[an error occurred while processing this directive]
[an error occurred while processing this directive]  

Định hướng giáo dục ?

Đặng Ứng Hà

Lời tòa soạn : Mục "Vì đất nước hôm nay và ngày mai" đã góp mặt trên Thông Luận từ những số đầu tiên đến nay. Trước nay mục này do những cây bút thường xuyên của Thông Luận phụ trách. Nay đã đến lúc chúng tôi có thể trông cậy vào bạn đọc khắp nơi để cùng đóng góp ý kiến vào những vấn đề đất nước. Ban biên tập mời gọi bạn đọc tham gia bàn bạc về những vấn đề mà xã hội đang quan tâm và đang nói đến. Tất cả đều vì hôm nay và tương lai của đất nước. Đề tài hôm nay xoay quanh một số những suy nghĩ của một số các vị quan tâm đến vấn đề giáo dục trong nước hiện nay, xem như một khởi điểm thảo luận. Chúng tôi sẽ lần lượt bàn bạc cùng bạn đọc những vấn đề văn hóa giáo dục khác trong những số tới. 

     Vấn đề nổi của giáo dục Việt Nam hiện nay là chuyện chất lượng giáo dục. Từ các cơ quan truyền thông đại chúng cho đến báo chuyên ngành giáo dục, từ ngoài xã hội cho đến quốc hội, mọi người mọi giới đều bàn bạc về vấn đề giáo dục. Quả là thế. Bàn bạc và quan tâm đến vấn đề giáo dục là nghĩ đến việc đầu tư chắc chắn và lâu dài cho tương lai đất nước. Trong hai ngày cuối tháng 3-2004, lại có cuộc hội thảo quy tụ cả nghìn người tham dự để bàn về việc "Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam : cơ hội và thách thức" do Bộ Giáo Dục-Đào Tạo tổ chức tại Hà Nội. Khung cảnh thật rộn rã. Trong không khí rộn ràng như thế, thật là không yên tâm khi nghe nhận định của những người dự hội nghị, là "chất lượng, hiệu quả đào tạo của giáo dục đại học Việt Nam đều thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực"... Khi đưa tin về cuộc hội thảo nói trên, báo Tuổi Trẻ không quên ghi nhận cảm tưởng chung của những người tham dự : "Những nhận định như vậy được đề cập trong hầu hết các tham luận, ý kiến, phác họa về một thực trạng không mấy lạc quan của giáo dục đại học Việt Nam...".

     Giáo dục của một quốc gia không phải chỉ có giáo dục đại học, mà còn nhiều bộ phận khác nữa, mà giáo dục phổ thông là phần chiếm nhiều vốn đầu tư của quốc dân vào đó. Bỏ qua những khó khăn phải có trong một cuộc thay đổi lớn từ thời kì bao cấp sang thời kì mở cửa vào hội nhập với thế giới, chỉ nhìn trên những nét định hướng lớn thôi cũng đã thấy giáo dục phổ thông của nước ta có nhiều vấn đề. Trong gần hai mươi năm trở lại đây đã có nhiều đợt thay đổi mà giới chuyên môn gọi là "cải cách giáo dục". Qua một số đợt cải cách rồi lại cải cách suốt từ năm 1985 đến nay, công chúng rút ra được một bài học thấm thía là: chuyện cải cách giáo dục chỉ là những giải pháp tình thế nối tiếp nhau chứ không hẳn là một viễn kiến bắt rễ từ mối quan tâm đến tương lai thế hệ trẻ Việt Nam. Mấy thế hệ học sinh đã thay nhau làm vật thí nghiệm cho những sáng kiến bốc đồng của một số người ưa lập dị kiểu như chương trình thể nghiệm giáo dục mệnh danh là "công nghệ giáo dục".

     Trong bối cảnh của xã hội lao vào cuộc chạy nước rút vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục phổ thông xuất hiện những hiện tượng quái gở mà giáo dục nước ta chưa từng thấy: giáo dục là một cái chợ học để đi thi, kiếm bằng cấp làm cần câu cơm. Cấp lớn cấp nhỏ đều có lớp luyện thi. Thi cử trong năm, thi cử cuối cấp học, thi tuyển sinh… được xem là một mục tiêu của cải cách giáo dục.

     Thi cử như hiện nay là tàn dư của chế độ giáo dục lạc hậu, là phương tiện để "hốt bạc" nuôi thân. Thi cử không được quan niệm như việc kiểm tra đánh giá những thành quả của học viên trong một giai đoạn học tập. Hiện nay thì thi cử được xem như là hình thức tưởng thưởng cho những học viên chăm chỉ thuộc bài và trừng phạt những học viên lười. Dường như những người làm việc trong ngành giáo dục ở xứ mình không ai được chỉ dạy cho biết là thi cử là những dữ liệu quý giá để xã hội đánh giá chất lượng giáo dục - nghĩa là đánh giá chất lượng chương trình giáo dục, phương pháp giảng dạy ; ngoài ra thi cử còn là để giúp nhà giáo dục đánh giá khả năng học tập của học viên và dự đoán định hướng và thành quả học tập của học viên trong tương lai. Nói cách khác, thi cử là để phục vụ giảng dạy và học tập chứ không phải ngược lại như hiện nay.

     Một mục tiêu khác của cải cách giáo dục là sự phát triển vỡ da của cái chợ sách giáo khoa cải cách giáo dục. Cứ đến mùa tựu trường là lại một cơn sốt sách giáo khoa. Hóa ra nghề giáo dục cũng giỏi tiếp thị, cũng giỏi kinh tế quá chứ !

     Chỉ tiếc là có một mục tiêu cơ bản và rất quan trọng là sự phát triển cá nhân mỗi con em chúng ta thì chưa đạt lắm. Về mặt giáo dục, chúng ta có quá nhiều thợ dạy học nhưng chưa có nhiều nhà giáo dục. Giáo dục mà không được quan niệm đứng đắn thì chỉ làm hư hại thế hệ tương lai mà thôi.

     Một nhà giáo dục trong nước cho rằng : "Đừng nên trách trẻ con hôm nay gian dối lưu manh. Chính người lớn đã dạy chúng như thế. Đừng trách trẻ mà nên trách người lớn. Bắt trẻ học như con vẹt, làm bài mẫu đúng theo sách giáo khoa, là một cách tập cho trẻ tính giả dối và tính gian lận" (Dương Thiệu Tống, trả lời phỏng vần của báo Lao Động).

     Thí dụ trên chỉ là một điểm nhỏ trong một bức tranh toàn cảnh về giáo dục đang rất có vấn đề. Cũng theo nhà giáo dục vừa kể trên, hiện nay, nền giáo dục quốc dân đang thiếu một định hướng đúng đắn. Ông cho rằng :

     "Một cuộc cách mạng xã hội có thể phá đổ chế độ xã hội ngay lập tức, nhưng không thể phá bỏ một chế độ giáo dục, vì giáo dục gắn bó với văn hóa và truyền thống, không thể nhất đán phá bỏ ngay được.

     Việt Nam thiếu một chiến lược giáo dục. Không thể cứ nhìn ở tầm mức chiến thuật mà sửa sang, đến khi biết sai thì lại điền cái khác vào. Cho đến nay, vẫn chưa có một nền giáo dục Việt Nam được xây dựng trên cơ sở triết lí giáo dục của riêng mình. Xây dựng một nền giáo dục cũng như xây một ngôi nhà, chúng ta cần kiến trúc sư, kĩ sư và những người thợ xây. Thế nhưng, chúng ta thiếu kiến trúc sư. Ở ta, người có quyền chưa hẳn là người kiến trúc sư giỏi ; ngược lại kiến trúc sư giỏi mà không có quyền thế thì nói cũng chẳng ai nghe !

     Giáo dục của ta hiện nay ví như căn nhà không có móng. Chúng ta bận bịu với những hướng giải quyết vấn đề trước mắt, nhưng giáo dục là nhìn về tương lai. Những giải pháp tình thế có khi sẽ là những trở lực cho sự đổi mới trong tương lai" (Dương Thiệu Tống, bài báo dẫn trên).

     Ghi lại những ý kiến trên đây của một nhà giáo dành trọn đời cho sự nghiệp giáo dục, chúng tôi không hề có ý bôi đen bức tranh giáo dục của nước ta, mà chỉ muốn qua đó để hiểu rõ thêm những ý kiến phát biểu dưới đây mà chúng tôi tìm thấy trên một trạm thông tin liên mạng. Trường hợp dưới đây ghi thêm một dấu chấm than vào bức tranh giáo dục có một không hai trên thế giới ở đầu thế kỉ XXI này :

     "Bản tin từ vnn.vn cho biết, theo quyết định mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo kí ngày 23-2-2004, sinh viên hệ chính quy các trường Cao đẳng-Đại học toàn quốc bắt buộc phải thi tốt nghiệp ba môn thuộc các phần : khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ; kiến thức cơ sở của ngành và kiến thức chuyên môn. Các môn học của bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện đang được giảng dạy tại tất cả các trường Đại học, Cao đẳng gồm : triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh. Quyết định này áp dụng cho sinh viên từ khóa tuyển sinh năm 2002 và sẽ có hiệu lực từ ngày 09-3-2004, tức sau 15 ngày kể từ ngày công bố".

     "…Trong bối cảnh của một nền kinh tế thị trường hóa và hội nhập với kinh tế toàn cầu, trong bối cảnh một xã hội đang gấp rút xây dựng một xã hội văn minh và dân chủ, cần đặt câu hỏi một cách nghiêm túc : giáo dục Đại học đào tạo ra những con người như thế nào để thỏa mãn yêu cầu của xã hội và góp phần đẩy mạnh sự vận động đi lên của xã hội ? Những môn học phổ cập bắt buộc với tất cả mọi sinh viên Việt nam phải là những môn như thế nào để thỏa mãn những yêu cầu đó của xã hội ?

     Chúng tôi xin trả lời rằng xã hội Việt Nam, đất nước Việt Nam cần ở những sinh viên tốt nghiệp đại học, ngoài kiến thức chuyên môn của mình, đúng những điều mà các trường đại học ở nước ngoài yêu cầu ở sinh viên của họ. Đó là kiến thức công dân về nhà nước, về quốc gia, về lịch sử. Đó là những kiến thức cơ sở trong việc tiếp nhận và làm quen với kho tàng trí thức nghệ thuật, âm nhạc, của cha ông và của thế giới. Đó là có kiến thức về giao tiếp, trình bày và kĩ năng viết cơ bản. Những điều này càng quan trọng bởi thực trạng đào tạo phổ thông khiến cho việc tiếp cận những kiến thức này ở phổ thông bị hổng hụt.

     Những môn học mà Bộ Giáo dục muốn bắt buộc sinh viên Việt Nam học có thỏa mãn những yêu cầu bức xúc và thiết thực của xã hội không ? Không. Và đây là những lí do cơ bản nhất :

     - Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam : Nội dung chủ yếu của môn học này là liệt kê các quyết định của các kì đại hội Đảng, kể từ khi thành lập. Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.

     - Tư tưởng Hồ Chí Minh : tôi không đủ thẩm quyền để nhận xét nội dung môn học này, nhưng đủ tự tin để phản đối tính chất nền tảng và ích lợi của nó cho mỗi công dân có học của xã hội Việt Nam so với các yêu cầu tối thiểu về hệ thống pháp luật, tổ chức nhà nước và tư tưởng của Hiến pháp.

     - Triết học Mác-Lê : một chủ thuyết triết học, dù có tiến bộ trong những thời điểm nhất định của lịch sử phát triển loài người, chỉ là một trong hàng trăm ngọn đuốc soi con đường đi của nhân loại. Tuyệt đối hóa một chủ thuyết đã được xây dựng cách đây hàng trăm năm, bỏ qua tất cả quá khứ và sự phát triển tiếp theo của nhân loại là một điều điên rồ. Con đường đi của nhân loại có hàng trăm những ngọn đuốc khác mà chỉ bằng cách đặt chúng bên nhau trong sự bổ sung và phản biện lẫn nhau, con người mới tiếp cận đến chân lí. Sùng bái duy nhất một chủ thuyết độc tôn, và nhồi nhét điều đó vào tuổi trẻ là một hành động ngu dân phản tiến bộ mà hậu thế sẽ phải trả giá và lịch sử sẽ phán xét. Huống chi, ở chính những nơi khởi xướng ra những học thuyết ấy, con người và đất nước họ đã vượt qua nó từ lâu, đã biết học lấy những sai lầm, những bài học quí giá từ đó bằng cách đặt nó bên cạnh kho tàng trí thức rộng lớn của nhân loại.

     - Kinh tế chính trị Mác-Lê : dựa trên những quan điểm phân tích kinh tế của Mác trong thời kì xây dựng tư bản. Nó không những đã lạc hậu rất nhiều so với bản thân nền kinh tế thế giới mà còn bất cập và đã được vượt qua từ lâu bởi nền kinh tế Việt Nam.

     - Chủ nghĩa cộng sản khoa học : một khái niệm chưa bao giờ được diễn giải rõ ràng. Một viễn cảnh dựa trên các quan điểm kinh tế và triết học đã không còn ích lợi gì trong việc giải thích và xây dựng xã hội Việt Nam. Nó cũng không ăn nhập gì với tất cả những phương châm vận động của xã hội, thậm chí cả của chính đảng đang lãnh đạo đất nước. Không ai có thể nhìn vào thực trạng của xã hội Việt Nam mà xác định được rằng Việt Nam đang tiến đến chủ nghĩa cộng sản.

     Nội dung của những môn học trên đây liệu có còn một tí ti ứng dụng thực tiễn trong đời sống xã hội Việt Nam hay không, có thể còn cần đến tranh luận công khai, có thể còn tốn giấy bút và trí óc hơn những luận lí trong bài viết này nhiều. Nhưng chính điều đó lại càng làm cho việc đưa những môn học này thành những môn học bắt buộc toàn quốc :

     - là phản tiến bộ về phương diện giáo dục,

     - là đi ngược lại các mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo theo những chuẩn mực quốc tế,

     - là lãng phí thời gian và tiền bạc của quốc gia,

     - là tước bỏ quyền được học những môn học thiết thực, bổ ích khác của sinh viên phục vụ cho yêu cầu xây dựng xã hội và đất nước.

     Việc Bộ giáo dục ra quyết định học bắt buộc với những môn học trên, trong bối cảnh không có bất kì một môn học khác để tham chiếu và so sánh là cố tình quay lưng lại với thực tế xã hội, với các yêu cầu của đất nước" (Quốc Việt, "Về Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 23-2-2004", http://www.talawas.org ngày 02-03-2004).

     Chúng tôi xin mượn lời tác giả để mời gọi bạn đọc hưởng ứng lời kêu gọi của ông : "Xin hãy lên tiếng".

     Hiện tượng giáo dục như trên chỉ là một trong rất nhiều những "chính sách", những "quyết định" của thành phần thư lại mới trong ngành giáo dục ở mọi cấp. Những loại quyết định như vừa nêu lên ở trên kia ra đời không phải do hiểu biết về khoa học giáo dục. Những quan chức thư lại như thế không hiểu rằng họ đang lãng phí quá sức tưởng tượng tiến vốn đầu tư tương lai của xã hội ngày hôm nay. Nếu nhìn giáo dục như là một cuộc đầu tư vốn vào tương lai thì dường như cuộc đầu tư này có quá nhiều bất trắc.

     Để cho ngành giáo dục có được những người quản lí giỏi và đúng, cần có những định hướng đúng của những người hiểu biết về khoa học giáo dục, từ các bộ môn triết lí giáo dục cho đến thiết kế chương trình và nhất là quản lí giáo dục.

Đặng Ứng Hà (London)

  [an error occurred while processing this directive]