[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  
Những trở ngại trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Nguyễn Gia Thưởng

       Tại sao chủ nghĩa cộng sản  tại Việt Nam, tại Trung Hoa lục địa và tại Bắc Hàn vẫn còn trụ lập, trong khi chủ nghĩa này đã tàn lụi và không còn chỗ đứng khắp nơi trên thế giới ?

     Có lẽ nền văn hóa của người Việt nói riêng và người Á Đông nói chung đã có những điểm mấu chốt nào đó khiến cho chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại được tại những nơi này. Phải có một mối tương quan nào đó mà cho đến nay ít ai để ý tìm hiểu. Hoặc giả chúng ta trốn tránh không muốn biết sự thật ; hoặc giả là chúng ta đã tự mãn với bao nhiêu quá khứ mà ta cho là oai hùng và tự ru ngủ để rồi bước sang thế kỷ thứ 21 luôn mãi chấp nhận mình là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới mà không hổ thẹn. Có tìm ra được nguyên do thì chúng ta chắc chắn sẽ thoát ra khỏi những đam mê, những ngu muội đang đưa và tiếp tục đưa dân tộc Việt Nam vào vòng vong thân, vay mượn xứ người, suốt đời nô lệ mà không biết mình nô lệ. Không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa cộng sản  vẫn còn duy trì được tại Á Đông, đặc biệt là ở Việt Nam : chính chủ nghĩa cộng sản đã giúp cho Khổng giáo thực hiện được giấc mơ "thế giới đại đồng".

     Một trong những nguyên do chính của sự bén rễ của chủ nghĩa cộng sản tại Á Đông là văn hóa. Và văn hóa của người Á Đông phát xuất phần lớn từ Khổng giáo. Đã có những gợi ý nói lên sự kiện này, nhưng có lẽ vì người Việt không thích ai nói động đến mình, mặc dù là đúng, nên đã có những phản ứng gay gắt và ngừng ở phần tố khổ cá nhân đã phát biểu ý kiến nhưng không đi xa hơn nữa để tìm hiểu xem có phải đúng chủ nghĩa cộng sản  là hậu thân của Khổng giáo hay không.

     Gần đây ông Pierre Brocheux có viết một quyển sách về ông Hồ Chí Minh (1) và nghĩ rằng ông Hồ đã cố gắng đem áp dụng vào Việt Nam một nền văn hóa hỗn hợp pha trộn Khổng giáo (trong đó có Mạnh Tử, Tuân Tử và Vương Dương Minh) với chủ nghĩa Mác-Lê. Ông Brocheux đã hé mở phần nào khía cạnh tiếp nối của ý thức hệ cộng sản với văn hóa Khổng Mạnh trong phần cuối của quyển sách.

     Trong bài tham luận này chúng ta sẽ không luận công cũng như luận tội ông Hồ. Việc này chắc chắn sẽ do lịch sử trong tương lai xét xử, ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu xem đã có những hậu thuẫn nào giúp chủ nghĩa cộng sản  trụ được tại các nước Á Đông. 

Văn hóa Á Đông 

     Văn hóa Á Đông, trong đó có văn hóaViệt Nam, đã thấm nhuần từ trên ngàn năm nay ba nền đạo giáo lớn, đó là đạo Lão, đạo Khổng và đạo Phật. Cả ba nền đạo giáo này đều chú tâm đến tính hài hòa của con người với xã hội và từ chối không đi vào con đường luận lý trừu tượng.

     Một trong những câu chuyện tiêu biểu nhất của văn hóa Á Đông là chuyện "Tái Ông Mất Ngựa" hay là "Họa Phúc khôn lường" (2). Một ông lão họ Tái ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đều đến thăm hỏi. Ông lão nói : "Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu !". Cách mấy tháng con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ : "Được ngựa thế mà họa cho tôi biết đâu !". Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói : "Con què thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu !". Cách một năm có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què không phải đi lính, mà cha con vẫn có nhau.

     Câu chuyện này tóm tắt nhân sinh quan căn bản của người Á Đông đối với cuộc sống. Thế giới luôn thay đổi và đầy mâu thuẫn. "Họa trung hữu phúc, phúc trung hữu họa" (Trong cái họa có cái phúc, trong cái phúc tiềm ẩn cái họa). Đó cũng là tất cả triết lý của Kinh Dịch. Đạo Lão là nguồn gốc của nghệ thuật trị bệnh Đông phương, áp dụng nguyên lý âm dương và ngũ hành tương sinh tương khắc của Kinh Dịch. Khổng Tử không phải là một lãnh tụ tôn giáo, ông chỉ là một triết gia về luân thường đạo lý. Trong hệ thống này ông đã định vị cho tất cả những mối tương quan của con người với tha nhân, với xã hội. Khổng giáo cũng như Lão giáo không chú trọng đi tìm chân lý mà chỉ chú trọng đi tìm Đạo, tìm lẽ sống trên trần gian này hay đi tìm thầy để học Đạo để tu thành Tiên. Quan niệm thăng tiến riêng cá nhân không có ; những mỹ từ như "Vinh quy bái tổ" họặc "Áo gấm về làng" nói lên việc cá nhân đỗ đạt hay làm quan là để cả họ được nhờ. Cá nhân phải cố gắng tôn vinh dòng họ, cá nhân chỉ hiện hữu trong mối tương quan với họ hàng với xã hội, cá nhân không thể là một đơn vị độc lập. Chính vì vậy những đệ tử của Khổng giáo tin rằng bản chất con người dễ nhào nặn, uốn nắn để cho vào khuôn phép (tương đương với lò luyện "kỹ sư của tâm hồn" của Staline).

     Đạo Lão chú trọng đến thiên nhiên và cuộc sống nông thôn. Đạo Khổng chú trọng đến gia đình, đến vấn đề giáo dục và vấn đề thăng tiến kinh tế. Chính vì vậy nên người ta thường nói khi người Á Đông thành công đó là nhờ đạo Khổng, khi thất bại đó là vì đạo Lão. Có một điều rõ rệt là triết lý Á Đông thiếu hẳn môn tìm hiểu nguồn gốc của sự hiểu biết (epistémologie)(3). Tam Giáo đều quan tâm đến tinh thần hài hòa (harmonie), tính cách toàn diện (holisme) và mối tương quan hỗ tương của một sự vật với mọi sự vật. Thuyết Tam Tài nói lên sự cộng hưởng của ba yếu tố Thiên, Địa, Nhân. Ba yếu tố này giao hưởng với nhau để đi đến sự hài hòa của vũ trụ.

     Người Á Đông không thích lý luận trừu tượng, họ rất thực tiễn. Họ thích dùng những ngụ ngôn, ngụ ý và ngụ hình để răn đe dạy đời. Những triết gia Trung Hoa và người Á Đông thời nay nhìn thế giới như là một tổng hợp những biến chất (cái vòng sinh khắc của Ngũ Hành : Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa). Trong khi đó các triết gia Hy-lạp và phần đông người Tây phương nhìn thế giới là tổng hợp những sự vật rời rạc (các sự vật được cấu tạo bởi nguyên tử, phân tử, điện tử, trung hòa tử, vân vân) và họ đi tìm nguyên lý của những kết hợp đó.

     Văn minh của Trung Hoa đã đi tiên phong trong việc khám phá những kỹ thuật mới như sáng chế ra giấy, mực, kinh đào, đồ gốm, đồ sứ, la bàn, vân vân. Họ cũng biết xem xét thiên văn và chế tạo luôn cả chấn động ký (séismographe). Nhưng sau đó họ ngưng, họ không đi xa hơn nữa. Điều này chứng tỏ những phát minh mới của Trung Hoa là do óc thực tiễn hơn là do óc phân tích và tìm hiểu nguồn gốc của sự vật. Chính vì óc thực tiễn cao độ đó, nên tất cả nền triết học Trung Hoa chỉ chú trọng đến những giềng mối của con người với xã hội. Và Khổng giáo đã có công kinh điển hóa và hệ thống hóa mối tương quan này, vạch rõ những tương quan giữa vua và tôi, vợ và chồng, cha và con, bạn bè với bạn bè. Tất cả hệ thống an bài xã hội này đã khiến cho cá nhân cảm thấy mình là một thành phần nhỏ của một cơ chế to lớn hớn, ràng buộc với nhau bằng những khuôn mẫu đạo đức.

     Để so sánh với chủ nghĩa cộng sản, con người chỉ là một bộ phận nhỏ bé trong guồng máy của xã hội chủ nghĩa, có thể thay thế một cách dễ dàng không chút thương tiếc để bảo đảm cho một tương lai sáng lạn hơn cho xã hội. Đảng là đỉnh cao của trí tuệ loài người, nên đảng luôn sáng suốt và có tư cách của một minh chúa để dẫn dắt chỉ đạo con dân trên con đường sáng lạn của chủ nghĩa xã hội, nhưng đi mãi mà chẳng bao giờ tới đích. 

Ý niệm dân chủ và tự do 

     Do đó những ý niệm dân chủ và tự do là những ý niệm hoàn toàn xa lạ đối với người Việt Nam cho mãi đến giữa thế kỷ thứ 19, khi người Việt tiếp xúc với văn minh Tây phương và người Việt có được chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ thứ 17 do công trình của giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660). Tương tự, ý niệm nhân quyền cũng hoàn toàn mới lạ đối với người Việt vào thời đó và cho đến nay vẫn còn mù mờ đối với một số đông người Việt. Người Âu Châu thấm nhuần tư tưởng của những triết gia Hy-lạp coi cá nhân là một đơn vị biệt lập và cá nhân đó có mối giao ước xã hội với những cá nhân khác. Chính quyền là môi giới để bảo đảm quyền lợi, tự do và bổn phận của những cá nhân đó với nhau. Trái lại, người Việt nhìn xã hội không phải là một sự tụ họp của những đơn vị cá nhân mà là một sinh vật to lớn, trong đó cá nhân chỉ là một phần tử. Cá nhân chỉ được hưởng quyền lợi khi nào tập thể xã hội ban bố một phần quyền lợi cho cá nhân đó. Cá nhân không được coi là một thực thể độc lập, có sáng kiến, có tinh thần độc lập và có trách nhiệm. Truyền thống dân chủ phát sinh từ nền văn hóa Hy-lạp, khởi nguyên từ sự tôn trọng cá nhân và ý niệm tự do cũng phát sinh từ đó.

     Vào buổi giao thời nước Việt Nam muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa nhưng lại rơi đúng vào lúc các thế lực Tây phương đẩy mạnh phong trào mở mạng bờ cõi tiến chiếm thuộc địa. Nước Việt Nam tiếp xúc với văn minh Tây phương trong mối tương quan tớ chủ. Với sự phát sinh của chữ quốc ngữ, nguời Việt đã gỡ bỏ được phần nào ảnh hưởng của Trung Hoa, nhưng lại không may trở thành thuộc địa của Pháp. Người Việt lại không may một lần nữa: trong công cuộc tìm kiếm độc lập đất nước lại bị chia cắt làm đôi. Sau 30 năm chiến tranh ý thức hệ, anh em tàn sát lẫn nhau, lại thêm một cái không may lần nữa, nước Việt Nam đã chọn con đường gọi là "xã hội chủ nghĩa", những tưởng rằng đem lại "độc lập, tự do, hạnh phúc" cho mọi người dân. Nhưng nó đã trở thành một chế độ phong kiến mới với ông tổng bí thư có quyền lực của một vị vua, với bộ chính trị và trung ương đảng là quần thần trong cung, với cấp cán bộ tại tỉnh tại huyện, tại xã đối xử với dân như một lũ cường hào ác bá. Chủ nghĩa cộng sản  đã đưa Khổng giáo đạt đến cao điểm "thế giới đại đồng" mà nó hằng mong ước. 

Những cản trở tâm lý 

     Nền văn hóa Khổng Lão, rất thích hợp với một nền kinh tế chuyên về nông nghiệp, trong đó yếu tố con người hài hòa với thiên nhiên, với xã hội là một yếu tố nổi bật. Nhưng cho đến ngày nay, thế giới đã bước sang kỷ nguyên hậu kỹ nghệ (post-industriel). Những khuôn thước đó không còn thích hợp nữa. Không phải ngẫu nhiên mà các chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa Á Đông đang tìm cách tôn vinh trở lại Khổng Tử : bây giờ họ mới nhận định ra Khổng Tử chính là người giúp họ củng cố địa vị, giúp cho họ ổn định xã hội theo chiều hướng họ định đoạt.

     Dựa vào tâm lý hài hòa xã hội, Đảng Cộng Sản Việt Nam một mặt triệt tiêu những thành phần ưu tư đến vận mệnh của đất nước đòi hỏi thay đổi thể chế ; và một mặt kêu gọi quần chúng tham gia xây dựng đất nước. Theo như lý luận của họ, tình trạng của Việt Nam đã khá lắm rồi, chỉ nên cải thiện đôi chút là được rồi ; dân chủ đa nguyên theo kiểu Tây phương chỉ đi đến hỗn lọan. Đảng cộng sản tự nhận đã có công trạng lớn trong quá khứ, nay đảng làm gì thì làm, có độc tài, có đàn áp đi nữa, nhân dân cần phải kính trọng đảng, vì đảng hiện nay đang ổn định trật tự xã hội, đảm bảo thái hòa cho đất nước. Đảng không biết rằng đó là sự thái hòa của những bãi tha ma.

     Với tâm lý "khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống", người Việt Nam trong thời kỳ bị đô hộ đã tỏ ra khôn ngoan vượt bực và đã đánh đuổi được mọi nước có ý đồ muốn thôn tính Việt Nam, nhưng một mặt khác nó cũng dẫn đến tâm lý kẻ sĩ chờ thời, tâm lý Khương Tử Nha. Khi đất nước loạn ly, khi thời của tiểu nhân thịnh phát thì người quân tử lui về ở ẩn và chờ thời. Nhưng đôi khi chờ thời mãi, chắng thấy thời đâu mà chỉ thấy bọn tiểu nhân tung hoành liên tục. Không phải vô cớ mà nước Việt Nam có những kẻ lãnh đạo không có trình độ học vấn cao, chẳng qua một số đông những bậc anh tài của Việt Nam đều cùng có một quan niệm chờ thời, đành để mai một tài năng của mình mặc cho kẻ tiểu nhân lộng hành và tự nguyền rủa vận nước chưa đến thời thái lai.

     Cùng với quan niệm Á Đông "sinh sinh, hóa hóa của vũ trụ", người Việt Nam nghĩ rằng vạn vật đã được an bài theo một chu kỳ nhất định, nên chẳng nhọc công tìm hiểu vũ trụ thêm làm gì cho mệt nhọc. Những cuộc thay đổi ở đời cũng vậy, chỉ là một cuộc hoán chuyển tạm bợ. Với những hành trang tâm lý đó thử hỏi nước Việt Nam có thóat khỏi ảnh hưởng của các thế lực quốc tế không ? Chắc chắn là không. Nhưng nếu người Việt Nam không thay đổi quan niệm định mệnh tính của mình, chắc chắn Việt Nam suốt đời không lệ thuộc nước này cũng lệ thuộc nước khác. Cái chữ độc lập chỉ là một mỹ từ để người Việt tự đánh lừa nhau. Cái sự khôn ngoan của người Việt chỉ là để phục vụ cho người khác, giống như sự khôn ngoan của kẻ sĩ phục vụ cho một đế vương hoặc một minh chúa.  

Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên 

    Hiện nay chế độ cộng sản tại Việt Nam đang mục rữa và nếu người Việt không có phản ứng gì cả, nước Việt Nam sẽ mục nát theo.

    Đại đa số người Việt đã đồng ý chế độ độc tài đảng trị là một tai hoạ và cần phải thay đổi. Giai cấp cầm quyền đã bị phân hóa trầm trọng và khả năng tự tồn như một đoàn thể không còn bao nhiêu. Tất cả những điều kiện để đi đến một cuộc cách mạng đúng ý nghĩa của nó đã hội tụ gần như đầy đủ. Chỉ còn hai yếu tố quan trọng mà chúng ta chưa thực hiện đúng mức : đó là đồng thuận trên một thể chế dân chủ và một tập hợp chính trị có đủ tầm vóc thay thế đảng cộng sản với tập đoàn tư sản đỏ hiện nay. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không còn thực chất nữa, họ đã mất gần hết chỗ nương tựa, họ chỉ còn mỗi một thần tượng để họ đánh bóng ; nhưng càng đánh bóng họ lại càng làm hình ảnh người này lố bịch thêm. Nhưng cái khó khăn trước mắt của chúng ta là người Việt chưa tạo được một đối lực khả tín để từ đó có thể thay đổi chế độ này một cách quyết liệt nhưng không đổ máu. Thể chế tương lại của Việt Nam khả dĩ không thiệt hại đến sinh mạnh của người Việt là dân chủ đa nguyên, trong đó mọi nguời đều có tiếng nói của mình, đều có chỗ đứng của mình mà không sợ bị bắt bớ và ám hại. Các bạn trẻ hiện nay như Lê Chí Quang, Nguyền Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn và rất nhiều chiến sĩ dân chủ tại Việt Nam đang làm đầu tàu đứng lên đảm trách nhiệm vụ dân chủ hóa đất nước. Chúng ta phải có bổn phận hỗ trợ không ngừng nghỉ những chiến sĩ này. Được sự hỗ trợ của cộng đồng người Việt hải ngoại, chắc chắn phong trào dân chủ trong nước sẽ lan rộng và chế độ độc tài đảng trị hiện nay chỉ là một ác mộng qua mau.

Nguyễn Gia Thưởng (Bruxelles)

Ghi chú :

     (1) Ho Chi Minh - Du révolutionnaire à l’icône, Pierre Brocheux, Biographie Payot, 2003.

     (2) Cổ học tinh hoa, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tử An Trần Lê Nhân, Nhà xuất bản Thư  Xuân, 1962.

     (3) The geography of thought, Richard E.Nisbett, The Free Press (A Division of Simon and Schuster Inc.), 2003.

  [an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]