lập nghiệp. Sự hiện diện của những di dân bất hợp pháp này sẽ gây ra nhiều căng thẳng chính trị và xã hội trong các quốc gia bị đội quân thất nghiệp này xâm nhập. "Họa da vàng" có thể xuất phát từ đây.

     Bắc Kinh phải rất khiêm nhường và thận trọng trong việc giao tiếp với thế giới bên ngoài, nhất là với những quốc gia muốn giúp Trung Quốc phát triển và ổn định. Những thành tựu ngoạn mục về kinh tế ngày hôm nay sở dĩ có được là nhờ rất nhiều vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, đúng hơn nhờ rất nhiều vào đầu tư của nước ngoài, đặc biệt là Đài Loan và Nhật Bản. Vì sau hơn 50 năm đặt dưới sự cai trị của chế độ cộng sản, lãnh thổ mênh mông của Trung Quốc chỉ bị tiêu hao và Trung Quốc  cũng chưa cống hiến cho nhân loại một phát minh có ích nào cho nhân quần.

     Tổng số tiền viện trợ cho không (ODA) của chính phủ Nhật từ 1979 đến 2003 cho Trung Quốc đã đến 3.000 tỷ Yen, khoảng 30 tỷ USD. Đây là chưa kể đến những số tiền đầu tư khổng lồ khác của tư nhân Nhật Bản, con số thực tế cao hơn gấp trăm lần. Với những ODA, Nhật Bản đã giúp Trung Quốc xây dựng được nhiều cơ sở hạ tầng to lớn từ nhà máy chế thép Bảo Sơn đến hệ thống đường xe điện Linear motorcar. Có thể nói không có cục diện phát triển kinh tế quan trọng nào của Trung Quốc trong hơn 20 năm qua mà không có viện trợ của Nhật. Nhưng từ hai năm qua, Nhật Bản bắt đầu thất vọng về hiệu quả của những viện trợ này.

     Theo tài liệu nghiên cứu của David Anasel, giáo sư đại học Pamora (Mỹ) làm cho trung tâm W. Wilson International Center (2003), thì sáu mục tiêu của viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Trung Quốc là : phát triển kinh tế ; nâng đỡ phe cải cách trong cơ cấu quyền lực trung ương ; hỗ trợ sự trao đổi giữa Nhật Bản với Trung Quốc ; chấm dứt những phê phán về hành động xấu của Nhật trước và trong thế chiến II ; giới hạn hoạt động quân sự của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên ; tạo quan hệ hợp tác tin tưởng nhau, có thiện ý với nhau.

     Hiện nay chỉ có ba mục tiêu đầu tạm thời có kết quả. Ba mục tiêu sau kết quả đã ngược lại. Trung Quốc đã không những tăng cường thêm thế lực quân sự mà còn phản đối Nhật Bản được nhận là thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Chính vì thế từ sau năm 2001, Nhật đã giảm hẳn các viện trợ ODA dành cho Trung Quốc. 

Việt Nam và viện trợ ODA của Nhật

     Người hưởng lợi trong sự thay đổi thái độ này của Nhật là Việt Nam. Từ sau năm 2001, Việt Nam là quốc gia nhận viện trợ ODA lớn nhất từ chính phủ Nhật để thực hiện những công trình kiến trúc hạ tầng lớn như xây dựng phi trường mới cho thành phố Hà Nội, hệ thống bốc hàng mới ở cảng Đà Nẵng, khu chế xuất dầu Dung Quất, mở rộng hải cảng và phi trường quốc tế Cam Ranh, v.v.

     Thật ra chương trình viện trợ ODA của Nhật đã bắt đầu từ 1998, khi giúp xây dựng nhà máy phát nhiệt điện Phù Mỹ, trung tâm vệ sinh công cộng tỉnh Nghệ An, trang bị nhà máy Platenarium cho thành phố Vinh, lập hồ sơ tân trang cảng Đà Nẵng, bảo tồn di tích ở Hội An, nghiên cứu tuyến giao thông tối ưu cho khu chế xuất Dung Quất, v.v.

     Năm 2003, Việt Nam được chính phủ Nhật viện trợ không hoàn lại khoảng 100 tỷ Yen (1 tỷ USD) để thực hiện 56 công trình trọng điểm trên qui mô cả nước và những kiến trúc hạ tầng ở cấp địa phương như đường sá, cầu cống, nhà máy phát nhiệt điện, bệnh viện, trường học, đài thiên văn… Đại sứ Nhật ở Việt Nam đã dành 30% thời giờ để đi tham quan, đôn đốc các công trình của viện trợ ODA.

     Trong sáu mục tiêu đi kèm với viện trợ ODA của Nhật, hai mục tiêu "mở rộng dân chủ" và "giới hạn hành động quân sự của Bắc Triều Tiên" đã không được phía Việt Nam tôn trọng. Nhận thấy Việt Nam đang đi theo bánh xe Trung Quốc, chỉ lợi dụng sự rộng lượng của Nhật khi cần trong ngắn hạn, chính phủ Nhật đang xét lại chương trình viện trợ cho Việt Nam. Từ 2004, các chương trình viện trợ ODA của Nhật ưu tiên dành cho Iraq.

     Việt Nam đang đánh mất một cơ may vượt khỏi sự nghèo khó chỉ vì sự thiển cận của giới cầm quyền cộng sản, từ gần 60 năm qua chỉ biết chạy theo đuôi Trung Quốc.

Nguyễn -Minh (Tokyo, tháng 32004)

  [an error occurred while processing this directive]