[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Thử tìm danh tính của người Việt Nam

Nguyễn Gia Thưởng

Một câu hỏi có vẻ ngây ngô và thọat tiên có vẻ dễ trả lời : « Thế nào là người Việt Nam ? ». Phải chăng đó là những người sanh đẻ ở Việt Nam hoặc đó là người được bố mẹ Việt Nam sanh đẻ ra. Nếu chỉ đơn giản có thế thì không có gì để bàn nữa. Nếu định nghĩa đó là những người sanh đẻ trên mảnh đất Việt Nam, thì tại sao những Việt ở thành thị tự nhận mình là sắc tộc Kinh không xem những anh em sống trên vùng cao nguyên là người Việt với đầy đủ quyền lợi của một công dân Việt mà còn gọi họ là bọn « Mọi », bọn « Thượng » với tất cả những sự khinh bỉ hàm chứa trong những từ ngữ đó. Nếu định nghĩa người Việt là những người đã chôn nhau cắt rốn và sinh trưởng trên mảnh đất Việt Nam, tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam gọi hơn 2 triệu người Việt Nam sinh sống tại hải ngọai là « Việt kiều », một danh từ để phân lọai người Việt sống ở nước ngoài với người Việt ở trong nước.

Những người sinh sống trên đất nước Việt Nam đang tìm cách đi ra khỏi nước Việt Nam để tìm đường kiếm kế sinh nhai thoải mái hơn ở nước ngoài và họ đã chọn quốc tịch của nơi họ cư trú, họ có còn là người Việt nữa không ? Những người sinh sống trên đất nước Việt Nam nhưng chẳng còn tha thiết gì tới vận mệnh đất nước, có còn là người Việt nữa hay không ? Những người như chúng ta đang sống ở hải ngọai, có người có song tịch, có người chẳng đặng đừng bỏ hẳn quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn gắn bó với nước Việt Nam, có còn là người Việt nữa hay không ? Ai có quyền tước đi lòng thân thương của họ đối với đất nước Việt Nam ?

Tại sao người Việt có vẻ thờ ơ ?

Trong bài tham luận  « Về vấn đề biên giới Việt – Trung »  viết tại Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2002, sau khi đã vạch trần tinh thần vô trách nhiệm của ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Vũ Bình cũng đã tỏ ra nghi ngờ lòng thân thương của đại đa số người Việt đối với đất nước và đã ta than như sau : « Qua sự kiện này, tôi cũng nhìn thấy một mối lo rất lớn đang ngày một hiện diện rõ hơn. Phản ứng của người dân truớc sự kiện trọng đại của dân tộc thật đáng thất vọng. Một phần không nhỏ nhân dân trong nước đã biết tới việc đất đai lãnh thổ bị cắt nhượng, nhưng chỉ có một số rất ít nguời đang tham gia phong trào dân chủ lên tiếng bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc. Sự thờ ơ đã phản ánh tinh thần yêu nước nói chung của nhân dân xuống tới mức đáng báo động. Sự kiện hàng ngàn hec-ta rừng chàm nguyên sinh ở U minh thượng và U minh hạ bị thiêu huỷ hoàn toàn không chỉ tố cáo khả năng quản lý yếu kém của giới lãnh đạo hiện nay mà còn cho thấy những tổn thất vô cùng lớn khi nguời dân không quan tâm tới lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Là nguời Việt Nam, chúng ta cần khẩn trương hành động để hun nóng tinh thần yêu nước, điều kiện không thể thiếu đối với tuơng lai của dân tộc trước khi quá muộn. Một trong những việc cần làm là tiếp tục cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc ».

Tại sao phần đông người Việt không có phản ứng nào trước một vấn đề trọng đại như vậy. Khi đặt ra câu hỏi này chính Nguyễn Vũ Bình đã một phần tự trả lời. Lý do thứ nhất là Nhà Nước và đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đọat quyền công dân của người Việt và  triệt hạ tất cả những ai lên tiếng đòi lại quyền này. Lý do thứ hai có lẽ người Việt mất quyền này quá lâu nên thành thói quen, không còn tha thiết gì đến chuyện đất nước nữa và đã phó mạc vận mệnh non sống này cho một tập đoàn tồi dở, không có một chút định hướng tương lai nào cho người dân và cho đất nước. Có lẽ đa số người Việt Nam coi đất nước là một đảng quốc, thuộc quyền sở hữu của một đảng, nên chẳng thèm đếm xỉa gì, sống tới đâu hay tới đó. Trong nước sống được thì vơ vét, không sống được thì tìm cách bỏ ra xứ ngoài sinh sống. Nước Việt Nam đã trở thành một quán trọ, nơi đây một đảng chính trị đã trở thành một đảng cướp và quản lý quán trọ này, người dân Việt Nam đã trở thành khách trọ, được ưu đãi tiếp rước thì ở lại lâu hơn, bị lạnh nhạt hất hủi thì tìm kiếm một nơi ẩn trú yên ổn hơn. Cho đến này vẫn chưa có ai định nghĩa lại rõ  thế nào là quốc gia Việt Nam và người công dân Việt Nam. Ý niệm công dân nước Việt rất mơ hồ và chỉ quanh quẩn trong một số cảm nhận tình cảm. Chính vì ý niệm nhà nước-quốc gia chưa rõ, chính vì không rõ quyền công dân của mình nên người Việt đã lãnh đạm và thờ ơ trước mọi biến cố của đất nước, mặc dù danh tính quốc gia là một nền cộng hoà.   

Một trong những giây phút mà người ta có thể thấy người Việt chứng tỏ mình là người Việt là những giây phút người Việt tham gia những cuộc đá banh và vào được chung kết khi có tổ chức SEA Games (Đông Nam Á Vận hội) vừa qua. Không lẽ chỉ có thể thảo là phương thức duy nhất để chứng tỏ mình là người Việt. Ngoài ra, chẳng thấy người Việt ngước mặt lên với thế giới trong bất cứ bộ môn nào cả về văn chương lẫn nghệ thuật hoặc những tiền bộ kỹ thuật. Chúng ta vẫn tự hào là có bốn ngàn năm văn hiến, nhưng gia tài của chúng ta đang có trong tay chẳng có gì là đẹp đẽ cả. Ngoài tập thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du, ngoài việc gỡ bỏ ách độ hộ của Pháp gần đây, ngoài chíến tích Điện Biên Phủ (chiến tích này cũng đã bị đảng CSVN tịch thu), chúng ta còn gì ? Mức độ chán trường của người Việt đã đạt đến một mức độ nguy ngập. Nguy cơ tan rã đất nước Việt Nam không xa vì đại đa số những người tự nhận mình là người Việt không còn tha thiết gì với quê cha đất tổ nữa. Ở đây chúng ta không luận tội đảng Công Sản Việt Nam vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bộc lộ hết những giới hạn của nó. Tự căn bản đảng Cộng sản Việt Nam đã vong thân, họ coi nước Việt Nam chỉ là một dụng cụ, chỉ là một con cờ để cấp lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam dùng để thỏa mãn ý đồ bá chủ Đông Dương. Chính vì lý do này họ đã hy sinh không thương tiếc báo nhiều sinh linh trong cuộc nội chiến 30 năm vừa qua, dựng lên một hào quang giả tạo « Chống Mỹ cứu nước ». Nay ý đồ đó không thể thực hiện được nữa, đảng CSVN quay ra « ăn thịt » những đứa con của chính mình và tìm cách vơ vét tài nguyên và tài sản của đất nước để bỏ tiền vào những chương mục vô danh tại Thuy Sĩ và mua bất động sản ở ngoại quốc. Người dân Việt đã bị đánh lừa quá nhiều, họ đã trả giá quá đắt để có thể tin một cách dễ dàng vào một tố chức cho dù là một tổ chức thành tín dân chủ thực sự. 

Trước đây Việt Nam là một vương quốc, sau đó trở thành thuộc địa của Pháp và cuối cùng sau 30 năm nội chiến Nam Bắc được độc lập nhưng dưới sự cai trị của một Đảng; nước Việt Nam chỉ là một quốc gia tân lập, mới hình thành đây thôi, nhưng nước Việt Nam đã bị biến thành một đảng quốc, thành sở hữu của một đảng, dân không còn tiếng nói. Người dân Việt Nam  không còn gì để nói, đã có nhà nước nói hộ. Nhưng hiện nay đảng Cộng sản đang bị tê liệt, con thuyền Việt Nam chẳng còn ai lái nữa ; việc nhượng đất cho Trung Hoa lục địa đã minh chứng rõ rệt đảng CSVN coi trọng quyền lợi của đảng hơn là quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam không còn trông mong gì nới đất Việt nữa vì đảng CSVN đã cố tình phá vỡ và đạp đổ mọi giải pháp phục hưng nước Việt Nam, dù là trong tinh thần ôn hoà. Đảng CSVN đã và đang giam hãm và triệt tiêu những người con ưu tú của nước Việt.

Ai là người Việt ?

Làm thế nào để phục hồi niềm tin của công dân Việt Nam đối với đất nước ? Đây là cả một công trình to lớn đang chờ đợi thể chế dân chủ tương lai của nước Việt Nam. Để có thể định vị được tinh thần của người công dân Việt, tưởng cũng nên xét lại vị trí của người Việt Nam đối với nước Việt Nam, trong bối cảnh thế giới hiện nay.

Chúng ta dựa trên căn bản nào để xưng mình là người Việt và người khác dựa trên yếu tố nào để nhận ra chúng ta là người Việt Nam. Chúng ta thử tìm và xét xem danh tính của người Việt Nam hiện nay có những yếu tố nào để liên kết với nhau và xây dựng quốc gia Việt Nam tương lai . Danh tính bao gồm một phần nào bản sắc, nó không nói hết lên bản sắc, nhưng nó phản ánh cái nhìn của người khác đối với người có danh tính đó. Tin và cảm nhận mình là người Việt bao gồm một số những xác tín sau :

·         Có một cộng đồng hoặc một xã hội mang tên là Việt Nam

·         Tôi là thành tố của xã hội Việt Nam, nói cách khác tôi là người Việt Nam

·         Những người Việt mà tôi liên lạc nghĩ rằng tôi là người Việt.

·         Nước Việt Nam là một quốc gia ; dân Việt Nam là một dân tộc

·         Có một tổ quốc gắn liền với Việt Nam (nhiều nhóm chia xẻ cùng một tổ quốc)

·         Người ta không thể nào tự nhiên trở nên người Việt khi đơn thuần sinh sống trên mảnh đất Việt, nhưng người ta có thể trở thành người Việt mà không cần phải do cha mẹ Việt sinh ra hoặc phải sinh đẻ trên đất Việt  (nhập tịch Việt)

·         Tất cả những đứa bé có cha mẹ là Việt và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam đương nhiên trở thành người Việt Nam.

·         Nước Việt Nam có trước khi tôi ra đời và tôi hy vọng đất nước này còn tồn tại sau khi tôi qua đời.

·         Người Việt Nam chia sẻ một số đặc tính chung để có thể phân biệt được với những nhóm khác.

·         Khi tôi đề cập đến cá nhân tôi cho người ngọai quốc, tôi cảm thấy cần thiết báo cho họ biết tôi là người Việt (cũng giống như trường hợp tôi thông báo gia cảnh của tôi, nghề nghiệp của tôi, phái tính của tôi và những sở thích của tôi.). Nói cách khác tính cách nhập thuộc của tôi với quốc gia Việt Nam là một phần căn cước của tôi ; tôi đồng hóa cá nhân tôi với Việt Nam ; việc hoà nhập cá nhân  tôi vào đất nước Việt Nam giúp cho người khác nhận diện cá nhân tôi.

·         Tôi nghĩ rằng người Việt phải biết tự quản lý; họ phải được quyền xây dựng cơ cấu chính trị giúp cho những nhân tố của quốc gia Việt Nam thể hiện được những dự án chung.

·         Tôi hãnh diện vì một số những thành quả mà nước Việt Nam đã đạt được ( kể cả những thành quả trong quá khứ khi tôi chưa chào đời hoặc tôi không hề có đóng góp gì cả), cũng như tôi hãnh diện vì những công trình tập thể có tầm vóc lớn (ví dụ  như xây dựng một nền dân chủ lành mạnh, một nền kinh tế phồn thịnh, thắng một cuộc chiến) hoặc của những cá nhân Việt Nam nổi danh (trên phương diện nghệ thuật, văn hóa, kỹ thuật, vân vân ...)

·         Tôi cảm thấy xấu hổ vì những tội ác, vì những hành vi phạm pháp, vì tinh thần công dân kém cỏi của người Việt, vì chính phủ vô trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ môi sinh, vì tình trạng nghèo đói của đại đa số dân Việt.

·         Trong những điều kiện nhất định, tôi có thể hãnh diện hoặc là xấu hổ vì tôi là người Việt khi tôi ở nước ngoài.

·         Tôi có thể sống hàng chục năm trong một quốc gia và trở thành công dân của quốc gia đó, nhưng tôi vẫn tiếp tục nhận tôi là người Việt, mặc dù tôi cũng nhận tôi là thành viên của quốc gia nơi tôi cư ngụ và sinh sống.

·         Tôi cảm thấy tôi có bổn phận đối với người Việt hơn là người khác, kể cả những công dân cùng một quốc gia đa chủng mà tôi là thành viên.

·         Có những bổn phận mà tôi cảm nhận tôi phải có đối với đồng bàoViệt và điều này có thể khiến cho tôi chấp nhận những hy sinh lớn.

·         Mặc dù có thể có những ý kiến hoặc những cảm xúc khác biệt nhau, nhưng đại đa số người Việt đều có những thấm tín và những cảm tình tương tự đối với nước Việt.

Trên đây là một số xác tín mà chúng ta cẩm nhận được, có thể còn một số yếu tố khác nữa để  nhận diện con người Việt Nam. Đại đa số những xác tín, những cảm tính và  những giá trị này có thể thay đổi tùy theo thời gian, tùy theo thế hệ.

Xây dựng quốc gia trên căn bản nào ?

Một khi chúng ta biết rõ vị thế của chúng ta đối với nhà nước-quốc gia, chúng ta biết rõ quyền công dân của chúng ta, việc đầu tiên chúng ta đòi hỏi là chính quyền và đảng CSVN hòan trả lại những quyền công dân căn bản của người dân. Và hiện nay các chiến sĩ dân chủ trong nước đang lớn tiếng đòi lại quyền công dân của mình để thực hiện dân chủ thực sự cho nước Việt Nam . Trong tiến trình xây dựng quốc gia, thông thường các nước trên thế giới dựa trên căn bản sắc tộc, trên căn bản chính trị, trên căn bản tôn giáo và trên căn bản những giá trị chung để làm chất keo liên kết người dân lại với nhau. Nhưng những đặc tính cùng một chủng tộc và cùng chia sẻ những giá trị chính trị không phải là những yếu tố duy nhất cấu tạo nên chất keo tạo nên sự gắn bó của người dân trong cùng một quốc gia. Ý niệm chủng tộc và công dân hàm chứa trong bản sắc quốc gia không bộc lộ hết những nét văn hóa của các thành phần cấu tạo nên quốc gia đó. Bản sắc quốc gia thường được thể hiện qua những nét văn hóa này. Đó là những khía cạnh văn hóa trong ngôn ngữ, trong phong cách, trong những tập quán, trong lối ăn uống, trong những ký ức của tập thể. Có những quốc gia trong đó yếu tố công dân và yếu tố chính trị là những yếu tố quan trọng ; và các quốc gia này lấy làm hãnh diện về những thành quả chính trị và xã hội mà họ đã đạt được. Họ thần thánh hóa các nhân tố đã xây dựng, duy trì và bảo vệ các thể chế chính trị đó. Có những quốc gia trong đó nét chủng tộc là một yếu tố quan trọng, quốc gia này thường có khuynh hướng xem như là truyền thống lâu đời nhũng nét đặc thù về tôn giáo, về nếp sống, về phong tục, về y phục, về âm nhạc và về nghệ thuật nấu ăn, và các nhân tố trong quốc gia này đôi khi tự nhận mình là có những đạc tính văn hóa này « trong huyết quản ».

Quốc gia Việt Nam hiện nay, dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, hội đủ những đặc tính của một quốc gia coi yếu tố chính trị, xã hội và chủng tộc là quan trọng. Trên danh nghĩa, nước Việt Nam theo một thể chế Cộng Hoà, nhưng đảng CSVN đã tước quyền công dân của người dân Việt Nam. Họ thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đem ông làm biểu tượng có công đem xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam và xây dụng nền độc lập của Việt Nam ; nhưng trên thực tế hệ thống chính trị này đã không đem lại sự phồn thịnh cho dân và nhất là không đem lại một niềm tự hào hay vinh dự nào cho người Việt Nam. Họ biến nước Việt Nam  thành một vật thuộc quyền sở hữu của họ và đối với họ việc chà đạp những sắc tộc ít người là một chuyện bình thường. Họ đang pha loãng chất keo nối kết người dân Việt với nhau vì họ chủ trương chia để trị. Nhưng chính sách của họ ngày nay đã quật trở ngược lại chính họ và đồng thời quật ngược lại cả toàn thể dân Việt Nam (mà chính họ cũng là thành tố).

Thời kỳ hậu xã hội chủ nghĩa, trong việc xây dựng quốc gia Việt Nam theo mô hình của một xã hội đa nguyên, có 3 câu hỏi đuợc nêu lên :           

1.       Các đảng phái chính trị có bổn phận tham gia hay không vào những chương trình tái tạo lại bản sắc quốc gia nhằm giảm thiểu những nét phân biệt về chủng tộc ?

2.       Có phương cách nào bảo đảm quyền công dân bình đẳng thực sự trong một quốc gia đa chủng tộc, mặc dù đại đa số cảm nhận quốc gia này « thuộc quyền sở hữu » của sắc tộc mình ? (Mối tương quan giữa sắc tộc Kinh với sắc tộc ít người)

3.       Có những giới hạn nào trong việc sử dụng những luận cứ quốc gia để huy động tinh thần của công dân khiến họ chấp nhận chính sách cởi mở hơn vì phần đông người công dân vẫn lưu giữ những xác niệm chủng tộc trong bản sắc quốc gia ?

Tìm cách trả lời câu thứ nhất không phải là đơn giản. Vì phương cách giảm thiểu  sự phân biệt đối xử đối với những sắc tộc ít người trên thực tế (hoặc trên căn bản pháp lý) của một tổ chức chính trị nắm giữ quyền hành và cai quản quốc gia trong đó có một sắc tộc chiếm đa số tựu chung vào việc tháo bỏ những tiêu chuẩn sắc tộc để định nghĩa bản sắc quốc gia. Trong công tác xóa bỏ dị biệt, nhà nước phải xét lại những huyền thoại, những giá trị, những mối liên hệ cảm tính và những nét văn hóa, tất cả những yếu tố đã góp phần tạo nên bản sắc quốc gia, và đề nghị một số những giải pháp thay thế khả tín và khả thi.

Câu hỏi thứ hai và thứ ba làm nổi bật những phương thức đuợc tổ chức chính trị đa nguyên áp dụng để tạo dựng một cơ sở pháp lý quy định rõ tính cách công dân bình đẳng của các sắc tộc ít người trong một quốc gia trong đó một sắc tộc khác chiếm đa số lãnh đạo. Chương trình nhằm xóa bỏ những phân biệt đối xử có thể kéo dài đến hàng chục năm. Vì « một quốc gia chỉ có thể tồn tại nếu được quan niệm không phải như một chủng tộc hay một quá khứ mà như một không gian liên đới giữa những con người hiểu nhau, quí trọng nhau và hợp tác với nhau để xây dựng và chia sẻ một tương lai chung... » (*), việc chuyển đổi những nếp suy nghĩ của người dân về ý niệm tổ quốc là một điều cần thiết để có thể đưa những nhóm sắc tộc khác có cùng một gắn bó lịch sử với lãnh thổ hội nhập vào quốc gia Việt Nam. Tứ đó, có thể khiến nhóm sắc tộc chiếm đa số không xem quốc gia như một vật mà họ độc quyền sở hữu (như đảng CSVN vẫn chủ trương và đang làm).

 Để có thể thực hiện tất cả những dự án chính trị vừa nêu trên, điều tiên quyết là chính quyền và đảng CSVN phải trả lại quyền công dân cho mọi người dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước, không giam giữ những công dân tiêu biểu như Nguyễn Vũ Bình, như Phạm Quế Dương, như Trần Khuê và một số những chiến sĩ dân chủ trong nước. Tiềm năng của dân tộc Việt Nam không nhỏ nhưng với sự ngự trị lâu dài của tổ chức chính trị CSVN, tiềm năng nay đang mất dần cả về thể xác lẫn trí tuệ.Gần đây trong nỗ lực tìm cách cứu gỡ và vớt vát tình cảm của người dân Việt sống ở ngọai quốc, đảng CSVN ra Nghị quyết 36 và ở trong nước tỏ vẻ chăm lo cho thế hệ thanh niên qua những hội thảo như « Hội nhập quốc tế thanh niên », ngày 5-6 vừa qua. Nhưng làm thế nào thanh niên Việt Nam hội nhập kịp với thanh niên quốc tế trong khi chính nhà nước và đảng giam cầm những thanh niên ưu tú của đất nước đã khảng khái lên tiếng đóng góp ý kiến để xây dựng xứ sở, bỏ tù những nhân tố trước đây đã góp công xây dựng uy tín đảng mà nay đã thấy rõ sự bế tắc của chủ nghĩa xã hội. Bứt được gông cùm của đảng CSVN, chắc chắn nước Việt Nam sẽ bắt kịp đà tiến triển của thế giới.

                                                                                                Nguyễn Gia Thưởng (Bruxelles)

(*) Thành Công Thế Kỷ 21 / Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên, trang 30.

  [an error occurred while processing this directive]