[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Tiến tới một sự từ nhiệm của Mỹ ?

Nguyễn Gia Kiểng

 

     Tất cả mọi chỉ dấu đều rất thuận lợi cho một phục hồi kinh tế. Tình trạng trì trệ đã kéo dài khá lâu, các công ty đã thích nghi với tình thế khó khăn ; kinh tế Mỹ, đầu tàu của kinh tế thế giới, đã bắt đầu tăng trưởng khá mạnh. Tuy vậy, tăng trưởng vẫn chưa trở lại với châu Âu, Nhật và nhiều nước khác. Thủ phạm là đồng đô-la Mỹ.

     Đồng đô-la Mỹ đã sụt giá khoảng 25% trong vòng một năm và gần 40% trong vòng hai năm qua. Các giải thích kỹ thuật đã được đưa ra : số thâm thủng ngoại thương của Mỹ ngày càng lên cao ; những lo âu về chi phí của Mỹ tại Iraq và Afghanistan ; lãi suất cơ bản của Mỹ (1%) quá thấp so với phần còn lại của thế giới. Nhưng còn lý do chính trị?

     Giải thích thông thường là Mỹ đang ở năm bầu cử, ê-kíp Bush cần tăng trưởng kinh tế, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp để có thể thắng cử, và muốn đạt được mục tiêu này thì phải để cho đồng đô-la xuống giá. Đồng đô-la sụt giá có nghĩa là hàng nhập cảng vào Mỹ sẽ đắt hơn trước, trái lại sản phẩm của Mỹ sẽ rẻ hơn, do đó bán được nhiều hơn tại Mỹ cũng như trên thế giới, các công ty Mỹ sẽ sản xuất được nhiều hơn và sẽ tuyển dụng nhiều nhân công hơn.

     Giải thích này có cơ sở và nếu nó đúng, như nhiều người hy vọng, thì sau cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới, khi cuộc bầu cử đã xong, đồng đô-la sẽ tăng giá trở lại, sinh hoạt kinh tế thế giới sẽ trở lại bình thường và phục hồi kinh tế sẽ mạnh như người ta có thể chờ đợi. Có thể đồng đô-la sẽ lên giá sớm hơn, ngay khi kết quả cuộc bầu cử, nghĩa là sự tái cử của tổng thống George W.Bush, đã chắc chắn. Tuy nhiên, trong giả thuyết Bush và bộ tham mưu của ông hành động theo một chủ thuyết mới, như người ta có thể nghĩ khi theo dõi những gì họ đã nói và làm, thì tình hình có thể khác.

     Trong tác phẩm "Lý Thuyết Tổng Quát" nổi tiếng và để đời của ông, John Maynard Keynes lý luận rằng một số tiền chi tiêu có tác dụng tạo ra một gia tăng về sản xuất lớn hơn nhiều lần do hiệu ứng dây chuyền, nói một cách khác chi phí và tiêu thụ là động cơ của tăng trưởng kinh tế.

     Lý thuyết của Keynes đã rất thời thượng trong suốt thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, và đã khiến nhiều nước phá sản vì tưởng rằng bí quyết để phát triển chỉ giản dị là gia tăng đầu tư và chi tiêu công cộng. Còn gì thoải mái hơn cho một người lãnh đạo quốc gia là càng tiêu xài bao nhiêu càng phát triển đất nước nhanh chóng bấy nhiêu ! Nhưng hậu quả đã rất bi đát. Lý do là vì họ quên, đúng ra là cố tình quên, rằng điều kiện căn bản của Keynes là sự cân bằng giữa đầu tư và tiết kiệm. Nhưng lý do quan trọng hơn nhiều là Keynes lý luận trong một môi trường kinh tế khép kín, trong đó người này chi tất nhiên có người khác thu, trong khi kinh tế thế giới vận hành trên sự trao đổi, do đó gia tăng chi tiêu có thể chỉ giản dị là gia tăng nhập cảng và làm giàu cho nước ngoài thay vì kích thích sản xuất nội địa. Bây giờ, nếu chúng ta nhìn cả thế giới như một đơn vị kinh tế thì lý thuyết của Keynes không sai bởi vì thế giới vẫn là một môi trường kinh tế khép kín chứ chưa buôn bán với một hành tinh nào khác cả. Như vậy đối với thế giới, tiêu thụ quả nhiên là động cơ của tăng trưởng và phát triển.

     Do một diễn biến liên tục, đều đặn và không được tiên liệu, Hoa Kỳ đã trở thành "người tiêu thụ của hàng hóa thế giới" và đóng vai trò động cơ của kinh tế thế giới từ ít nhất hai thập niên vừa qua. Có một thay đổi lớn trong quan hệ thương mại giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới : trước thập niên 1980 Mỹ là một nước xuất siêu (xuất cảng nhiều hơn nhập cảng), từ 1980 trở đi Mỹ là một nước  nhập siêu, mua vào nhiều hơn bán ra, và sự thâm thủng trong cán cân thương mại này ngày càng gia tăng. Năm 2001, khi George W.Bush lên cầm quyền, số thâm thủng này là 360 tỷ USD. Một cách nôm na, mỗi ngày nước Mỹ chi ra quá một tỷ đô-la so với số tiền thu vào.

     Từ 1980 nền tảng của sinh hoạt kinh tế thế giới là một đồng thuận bất thành văn : Mỹ phải tiêu thụ thật nhiều hàng hóa để thế giới có thể bán hàng. Mỗi tháng tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới theo dõi chỉ số lạc quan của giới tiêu thụ Mỹ. Một sự gia tăng hay sút giảm của chỉ số này lập tức làm trị giá các cổ phần của các công ty lên hay xuống, nghĩa là làm thế giới giàu hơn hay nghèo hơn trong vòng vài phút sau khi nó được công bố. Nước Mỹ dĩ nhiên vẫn dẫn đầu khá xa trong nhiều ngành như tin học, nông nghiệp, sinh hóa, điện ảnh, v.v. và dĩ nhiên vũ khí, nhưng vai trò chính của nó từ đây là vai trò của một thị trường tiêu thụ. Đồng thuận này xem ra đã có lợi cho mọi người, nhưng cần nhấn mạnh tính cách tình cờ, nghĩa là không tiên liệu, và bất thành văn của nó. Nó đã ra đời như một hậu quả của một đồng thuận chính thức thường được gọi là "đồng thuận Washington", với một mục đích khác hẳn : chặn đứng lạm phát và ổn định tiền tệ, nói một cách khác giảm bớt các chi phí.

     Nói rằng đồng thuận bất thành văn này, trong đó Hoa Kỳ đóng vai trò một thị trường tiêu thụ, có lợi cho mọi người thực ra không đúng hẳn, nhất là với Hoa Kỳ. Nhập siêu dĩ nhiên đưa đến nợ nần hoặc bó buộc phải bán tài sản của mình để trang trải số tiền thâm thủng. Để Hoa Kỳ có thể tiếp tục nhập siêu, tiền từ các nước khác đã phải liên tục đổ vào Mỹ để Mỹ có thể tiếp tục mua hàng hóa của thế giới. Số tiền khổng lồ đổ vào Mỹ này, khoảng 400 tỷ USD mỗi năm, được dùng để mua bất động sản, mua cổ phần của các công ty Mỹ, hoặc mua trái phiếu của chính phủ My và của các công ty Mỹ. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục thì sẽ có một lúc mà rất nhiều bất động sản (nhà đất và các cao ốc), phần lớn vốn của các công ty Mỹ thuộc vào người nước ngoài, đồng thời chính phủ Mỹ cũng mắc nợ, và do đó có thể bị chi phối bởi các nước ngoài.

     Tình trạng không lành mạnh cho Mỹ này đã có thể tiếp tục trong hơn hai thập niên vì một số lý do. Trước hết là sự cởi mở và năng động của xã hội Mỹ khiến nhiều người và công ty một khi đã đầu tư vào Mỹ thường bị Mỹ hóa và tài sản của họ tại Mỹ biến thành tài sản của nước Mỹ. Mặt khác, các quốc gia và các công ty cũng đều ý thức được vai trò của Mỹ và do đó phải quan tâm bảo vệ sự ổn vững của Mỹ. Tuy vậy, đây chỉ là một lô-gíc chứ không phải là một bảo đảm chắc chắn.

     Châu Âu luôn có mặc cảm với Mỹ, một mặc cảm phức tạp pha trộn sự thèm muốn trước thành công của Mỹ, sự ghen tức trước sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị của Mỹ và cả sự tủi nhục về thành tích của chính mình. Các thế kỷ 18 và 19 đã là những thế kỷ mà châu Âu thống trị thế giới về mọi mặt, nhưng Hoa Kỳ, nhờ công thức tự do khuyến khích ý kiến và sáng kiến cá nhân, đã vươn lên mạnh mẽ và qua mặt châu Âu. Trong thế kỷ 20, châu Âu đã phát minh ra các chủ nghĩa tệ hại cộng sản và phát-xít, đã gây ra hai cuộc thế chiến và phải cầu cứu Mỹ. Đến cuối thế kỷ 20 thì ngay cả các vấn đề thuần túy của châu Âu hoặc do châu Âu gây ra, như cuộc khủng hoảng tại Nam Tư và các cuộc xung đột Do Thái - Palestine, cũng phải nhờ Mỹ giải quyết hộ. Từ mặc cảm này xuất hiện một thái độ chống Mỹ rất sơ đẳng, như một ám ảnh. Không thiếu những cuốn sách bán chạy nhất tố giác Mỹ như là một đế quốc, thành trì của chủ nghĩa "chuyên chính tự do" (dictature du libéralisme), coi khối lượng tiền đổ vào Mỹ như là những triều cống của thế giới cho đế quốc Mỹ, tố cáo sự "lộng hành" của Mỹ ngay cả khi Mỹ làm những quyết định bắt buộc cho an ninh thế giới hay ít nhất cho an ninh của chính họ, thí dụ như việc tấn công tiêu diệt chế độ Saddam Hussein tại Iraq. Các tác giả này còn đẩy sự bất lương trí thức tới độ tố giác ách thống trị ngày càng gia tăng của Mỹ trên kinh tế thế giới, trong khi thực sự trọng lượng kinh tế của Mỹ giảm đi khá nhanh chóng. Sau thế chiến 2, Hoa Kỳ chiếm quá 50% thương mại thế giới, năm 1980 tỷ lệ này là 25%, hiện nay nó xấp xỉ 18% (*).

     Nếu thái độ chống Mỹ này chỉ dừng lại trong giới trí thức, phần lớn là trí thức khuynh tả trước đây đã từng ít nhiều ủng hộ khối cộng sản, thì nó chưa hẳn là điều đáng lo ngại cho Mỹ. Nhưng khi hai chính phủ Pháp và Đức liên kết với nhau để chống lại Mỹ trong quyết định tấn công Iraq, và chống lại một cách quyết liệt, thì Mỹ coi như một báo động. Hai quốc gia mạnh nhất châu Âu này vốn là những đồng minh cố hữu của Mỹ, Pháp đã được Mỹ giải phóng trong thế chiến 2, Đức đã trỗi dậy và trở thành giàu mạnh chủ yếu là nhờ Mỹ. Cả hai nước này cho tới nay vẫn là những nước rất được lợi trong buôn bán với Mỹ, Đức xuất siêu mỗi năm 30 tỷ USD với Mỹ, Pháp 10 tỷ USD. Cả hai có mọi lý do để ủng hộ Mỹ, nhưng cả hai đã chống Mỹ và bảo vệ Saddam Hussein đến cùng vì những quyền lợi ích kỷ (họ đã ngầm ký những tiền hợp đồng với Saddam Hussein ; Pháp để khai thác dầu khí, Đức để giành phần lớn thị trường cơ khí và điện tử, cả hai cần duy trì chế độ Saddam Hussein).

     Riêng Pháp đã đẩy rất xa sự coi thường các giá trị đạo đức chính trị. Trước tình trạng này, Mỹ thấy trước hết phải trông cậy vào sức mạnh của chính mình chứ không thể chờ đợi ở một thái độ biết điều của các đồng minh quan trọng nữa. Mỹ lại càng lo ngại khi số nợ liên bang đã vượt quá 6 ngàn tỷ USD, 60% GDP của Mỹ, và phần lớn chủ nợ là người nước ngoài. Mặt khác một phần khá lớn tích sản của các công ty Mỹ cũng đã vào tay tư bản nước ngoài. Nếu tình trạng này trầm trọng lên thì có ngày chính Mỹ sẽ lệ thuộc nước ngoài, chưa nói là có quyền quyết định trong các vấn đề quan trọng của thế giới.

     Một cách không phải ngẫu nhiên, đồng đô-la Mỹ đã bắt đầu xuống giá sau cuộc chiến Iraq mặc dầu kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn mọi quốc gia giàu mạnh khác. Đồng đô-la xuống giá bởi vì chính phủ Mỹ không những không lấy một quyết định nào để nâng đỡ nó và còn có vẻ muốn nó xuống giá. Hậu quả là kinh tế Mỹ tiếp tục phát triển nhanh bởi vì hàng Mỹ trở thành rẻ, các công ty sản xuất nhiều hơn, không còn sa thải công nhân nữa, mà ngược lại bắt đầu tuyển dụng thêm nhân viên, thâm thủng ngoại thương của Mỹ giảm một cách nhanh chóng. Trong ngắn hạn, Mỹ không có lý do gì để làm cho đồng đô-la lên giá cả. Nếu ngân hàng trung ương Mỹ quyết định tăng lãi suất căn bản, như có triển vọng họ sẽ làm trong một vài tháng sắp tới, thì cũng chỉ vì mục tiêu ngăn chặn lạm phát trong một giai đoạn tăng trưởng nhanh mà thôi. Khi các cấp lãnh đạo Mỹ tuyên bố họ theo đuổi chính sách của một đồng đô-la  mạnh, họ nói thực. Nhưng họ muốn một đồng đô-la  mạnh trong một bối cảnh khác : một đồng đô-la  mạnh trong một thế cân bằng ngoại thương, nói cách khác mạnh trong một nền kinh tế Mỹ thực sự mạnh, nghĩa là mạnh nhờ chính mình.

     Thông điệp của Mỹ đối với thế giới, và nhất là châu Âu, có thể chỉ giản dị là : “Các ngài đả kích chúng tôi là đế quốc, vậy chúng tôi không là đế quốc nữa và các ngài sẽ phải tự lo liệu lấy trong một thế giới không còn vai trò đế quốc của chúng tôi !”.

     Châu Âu đang khốn khổ vì sự sụt giá của đồng đô-la  so với đồng Euro. Hy vọng sự phục hồi nhanh chóng đang ngày càng trở thành mong manh. Năm 2004 sẽ chưa phải là năm trỗi dậy của kinh tế châu Âu, trong trường hợp tốt nhất nó chỉ là năm châu Âu ra khỏi sự suy thoái.

     Tuy nhiên, sẽ là một suy nghĩ thiển cận, nếu ê-kíp Bush tiếp tục chính sách tiền tệ này một cách lâu dài. Đồng đô-la yếu đang ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế thế giới, và Hoa Kỳ không thể tiếp tục tăng trưởng trong một bối cảnh kinh tế thế giới trì trệ. Sự từ nhiệm của Hoa Kỳ trong vai trò của một thị trường tiêu thụ chính của thế giới về lâu về dài cũng tai hại cho chính họ.

Nguyễn Gia Kiểng

 

(*) Về những lập luận chống Mỹ, chống chủ nghĩa tự do kinh tế, cũng như những lập luận phản bác lại, có thể đọc "L'horreur économique" (Vivianne Forrester), "Après l'Empire" (Emmanuel Todd), "La Grande Parade" (J-F. Revel), "L'Obsession Anti-américaine" (J-F. Ravel).

  [an error occurred while processing this directive]