|
Nhìn lại chiến
thắng cộng sản ngày 30-4-1975
Nguyễn Gia Kiểng
Ba ngày trước
cuộc bầu cử quốc hội Espana, thắng lợi của Đảng Nhân Dân của thủ tướng
José-Maria Aznar được coi là chắc chắn, tự nhiên và xứng đáng. Trong vòng
tám năm họ đã phục hồi Espana một cách ngoạn mục, biến nó từ một nước trì
trệ nhất châu Âu trở thành nước phát triển mạnh nhất.
Cuộc
khủng bố rùng rợn của nhóm Hồi giáo quá khích thân Al Qaeda ngày 11-3-2004
ngay tại thủ đô Madrid đã thay đổi tất cả. Đảng của Aznar thảm bại, Đảng Xã
Hội thắng lớn một cách không ngờ và tuyên bố sẽ rút quân Espana khỏi lực lượng
đồng minh với Hoa Kỳ tại Iraq. Cánh hữu Espana thất bại, Hoa Kỳ bối rối vì
mất một đồng minh trung kiên. Al Qaeda đã thắng lớn.
Nếu muốn
đi vào chi tiết thì còn nhiều điều đáng nói. Nhưng điều chắc chắn là người
Espana sẽ bỏ phiếu cho đảng của Aznar nếu không có biến cố này.
Vụ khủng
bố tại Madrid cũng như những vụ khủng bố tại nhiều nơi khác, những khó khăn
của Mỹ và đồng minh tại Iraq và Afghanistan, của Nga tại Chechnya, của Do
Thái, của Nam Dương chứng tỏ một điều : ngay cả với một so sánh lực lượng
một ngàn chống lại một cũng khó chống lại được khủng bố. Nếu tương quan lực
lượng chỉ là mười chống một thì không làm gì được quân khủng bố. Với một tỷ
lệ thấp hơn thất bại là chắc chắn. Khủng bố không phải chỉ là một chiến
thuật, tự nó cũng là một vũ khí, một vũ khí có hiệu lực và sức tàn phá ghê
gớm.
Nhận xét
này cho phép chúng ta nhìn lại cuộc chiến thắng của quân cộng sản trong cuộc
chiến kết thúc ngày 30-4-1975 một cách nghiêm chỉnh hơn. Trong cuộc chiến
này, nếu tạm giới hạn trong thời gian 1960-1975, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã
phải đương đầu với một lực lượng khủng bố đông đảo hơn và có kinh nghiệm hơn
mình, trong hai năm cuối cùng nó còn thua cả về hỏa lực.
Nhưng
không phải chỉ có thế. Nếu ngày nay khủng bố bị cả thế giới văn minh lên án
thì chúng ta cũng không được quên là vào các thập niên 1960 và 1970 nó không
những không bị lên án mà còn được ngưỡng mộ như là một biểu hiện của sự dũng
cảm cách mạng. Tâm lý của thời kỳ đó là một cứu cánh đẹp có thể biện minh
cho mọi phương tiện, và chủ nghĩa Mác được coi là mà chủ nghĩa đẹp. Triết
gia Jean-Paul Sartre cùng với triết gia Bertrand Russell và nhiều trí thức
lỗi lạc bậc nhất thế giới lập "Tòa án Bertrand Russell" để xét xử "tội ác đế
quốc Mỹ tại Việt Nam" và hoàn toàn không thắc mắc gì về những hành động
khủng bố của cộng sản Việt Nam như cuộc thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế.
Jean-Paul Sartre tuyên bố trên đài truyền hình Pháp như sau : "Tôi không chấp
nhận và toàn bộ tòa án cũng không chấp nhận việc đặt ngang hàng bạo lực cách
mạng và bạo lực đế quốc". Che Guevara là một thần tượng của thanh niên lúc đó.
Các tổ chức khủng bố của thanh niên và trí thức bị cám dỗ bởi tính lãng mạn
của bạo lực mọc lên như nấm tại khắp nơi. Sinh viên và trí thức xuống đường
rầm rộ hô tên của Che Guevara, Castro, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.
Về bản chất
thì mọi đảng cộng sản đều là những lực lượng khủng bố. Khủng bố toàn diện và
trắng trợn khi giành chính quyền, khủng bố có phương pháp và có hệ thống khi
đã nắm được chính quyền. Một huyền thoại cần được đánh đổ : mặc dầu những khẩu
hiệu "xóa bỏ giàu nghèo", "chuyên chính vô sản" của nó, chủ nghĩa cộng sản
chưa bao giờ lôi kéo được quần chúng. Chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng
một cuộc bầu cử lương thiện nào. Sức mạnh của các đảng cộng sản không phải
là quần chúng. Bí quyết thành công của mọi đảng cộng sản là dùng một thiểu
số có quyết tâm để khống chế và điều khiển quần chúng. Cũng cần lưu ý là chưa
có một chính quyền cộng sản nào đem lại phồn vinh cho một dân tộc nào. Những
tiến bộ gần đây tại Trung Quốc và Việt Nam không được làm người ta quên rằng
đó là hậu quả của sự kiện chủ nghĩa cộng sản bị gác lại nhường chỗ cho một
chính sách tư bản rừng rú. Các đảng cộng sản không được thành lập để giành
thắng lợi trong một cuộc bầu cử và giữ được chính quyền nhờ quản trị đứng
đắn. Họ cướp chính quyền bằng khủng bố và duy trì chính quyền bằng bạo lực.
Sức mạnh của họ là ở chỗ họ bất chấp tất cả mọi qui luật và giá trị trói
buộc các đối thủ của họ. Họ sử dụng tất cả mọi phương tiện cần thiết và xóa
bỏ mọi thông tin khách quan để che đậy tội ác. Đó là sự khủng bố toàn diện
và tinh vi, một vũ khí gần như vô địch. Lenin từng định nghĩa đạo đức một
cách ghê rợn : "Những gì có lợi cho cách mạng là hợp đạo đức, những gì có
hại cho cách mạng là vô đạo đức". Các chế độ cộng sản đã chỉ sụp đổ sau
một thời gian dài cầm quyền, khi những qui luật tự nhiên của cuộc sống
dần dần được phục hồi và lá bùa "cách mạng" đã trở thành nhàm chán.
Đảng Cộng
Sản Việt Nam hoàn toàn nằm trong khuôn mẫu của một tổ chức khủng bố, như mọi
đảng cộng sản khác. Ta có thể chia lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam làm ba
giai đoạn khủng bố. Hãy tạm gác qua giai đoạn chót, giai đoạn của khủng bố
nhà nước, để chỉ bàn về hai giai đoạn khủng bố đầu tiên dẫn đến chiến thắng
30-4-1975.
Giai đoạn
Hồ Chí Minh, từ 1945 đến 1960, là giai đoạn khủng bố trắng trợn toàn diện và
tuyệt đối, trong đó vô số người đã bị giết vì bị tình nghi một cách vớ vẩn.
Các đảng phái quốc gia bị tàn sát, những vụ thủ tiêu người trong đêm tối xảy
ra khắp nơi và mỗi ngày. Không khí kinh hoàng bao trùm.
Tôi còn
nhớ rất rõ một cảnh hãi hùng vào lúc tôi mới khoảng 5 hoặc 6 tuổi. Một thanh
niên đẹp trai, mặc quần áo mới, đi qua làng tôi bị bắt vì tình nghi là Việt
gian, anh ta bỏ chạy, bị du kích đuổi theo bắt được tại sân nhà tôi và bị đánh
chết tại chỗ. Chiều hôm đó người ta được biết anh ta là người làng bên cạnh,
ngày hôm đó cưới vợ nên mặc quần áo đẹp, bất ngờ bà mẹ lâm bệnh, anh ta hăng
hái đi mua thuốc cho mẹ. Cô vợ trở thành góa phụ ngay ngày cưới. Không có ai
bị khiển trách sau vụ này cả vì nó chỉ là một trong những chuyện hàng ngày.
Chiếm được
miền Bắc, ông Hồ Chí Minh, còn nắm tất cả thực quyền cho tới năm 1960, đã
cho thi hành đợt cải cách ruộng đất tàn sát hàng chục ngàn người vô tội. Người
ta cũng không thể quên vụ Nhân Văn - Giai Phẩm. Đó chỉ là những đợt khủng bố
có tên gọi trong một xã hội tràn ngập khủng bố. Nguyễn Tuân còn để lại một
câu làm chứng cho giai đoạn này : "Tớ còn sống được nhờ biết sợ". Đã có
nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh, nhưng theo tôi nét chính của ông chưa được
nhấn mạnh : ông là một trong những lãnh tụ khủng bố man rợ nhất thế giới.
Giai đoạn
1960-1975, giai đoạn của cuộc chiến Nam-Bắc do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ điều
khiển, là giai đoạn chiến tranh khủng bố có đối tượng. Không còn những hành
động khủng bố ngu xuẩn và xô bồ như thời đại Hồ Chí Minh nhưng cũng không
kém hung bạo. Hàng chục ngàn xã trưởng, trưởng ấp, giáo viên các vùng nông
thôn đã bị bắt cóc và thủ tiêu. Những vụ đánh bom, đặt mìn là một thông lệ.
Các vụ ám sát sinh viên và giáo sư chống cộng đã gây kinh hoàng ngay tại Sài
Gòn. Một người thân của tôi, có anh em giữ chức vụ lớn trong chính quyền
miền Nam, mướn một người làm. Khi khám phá ra cô người làm này là cán bộ
cộng sản, anh ta sợ mất vía, không dám báo cho ai cả, chỉ tìm cách khéo léo
cho cô ta nghỉ việc.
Cũng
không thể quên một yếu tố quan trọng là, như mọi đảng cộng sản, Đảng Cộng
Sản Việt Nam thực hiện khủng bố ngay trong nội bộ của họ và chính sự khủng
bố nội bộ này đã giúp cho đội ngũ của họ luôn luôn vững chắc, đặc biệt là
quân đội của họ có kỷ luật và khả năng chiến đấu. Sau ngày 30-4-1975 tôi đã
gặp rất nhiều người lính cộng sản ở mọi cấp bậc. Họ không hăng say chiến đấu
như người ta có thể tưởng tượng. Họ cũng rất sợ, chỉ mong được về với gia đình.
Nhưng họ không có chọn lựa. Họ bị đảng kiểm soát chặt chẽ và ở trong thế phải
chọn lựa giữa sự liều lĩnh bắt buộc và tai họa chắc chắn.
Cuộc
chiến 1960-1975 là một cuộc chiến tranh khủng bố trong đó phe khủng bố vừa
mạnh hơn trong so sánh lực lượng khách quan vừa được hậu thuẫn của thế giới.
Sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa không có gì đáng ngạc nhiên dưới ánh sáng
của những gì người ta thấy hiện nay.
Nói như
thế không có nghĩa mà muốn biện hộ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà chính tác
giả bài này đã phục vụ. Đương đầu với một lực lượng khủng bố với tương quan
lực lượng bất lợi như thế, và trong một bối cảnh tâm lý như thế, chế độ Việt
Nam Cộng Hòa chỉ có thể sống sót nếu tìm được một cách tự vệ thông minh và độc
đáo. Nhưng đây là điều mà những người lãnh đạo phía Việt Nam Cộng Hòa không
có và cũng không bao giờ nghĩ tới. Hy vọng duy nhất của Sài Gòn là giương
cao ngọn cờ dân chủ tự do đồng thời mở ra một cuộc tranh luận lớn về bản chất
hèn nhát và man rợ của khủng bố. Có nhiều hy vọng là như thế Việt Nam Cộng
Hòa sẽ được nhiều người và nhiều chính phủ dân chủ trên thế giới hỗ trợ, bởi
vì nó là thử nghiệm dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đã có thể là
cuộc cách mạng lớn nhất từ ngày dựng nước. Nhưng những người lãnh đạo miền
Nam do Hoa Kỳ áp đặt hoàn toàn không ý thức được điều này. Tất cả đều rất
ghét dân chủ và luôn luôn coi nó như một gánh nặng. Nguyễn Cao Kỳ còn tuyên
bố ái mộ Hitler. Miền Nam cũng cần có một đội ngũ cán bộ nòng cốt, được đào
tạo, có kinh nghiệm và được duy trì. Trên thực tế, miền Nam đã chỉ có những
người lãnh đạo kém cỏi, không viễn kiến, không bản lãnh, với một nhóm tay
chân ô hợp và tạm bợ gồm gia đình và bè bạn.
Người
Việt tàn sát lẫn nhau và tàn phá đất nước một cách mê muội, một bên nhân
danh những khái niệm tự do dân chủ mà họ không hiểu và cũng không muốn, một
bên nhân danh một chủ nghĩa mà họ coi là đỉnh cao trí tuệ nhưng thực ra chỉ
là sự bịp bợm trí thức lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới. Ở
giữa là đa số quần chúng bất lực bị lôi kéo vào thảm họa. Phe thua đã rất
xứng đáng để thua, nhưng phe thắng thì hoàn toàn không xứng đáng để thắng.
Dân tộc Việt Nam đã thua to, đã tổn thất nặng nề về nhân mạng, và bị chấn
thương trong trí tuệ và tâm hồn. Chỉ có đảng cộng sản, bạo lực và khủng bố
đã thắng. Cuộc chiến hổ nhục này không cho phép một người có liêm sỉ nào
hãnh diện cả.
Và cũng đừng
lầm lẫn chiến thắng với chính nghĩa và vinh quang. Nếu như thế thì nhân loại
đã phải vinh danh Alexander, Attila, Tần Thủy Hoàng và Thành Cát Tư Hãn thay
vì Socrates, Plato, Jesus Christ và Phật Thích Ca. Lịch sử thế giới không
thiếu gì trường hợp những kẻ hung bạo đã thắng và cũng không thiếu những nền
văn minh bị hủy diệt bởi những đạo quân dã man.
Ngày hôm
nay chúng ta đang theo đuổi cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ. Đây là cuộc
chiến đấu rất mới và vinh quang nhất trong lịch sử nước ta. Từ trước đến nay
Việt Nam đã chỉ có các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực
thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét cho cùng,
cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ của ngoại bang lấy một ách nô lệ của người
bản xứ. Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc chiến đấu thực sự xứng đáng để
chiến đấu. Đó là cuộc chiến đấu để thực sự giải phóng mọi người Việt Nam,
để tôn vinh quyền làm người, quyền được làm chủ đời mình để xây dựng hạnh
phúc cho mình và đóng góp cho hạnh phúc chung của dân tộc. Cuộc chiến đấu
này không cần bạo lực. Nó không giết ai, không bách hại ai và cũng không tàn
phá. Nó đưa người Việt Nam và đất nước Việt Nam từ bóng đêm của nô lệ và
nghèo khổ sang ánh sáng của tự do và phồn vinh. Chiến thắng này mới thực sự
vinh quang.
Nguyễn Gia
Kiểng |